CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ngôn ngữ

  • Duyệt theo:
41 Hiện thân trong học và xử lí ngôn ngữ thứ 2 (từ viễn quan nhận thức thần kinh) / Nguyễn Văn Độ // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 25-37 .- 400

Tập trung giới thiệu các kết quả nghiên cứu nổi bật liên quan đến vai trò của sự hiện thân trong học tập và xử lí ngôn ngữ thứ 2 xét từ viễn quan nhận thức thần kinh, được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học, nổi bật là Ana Zappa and Cheryl Frenck-Mestre (2024).

42 Nghĩa biểu hiện của hình ảnh trong diễn ngôn quảng cáo du lịch bang California của Mỹ / Nguyễn Thị Thanh Hà // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 38-47 .- 400

Bài báo nghiên cứu nghĩa biểu hiện của hình ảnh trực quan trong diễn ngôn quảng cáo du lịch bang California trên các trang điện tử chính thống tiếng Anh của Mỹ từ lí thuyết phân tích diễn ngôn đa phương thức. Diễn ngôn quảng cáo du lịch cung cấp thông tin cho du khách và thuyết phục khách du lịch tiềm năng lựa chọn điểm đến du lịch. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc giao tiếp được thực hiện thông qua nhiều phương thức thay vì một phương thức, trong đó các yếu tố ngôn từ, hình ảnh, âm nhạc, âm thanh và màu sắc...đều là những nguồn tạo nghĩa.

43 Đối chiếu chiến lược kiến tạo tiêu đề báo mạng Anh - Việt / Trần Tuấn Anh // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 78-89 .- 400

Phân tích và so sánh các chiến lược kiến tạo tiêu đề trong báo mạng Anh và Việt, thông qua việc xem xét 50 tiêu đề từ báo The New York Times và 50 tiêu đề từ báo VNExpress. Nghiên cứu đã nêu bật được hiệu quả của các chiến lược tiêu đề trong việc thu hút sự chú ý và tương tác của độc giả. Những phát hiện này mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn cho việc cải thiện kĩ năng viết tiêu đề, điều chỉnh nội dung báo chí và đào tạo báo chí, cũng như phát triển chiến lược nội dung truyền thông.

44 So sánh đặc điểm ngôn ngữ trong bản dịch Việt - Anh tác phẩm văn học “cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” / Nguyễn Thị Hồng Hà, Trần Thị Thanh Phương // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 68-77 .- 400

Bài báo này là kết quả nghiên cứu so sánh đặc điểm ngôn ngữ trong bản dịch Việt - Anh tác phẩm “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của tác giả - nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Mục đích của nghiên cứu là nhằm đánh giá chất lượng bản dịch tiếng Anh của tác phẩm này dựa trên sự tương đương về mặt từ vựng, cụ thể là về tính từ. Nghiên cứu chủ yếu thiên về phương pháp định tính để phân tích sâu, tổng hợp và đánh giá tương đương dịch thuật các đặc điểm của tính từ được tác giả sử dụng ở bản gốc, còn thống kê số lượng chỉ mang tính thứ yếu.

45 “Phần tử khoảng trống” trong hai bài thơ tạo sinh “bóng chữ” và “bài thơ thừa một chữ chưa” / Hồ Văn Hải // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 141-148 .- 400

Bài viết hướng đến việc tiếp cận thơ tạo sinh của trào lưu “hậu hiện đại” từ cách thức sáng tạo và sử dụng “yếu tố khoảng trống”. Việc miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của hai bài thơ tiêu biểu trong phong trào “hậu hiện đại” sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những đặc điểm và vai trò của “yếu tố khoảng trống” trong thơ tạo sinh. Bên cạnh đó, bài viết còn giúp hoàn thiện thêm bộ công cụ lí luận nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của việc nghiên cứu thơ Việt từ khía cạnh ngôn ngữ.

46 Đối chiếu nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong diễn ngôn án văn Việt Nam và Vương Quốc Anh / Phạm Thị Thùy Dung, Nguyễn Văn Chính, Phan Tuấn Ly // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 87-95 .- 400

Bài viết nghiên cứu đối chiếu các nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong án văn Việt Nam và Vương quốc Anh. Ngữ liệu gồm 10 bản án phúc thẩm (khoảng 120 trang A4) của Tòa án Việt Nam và Vương quốc Anh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp đối chiếu, đồng thời áp dụng thủ pháp thống kê để kiểm đếm tỉ lệ các chỉ tố siêu diễn ngôn. Kết quả cho thấy án văn tiếng Việt chủ yếu làm nổi bật quan điểm của Tòa án bằng chỉ tố nhấn mạnh, sử dụng chỉ tố thái độ biểu đạt mức độ đồng thuận hoặc bác bỏ. Ngược lại, án văn tiếng Anh thể hiện quan điểm của Tòa án đa dạng hơn, không chỉ qua chỉ tố nhấn mạnh mà còn thông qua chỉ tố rào đón và chỉ tố thái độ.

47 Đối chiếu nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thị Thuý Hồng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 55-59 .- 420

Nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh khá phong phú, đa dạng. Về cấu trúc và cách thức cấu tạo từ mới cũng có nhiều sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ. Bài viết này tập trung vào nghiên cứu đối chiếu cấu tạo và ngữ nghĩa của chúng trong hai ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát số lượng, phân tích cách thức cấu tạo từ và phương thức cấu tạo nghĩa của chúng. Kết quả khảo sát cho thấy số lượng từ ngữ chỉ tính cách trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Nhóm từ chỉ tính cách tích cực trong tiếng Việt luôn nhiều hơn nhóm từ chỉ tính cách tiêu cực trong nhiều phạm vi và nhiều hơn số lượng từ trong tiếng Anh. Về cách thức cấu tạo, tiếng Anh thường dùng tiền tố un-, in-.. tiếng Việt sử dụng nhiều các yếu tố cấu tạo từ như: vô, bất...và dùng yếu tố “tính” + một yếu tố chỉ tính cách riêng. Những sự giống và khác nhau này giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt và người Việt học tiếng Anh nắm được nhóm từ này một cách hệ thống, dễ dàng.

48 So sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô tiếng Anh theo lí thuyết đánh giá / Phạm Thị Phượng, Nguyễn Thị Hằng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 69-76 .- 420

Nghiên cứu này phân tích và so sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô, sử dụng khung lí thuyết Đánh giá do Martin và White (2005) đề xuất. Kết quả phân tích phần kết luận của các bài báo kinh tế viết bằng tiếng Anh trên các tạp chí uy tín cho thấy, các tác giả sử dụng Giọng điệu dị thanh cao, đặc biệt là Trao đổi và Phát biểu để tạo sự gắn kết với người đọc và thể hiện sự tự tin trong lập luận. So sánh giữa phần kết luận trong bài báo kinh tế vĩ mô và bài báo kinh tế vi mô cho thấy sự khác biệt thú vị về tần suất sử dụng một số Giọng điệu. Sự khác biệt này có thể liên quan đến bản chất của từng lĩnh vực và đối tượng độc giả mục tiêu. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về cách thức các tác giả sử dụng Giọng điệu trong giao tiếp khoa học, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố ngữ cảnh khi phân tích Giọng điệu.

49 Ngôn ngữ mạng và xu thế sử dụng tiếng Anh trên mạng (dựa trên cơ sở ngữ liệu tiếng Nga và tiếng Việt) / Ngô Thị Quyên // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 93-102 .- 420

Một trong các biểu hiện của ngôn ngữ mạng là hiện tượng sử dụng tiếng Anh dưới nhiều hình thức khác nhau. Bài báo chứng minh hiện tượng sử dụng tiếng Anh là một xu thế đang diễn ra trên trên mạng tiếng Nga và tiếng Việt. Bên cạnh đó bài báo cũng chỉ ra những điểm khác biệt trong việc sử dụng tiếng Anh trên mạng hai ngôn ngữ đến từ nguyên nhân do sự khác nhau về loại hình và hệ chữ viết.

50 Cách xử lí mục từ liên ngành trong một số công trình từ điển thuật ngữ / Quách Thị Gấm // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 29-36 .- 400

Trong khoa học, bên cạnh tính chuyên biệt, phân hóa theo hướng chuyên sâu thì bất kì ngành khoa học, chuyên môn nào trong quá trình hoạt động của mình cũng không thể không có liên hệ đến một hay nhiều ngành khoa học khác. Điều này đã đưa đến sự pha trộn lẫn nhau giữa các hệ thống khái niệm. Do đó, trong các cuốn từ điển chuyên ngành nói chung, từ điển thuật ngữ nói riêng thường có các mục từ mang tính liên ngành (mục từ tiếp nhận, vay mượn từ các ngành khác). Bài viết này tập trung xem xét cách thu thập, xử lí mục từ và nội dung thông tin của các mục từ liên ngành trong một số cuốn từ điển thuật ngữ. Kết quả khảo sát sẽ góp phần làm sáng rõ những đặc trưng của loại mục từ liên ngành trong từ điển.