CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ngôn ngữ

  • Duyệt theo:
1 Xây dựng chatbot từ điển ngôn ngữ gen Z hỗ trợ giáo dục kĩ năng giao tiếp số cho thanh thiếu niên / Lương Thị Hiền, Phạm Ngọc Minh, Đỗ Minh Trang, Nguyễn An Nguyên // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 5-18 .- 400

Nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ Gen Z Việt Nam trên dữ liệu gồm 1.250 từ và 250 cụm từ được thu thập từ các nền tảng mạng xã hội và giao tiếp thực tế. Các từ ngữ được lập chỉ mục, gán nhãn đặc điểm về ý nghĩa, ngữ cảnh sử dụng, ví dụ và từ ngữ đối dịch tiếng Anh. Với dữ liệu này, bài viết đề xuất giải pháp xây dựng chatbot Từ điển ngôn ngữ Gen Z trên nền tảng Coze AI nhằm hỗ trợ giáo dục kĩ năng giao tiếp số cho thanh thiếu niên.

2 Một số vấn đề về thanh điệu trong các ngôn ngữ / Lê Thanh Hoà // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 27-35 .- 400

Thanh điệu là một đơn vị âm vị siêu đoạn tính, vừa có chức năng từ vựng, vừa có thể có chức năng ngữ pháp. Số thanh của một ngôn ngữ cần được xem xét trong cùng một môi trường đồng nhất, và các thanh khác nhau có thể xác lập được các đơn vị khác nghĩa nhau. Tuỳ theo đặc điểm của Thanh điệu mà sử dụng một trong hai bộ kí hiệu IPA phù hợp. Bên cạnh hai bộ kí hiệu IPA (2020), cách miêu tả Thanh điệu bằng các số rất có ý nghĩa trong nghiên cứu ngữ âm học khí cụ, đặc biệt đối với NNÂĐ.

3 Qua, sang trong tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian / Lê Thị Cẩm Vân // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 45-55 .- 400

Trong tiếng Việt, có những trường hợp qua có thể thay thế cho sang và ngược lại. Tuy vậy giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt. Bài báo này hướng đến làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau giữa qua và sang trong tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian, tập trung vào các bình diện cấu trúc tham tố, phối cảnh chuyển động, quy chiếu, sự chuyển khung từ không gian sang thời gian của các từ hữu quan. Những điểm khác nhau được chỉ ra giúp làm sáng tỏ vì sao qua và sang cùng tồn tại dù điểm giống nhau giữa chúng là rất lớn.

4 Phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời của người Mỹ / Vương Thị Hải Yến, Nguyễn Thanh Ly // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 181-188 .- 420

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào các công thức biểu đạt hành vi lời nói từ chối lời mời gián tiếp của người Mỹ thu được trong 291 đoạn hội thoại từ chối gián tiếp trong tổng số 720 đoạn hội thoại từ chối mà tác giả thu thập được từ 35 tác phẩm văn học Mỹ và một số bộ phim Mỹ phát sóng trên truyền hình Việt Nam. Bài viết mong muốn giúp người đọc hiểu hơn về phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời có trong các chiến lược từ chối gián tiếp được người Mỹ ưa sử dụng, từ đó giúp cho người học tiếng Anh nâng cao hiệu quả trong quá trình giao tiếp, tránh những xung đột, những “cú sốc văn hóa”.

5 Nghĩa của các từ: động viên, khích lệ, cổ động, cổ vũ / Vũ Thị Sao Chi, Nguyễn Đức Tồn // .- 2024 .- Số 342 - Tháng 7 .- Tr. 196-199 .- 400

Bài viết này sẽ sử dụng phương pháp phân tích thành tố để phân tích nghĩa được sử dụng hiện nay trong tiếng Việt của các động từ đã nêu dựa theo cấu trúc tham tố nghĩa của chúng. Có thể nêu cấu trúc tham tố chung ở dạng đầy đủ của nghĩa các động từ động viên, khích lệ, cổ động, cổ vũ như sau: “chủ thể (X)/ Thúc đẩy/ trạng thái tâm lí - tinh thần (T)/ của đối tượng (Y)/ bằng phương tiện (P)/ trong hoạt động (H)”.

6 Ngôn ngữ đánh giá “thái độ” trong các bài bình luận về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động / Trương Thị Mỹ Hậu, Bùi Thị Thúy Hằng // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 21-31 .- 400

Nghiên cứu này ứng dụng lí thuyết đánh giá để nhận diện và phân tích đánh giá Thái độ (bao gồm Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá) của các tác giả trong các bài bình luận trên báo Nhân dân về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động ở thời điểm dịch bệnh Covid-19 hoành hành. Kết quả nghiên cứu ghi nhận được sự xuất hiện của tất cả các loại giá giá trị Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực. Chủ thể đánh giá ở các loại giá trị cũng đa dạng, bao gồm: tác giả và phi tác giả.

7 Khẩu ngữ tự nhiên trong “tuyển tập Nam Cao” / Nguyễn Mạnh Tiến, Vương Lệ Linh Hằng // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 113-120 .- 400

Bài viết khảo sát cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao nhằm làm rõ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Bài viết đề cập cách sử dụng hai loại phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao: cách sử dụng các từ ngữ (từ xưng hô, vị từ, phó từ, trợ từ, các từ được tạo ra từ sự biến đổi ngữ âm của từ đa phong cách, quán ngữ, thành ngữ) và cách sử dụng các kiểu câu lặp thành phần (câu lặp chủ ngữ, câu lặp vị ngữ, câu lặp bổ ngữ), những câu mở đầu bằng hư từ (mà, thì), câu mở đầu bằng từ ấy.

8 Phương án trình bày biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng trong giáo trình tiếng Hàn / Lê Thu Phương, Ngô Thị Vân Anh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 103-111 .- 495.7

Nghiên cứu này cho rằng, việc giảng dạy các biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng nên được thực hiện trong thực tế tại các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao năng lực ngữ pháp và khả năng tiếng Hàn của người học. Dựa trên phân tích về hình thức và chức năng của các biểu hiện bị động đã được đề cập trước đó, cũng như nội dung kiểm tra giáo trình tiếng Hàn, người viết đề xuất các phương án bổ sung nội dung biểu hiện bị động trong giáo trình tiếng Hàn.

9 Nghịch ngữ tu từ trong thơ hàn mặc tử / Bùi Thanh Hoa, Nguyễn Ngọc Mai // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 120-124 .- 400

Nghiên cứu biện pháp tu từ nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử trên phương diện cấu tạo và giá trị. Nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử có ba kiểu cấu tạo là: cặp từ, cặp cụm từ và mệnh đề. Nhà thơ sử dụng nghịch ngữ để biểu đạt những mâu thuẫn, nghịch lí của cuộc sống con người, đồng thời thể hiện những suy tư cá nhân về cuộc đời và bản thể. Nghịch ngữ thể hiện một chân dung Hàn Mặc Tử với tâm hồn yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, là người có khát vọng sống mãnh liệt.

10 Cấu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer (có so sánh tiếng Việt) / Thạch Văn Việt, Lý Thị Xuân Ánh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 125-132 .- 400

Câu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer là một đề tài tương đối mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam. Cấu trúc chủ - vị gồm hai thành phần: chủ ngữ và vị ngữ. Chúng là hai thành phần chính tạo nên nòng cốt câu và hình thành nhiều loại câu khác nhau xét theo câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp như câu đơn, câu ghép và câu phức. Câu tiếng Khmer có nhiều loại câu khác nhau nhưng giữa các câu có điểm chung là được tạo nên từ cụm chủ - vị. Điều đáng chú ý là, cấu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer có những điểm tương đồng với cấu trúc chủ - vị trong tiếng Việt.