CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Tiếng Hàn
1 So sánh chất lượng bản dịch Việt - Hàn giữa AI dịch và con người dịch ở thể loại văn bản báo chí / Nghiêm Thị Thu Hương // .- 2026 .- Số 2(378) .- Tr. 81-94 .- 495.7
Nghiên cứu đặt mục tiêu so sánh chất lượng bản dịch văn bản báo chí tiếng Việt sang tiếng Hàn, giữa trí tuệ nhân tạo (AI) và người dịch. Câu hỏi đặt ra là liệu AI đã đạt chất lượng tương đương hoặc vượt trội so với người dịch trong thể loại văn bản đặc thù này hay không? Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng: 6 bài báo tiếng Việt lần lượt được dịch bằng AI, được 5 người biên phiên dịch trong các cơ quan, tổ chức của Hàn Quốc, sau đó được 3 giảng viên người Hàn Quốc đánh giá và so sánh.
2 Nghĩa của từ “머리” trong tiếng Hàn (qua lời giải thích của các từ điển) / Nguyễn Thị Thanh Hoa // .- 2025 .- Số 9(372) .- Tr. 130-141 .- 495.7
Nghiên cứu này khảo sát các nghĩa từ điển của từ “머리 (meori) - đầu” dựa trên ba từ điển tiếng Hàn: Từ điển Quốc ngữ Chuẩn, Từ điển Yonsei, và Từ điển Đại học Korea, trên cơ sở lí thuyết về nghĩa từ, sự chuyển nghĩa và nghĩa từ điển. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc giảng dạy từ vựng tiếng Hàn, đặc biệt trong bối cảnh tiếng Hàn được học như một ngoại ngữ.
3 Đánh giá và phân loại lỗi sử dụng trợ từ tiếng Hàn của người học Việt Nam (trình độ sơ cấp) / Nguyễn Thị Vân // .- 2025 .- Số 6a(368) .- Tr. 132-138 .- 495.7
Phân tích các lỗi sử dụng trợ từ, một trong những phần quan trọng nhất của tiếng Hàn, của người học tiếng Việt. Đặc biệt, do tiếng Việt khác biệt về mặt ngữ pháp, nên khi người Việt học tiếng Hàn thường gặp nhiều khó khăn và nhầm lẫn khi sử dụng trợ từ. Bài viết khảo sát, phân tích đánh giá và phân loại các lỗi thường gặp của người học, bao gồm các loại lỗi thay thế, lược bỏ hoặc thêm trợ từ, và lỗi về hình thái của trợ từ.
4 Đối chiếu câu trích dẫn trong văn bản báo chí Hàn - Việt (qua khảo sát bản tin chính trị) / Lã Thị Thanh Mai, Lê Hải Yến // .- 2025 .- Số 7(370) .- Tr. 64-71 .- 495.7
Bài viết này đối chiếu câu trích dẫn trong tin tức báo chí tiếng Hàn và tiếng Việt, ngữ liệu khảo sát là các bản tin chính trị trên trang báo điện tử Chosun Ilbo của Hàn Quốc và trang Dân trí của Việt Nam. Nội dung nghiên cứu nhằm chỉ ra điểm giống và khác nhau về xu hướng sử dụng câu trích dẫn trực tiếp và gián tiếp, hình thức, cách ghi nguồn và động từ nói năng.
5 So sánh ẩn dụ “làn sóng” và “Hallyu” trong truyền thông báo chí Việt Nam - Hàn Quốc / Nguyễn Thị Tuyết Mai // .- 2025 .- Số 7(370) .- Tr. 72-78 .- 495.7
Phân tích và so sánh ẩn dụ “làn sóng” trong báo chí Việt Nam và “Hallyu” trong báo chí Hàn Quốc dựa trên phương pháp định tính và lí thuyết ẩn dụ ý niệm (Lakoff & Johnson, 1980). Nghiên cứu tập trung phân tích bản chất ẩn dụ, sự khác biệt trong cách tri nhận và ý nghĩa văn hóa hàm chứa bên trong. Qua việc phân tích đối chiếu, bài viết góp phần làm sáng tỏ sự khác biệt trong tư duy văn hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, đồng thời cung cấp cơ sở ngôn ngữ cho hoạt động dịch thuật và truyền thông liên văn hóa.
6 Phát triển năng lực ngôn ngữ tiếng Hàn thông qua hoạt động đánh giá trình diễn / Nguyễn Thị Thanh Lan // .- 2025 .- Số 7(370) .- Tr. 89-96 .- 495.7
Cung cấp những hiểu biết thực tiễn về hiệu quả của hình thức đánh giá trình diễn thông qua hoạt động làm poster trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ. Đồng thời, nghiên cứu cũng đóng góp vào việc mở rộng và cải thiện các phương pháp kiểm tra đánh giá trong giảng dạy ngôn ngữ, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ.
7 Đối chiếu từ đa nghĩa “손 ” trong tiếng Hàn và từ “tay” trong tiếng Việt / Nguyễn Thúy Hằng // .- 2025 .- Số 7(370) .- Tr. 97-104 .- 495.7
Làm rõ nghĩa của từ “tay” trong tiếng Việt và “손 ” trong tiếng Hàn. So sánh các nghĩa của từ “tay” trong tiếng Việt và tiếng Hàn; từ đó, làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt. Đề xuất ứng dụng thực tiễn trong dạy và học tiếng Hàn, trong giao tiếp liên văn hóa Việt-Hàn.
8 Sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng / Hoàng Phan Thanh Nga // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 94-102 .- 495.7
Sự hình thành của các ý niệm này không phải là ngẫu nhiên và rập khuôn theo một nguyên tắc ngôn ngữ học nào đó mà nó đến từ sự trải nghiệm trong dòng chảy biến đổi của thời gian, tập quán xã hội và các yếu tố văn hóa dẫn đến sự tri nhận của người nói ngôn ngữ đó về các hiện tượng của cuộc sống. Trong bài viết này, tác giả phân tích sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng (idealized cognitive models - ICMs), từ đó xác lập nên cơ sở để lí giải một số hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn.
9 Phương thức biểu đạt tính lịch sự trong hành động ngôn từ nhờ vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam (từ tư liệu thư điện tử/email) / Thân Thị Thúy Hiền // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 24-32 .- 495.7
Tự thân hành động ngôn từ nhờ vả có thể gây tổn thương thể diện của đối phương nên việc sử dụng hành động ngôn từ này của người bản ngữ cũng là cả một vấn đề. Nó đòi hỏi người nói cần phải sử dụng các chiến lược khác nhau để giảm thiểu đe dọa thể diện của đối tượng giao tiếp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cách biểu đạt tính lịch sự trong HĐNT nhờ vả vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam học tiếng Hàn.
10 Phương án trình bày biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng trong giáo trình tiếng Hàn / Lê Thu Phương, Ngô Thị Vân Anh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 103-111 .- 495.7
Nghiên cứu này cho rằng, việc giảng dạy các biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng nên được thực hiện trong thực tế tại các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao năng lực ngữ pháp và khả năng tiếng Hàn của người học. Dựa trên phân tích về hình thức và chức năng của các biểu hiện bị động đã được đề cập trước đó, cũng như nội dung kiểm tra giáo trình tiếng Hàn, người viết đề xuất các phương án bổ sung nội dung biểu hiện bị động trong giáo trình tiếng Hàn.





