CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đáp ứng di truyền học phân tử sâu trên người bệnh bạch cầu mạn dòng tủy kháng hoặc không dung nạp imatinib được điều trị / Nguyễn Thị Kim Ngân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 349 - 356 .- 610

Imatinib mesylate (IM) là thuốc ức chế tyrosin kinase (tyrosine kinase inhibitors-TKIs) thế hệ đầu tiên đã chứng minh được hiệu quả điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT). Tuy nhiên, khoảng 27% người bệnh (NB) đã xuất hiện đề kháng với IM sau một thời gian sử dụng. Tỷ lệ NB không dung nạp IM phải ngưng thuốc mặc dù có thấp hơn nhưng cũng gây một khó khăn không nhỏ trong quá trình điều trị. Những NB đề kháng hay không dung nạp này có rất nhiều nguy cơ tiến triển sang những giai đoạn sau nặng nề và khó kiểm soát hơn 1. Hướng dẫn của Mạng lưới bệnh bạch cầu Châu Âu (The European LeukemiaNet-ELN) đã khuyến cáo ưu tiên chuyển sang TKIs thế hệ 2 ở NB đã kháng hoặc không dung nạp với IM càng sớm càng tốt nhằm kiểm soát tình trạng bệnh. Sự lựa chọn TKIs nào còn phụ thuộc vào sự hiện diện của đột biến kháng thuốc2. Nilotinib là TKIs thế hệ 2 được FDA chấp thuận điều trị bước 2 cho NB kháng hoặc không dung nạp IM. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy nhiều kết quả khả quan khi chuyển điều trị Nilotinib trên nhóm NB này. Đánh giá đáp ứng di truyền học phân tử (DTHPT) sâu (deep molecular response-DMR) có vai trò quan trọng liên quan đến lui bệnh không cần điều trị (treatment-free remission - TFR), thời gian sống toàn bộ (overall survival- OS), sống thêm không tiến triển (progressionfree survival-PFS), sống thêm không biến cố (event-free survival-EFS).

2 Đánh giá hiệu quả của phác đồ hóa trị kết hợp Epirubicin và nhóm Taxanes trong điều trị hóa trị tân bổ trợ ung thư vú giai đoạn III có thụ thể HER2 dương tính / Nguyễn Đức Toàn, Võ Ngọc Huân, Hứa Hoàng Tiến Lộc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 102 - 109 .- 610

Tiến hành hồi cứu 47 trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú giai đoạn III có biểu hiện HER2 dương tính và được điều trị tân bổ trợ với phác đồ ET, với mục tiêu ghi nhận tỷ lệ đáp ứng chung trên lâm sàng (ORR), tỷ lệ đạt được pCR sau hóa trị và những độc tính ghi nhận được trong quá trình điều trị với phác đồ này. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được tỷ lệ ORR đạt 87.23% và tỷ lệ bệnh nhân đạt được pCR là 10.63%. Theo ghi nhận, phần lớn bệnh nhân (63.83%) được điều trị với Paclitaxel là thuốc được lựa chọn đối với nhóm Taxane. Đối với nhóm bệnh nhân sử dụng Docetaxel thì việc phối hợp thêm với G-CSF cao hơn đáng kể khi so với nhóm sử dụng Paclitaxel (p = 0.004), tuy nhiên độc tính độ 3 - 4 liên quan đến giảm bạch cầu thì không có sự khác biệt giữa 2 nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi. Đối với độc tính hệ huyết học, các độc tính thương gặp nhất là giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt và sốt giảm bạch cầu, độc tính huyết học độ 3 - 4 chiếm 28.20% các độc tính ghi nhận được và không có ghi nhận tử vong trong quá trình điều trị. Đối với độc tính ngoài hệ huyết học, đại đa số các độc tính ghi nhận ở mức độ nhẹ (độ 1 - 2) với tăng men gan, nôn ói và rối loạn thần kinh ngoại vi là những tác dụng phụ thường gặp nhất. Kết luận: Hóa trị tân bổ trợ với phác đồ ET đối với bệnh nhân ung thư vú giai đoạn III có HER2 dương tính là một phương pháp thay thế có thể cân nhắc sử dụng bởi tỷ lệ đáp ứng lâm sàng cao. Tuy nhiên khi so sánh với những thuốc thuộc nhóm kháng HER2 thì tỷ lệ đạt được pCR còn rất khiêm tốn. Việc lựa chọn điều trị bằng phác đồ ET trong trường hợp này cần được cân nhắc và bàn bạc kỹ lượng với bệnh nhân. Độc tính nặng ghi nhận trong quá trình điều trị chủ yếu liên quan đến giảm bạch cầu, các biến chứng này có thể được dự phòng bằng G-CSF và cũng cần theo dõi sát trong quá trình điều trị.

3 Ảnh hưởng của các chỉ số huyết học trước gạn tách đến quá trình gạn tách và chất lượng khối tiểu cầu trên hệ thống có lọc bạch cầu và bù dịch tại trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy / Lê Thị Thu Hà, Võ Nguyên Trung, Phạm Lê Nhật Minh, Vũ Trần Duy, Võ Quốc Việt, Nguyễn Việt Hải, Trần Minh Nhi, Bùi Lê Thảo Như, Trần Thanh Tùng, Võ Đình Lộc, Nguyễn Hoành Cường, Lê Hoàng Oanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 216 - 226 .- 610

Khảo sát các chỉ số huyết học (CSHH) trước tách của người hiến tiểu cầu (NHTC) trên hệ thống có lọc bạch cầu và bù dịch (AmiCORE). Khảo sát ảnh hưởng của các CSHH trước tách đến các thông số trong quá trình gạn tách và chất lượng khối tiểu cầu (KTC) thu được trên hệ thống gạn tách có lọc bạch cầu và bù dịch. Đối tượng và phương pháp: 134 NHTC trên hệ thống AmiCORE (500ml) từ tháng 11/2022 – 05/2023 tại Trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy. Các CSHH được đo bằng hệ thống phân tích huyết học Beckman Coulter và chế phẩm KTC được sản xuất bằng máy gạn tách tiểu cầu AmiCORE. Kết quả: Có mối tương quan thuận yếu giữa Hematocrit (HCT) trước tách và thời gian tách, (r=0,189, p<0,05). Có mối tương quan thuận trung bình giữa HCT trước tách và thể tích máu xử lý, lượng ACD dùng (r=0,316, 0,308 và p<0,001). Platelet (PLT) trước tách có mối tương quan nghịch mạnh với thể tích máu xử lý, lượng Anticoagulant Citrate Dextrose (ACD) dùng, (r = -0,889, -0,876 và p<0,001). Có mối tương quan nghịch trung bình giữa PLT trước tách và thời gian tách, (r = -0,583, p<0,001). Mean Corpuscular Volume (MCV) trước tách có mối tương quan nghịch yếu với lượng NaCl sử dụng, (r = -0,219, p<0,001). Tỷ lệ KTC đạt tiêu chuẩn chất lượng (TCCL) ở nữ giới bằng 0,85 lần so với nam giới. Tỷ lệ KTC đạt TCCL ở nhóm HCT trên 46% bằng 1,09 lần so với nhóm HCT từ 38% - 46%. Có sự khác biệt giữa các nhóm HCT trước tách và Collection efficiency (CE), giữa các nhóm PLT trước tách và Collection rate (CR), (p<0,05). Kết luận: Có mối tương quan thuận giữa HCT và thời gian tách, thể tích máu xử lý, lượng ACD dùng. Ngược lại, có mối tương quan nghịch mạnh giữa PLT trước tách và thể tích máu xử lý, lượng ACD dùng. Có mối tương quan nghịch yếu giữa MCV và lượng NaCl sử dụng. Các yếu tố liên quan với tỷ lệ KTC đạt TCCL là giới tính, HCT. Nhóm NHTC có HCT từ 38-46% và PLT trên 350x109/L có CE và CR cao hơn. Nhóm NHTC có chỉ số PLT, MCV cao hơn và HCT thấp hơn có thể có hiệu suất gạn tách tốt hơn trên hệ thống AmiCORE.

4 Chất lượng khối tế bào gốc máu ngoại vi sau bảo quản đông lạnh tại Ngân hàng tế bào gốc - Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2014 – 2023 / Đỗ Quang Linh, Nguyễn Bá Khanh, Lê Xuân Thịnh, Trần Ngọc Quế, Nguyễn Hà Thanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- .- 610

Đánh giá chất lượng của khối tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi sau rã đông tại Ngân hàng Tế bào gốc – Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2014-2023. Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi lựa chọn 21 mẫu TBG máu ngoại vi được rã đông sau bảo quản đông lạnh không còn chỉ định ứng dụng lâm sàng được lưu trữ tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương từ 2014-2020. Kết quả: Đánh giá 21 đơn vị TBG máu ngoại sau rã đông, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ đối tượng người hiến là nam giới chiếm 85,70%. Khối TBG sau rã đông có tỷ lệ sống của tế bào đánh giá bằng phương pháp Xanhtrypan đạt 70,00%, tỷ lệ sống của tế bào CD34+ đạt 78,20%, tỷ lệ phục hồi tế bào CD34+ đạt 84,52%. Tất cả các mẫu đều còn nguyên vẹn sau quá trình lưu trữ và có tạo cụm sau nuôi cấy tế bào. Tỷ lệ sống của tế bào CD34+ và tỷ lệ phục hồi của tế bào CD34+ đều có xu hướng giảm dần theo số năm bảo quản. Kết luận: Quá trình đánh giá chất lượng mẫu TBG máu ngoại vi sau rã đông được bảo quản tại Ngân hàng Tế bào gốc cho kết quả tốt, phù hợp để sử dụng cho bệnh nhân.

5 Bước đầu đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp tế tế bào đơn nhân tủy xương tự thân ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não  / Lý Tuấn Khải, Nguyễn Văn Tuyến, Lê Chi Viện, Nguyễn Thúy Nga, Trương Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Gia Vũ, Nguyễn Phi Song, Hồ Xuân Trường(1), Lê Thị Thu Huyền, Chử Thị Thu Hường // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 283 - 291 .- 610

Bước đầu đánh giá hiệu quả của liệu pháp dùng khối tế bào đơn nhân tủy xương ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não. Đối tượng và phương pháp: 92 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não từ 7 - 30 ngày được chia thành 2 nhóm: nhóm chứng 30 bệnh nhân; nhóm nghiên cứu 62 bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân nghiên cứu được chọc hút khoảng 240ml dịch tủy xương từ mào chậu, chống đông bằng 60ml dung dịch heparin, thực hiện quy trình chiết tách và cô đặc giảm thể tích bằng phương pháp ly tâm theo gradient tỷ trọng, thu được 30ml khối tế bào đơn nhân tủy xương. Khối tế bào đơn nhân sẽ được sử dụng lại cho chính bệnh nhân theo đường tĩnh mạch (Nhóm TM: 31 bệnh nhân) và qua đường can thiệp nội mạch (Nhóm ĐM: 31 bệnh nhân). Tính an toàn sẽ được đánh giá ở thời điểm trong vòng 7 ngày sau khi dụng đến khối tế bào đơn nhân tủy xương. Hiệu quả được đánh giá qua các thang điểm NIHSS, BI ở ngày thứ 30. Kết quả: Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu nhóm TM 59,5±8,9 tuổi, Nhóm ĐM 58,0 ± 9,6, trong các nhóm Nam giới đều chiếu tỉ lệ cao. Số lượng tế bào có nhân trong khối tế bào đơn nhân tủy xương tự thân là 27,27±15,69G/L với 73,71±18,52% đơn nhân, không có sự khác biệt về các chỉ số tế bào trong khối tế bào ở nhóm TM và nhóm ĐM. Trong vòng 7 ngày đầu sau khi sử dụng tế bào đơn nhân tủy xương chỉ ghi nhận một số trường hợp sốt và không ghi nhận thêm biến cố bất lợi nào khác. Sau 30 ngày thang điểm NIHSS và BI ở nhóm ĐM cải thiện có ý nghĩa thống kê hơn so với nhóm chứng và trước điều trị; Nhóm TM ghi nhận sự cải thiện 2 thang điểm trên so với trước điều trị và cải thiện thang điểm NIHSS so với nhóm chứng. Kết luận: Bước đầu đánh giá liệu pháp sử dụng tế bào đơn nhân tủy xương tự thân ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não là an toàn và có cải thiện lâm sàng ở một số thang điểm như NIHSS và BI.

6 Đánh giá hiệu quả điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài trên trẻ em mắc bệnh bạch cầu cấp dòng / Lê Quang Hoàng, Phù Chí Dũng, Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Hạnh Thư, Nguyễn Thế Quang Cai Thị Thu Ngân, Võ Thị Thanh Trúc, Huỳnh Nghĩa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- .- 610

Đánh giá hiệu quả điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài trên bệnh nhi mắc bệnh bạch cầu cấp dòng lympho. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu hàng loạt trường hợp trẻ em bạch cầu cấp dòng lympho được điều trị bằng phương pháp ghép tế bào gốc taọ máu đồng loài tại Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học từ năm 2012-2023. Kết quả: Có 14 trường hợp bệnh nhi mắc bạch cầu cấp dòng lympho được điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài. Tất cả các bệnh nhân đều đạt lui bệnh trước ghép. Tỉ lệ hồi phục bạch cầu hạt tích lũy tại ngày thứ 30 trong nghiên cứu là 93% với khoảng tin cậy 95% (59,1 – 99), tỉ lệ hồi phục tiểu cầu tích lũy trong nghiên cứu là 78,5% với khoảng tin cậy 95% (47,2 – 92,5).Tác dụng phụ chủ yếu là sốt giảm bạch cầu hạt, nhiễm trùng và tái hoạt CMV. Cho tới thời điểm hiện tại, 10/14 người bệnh tử vong, 4/14 người bệnh còn sống và tất cả các trường hợp này đều lui bệnh hoàn toàn sau ghép. Kết luận: Ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài là liệu pháp điều trị có khả năng chữa khỏi bệnh cho người bệnh nhưng vẫn mang nhiều thách thức ở thời điểm hiện tại.

7 Kết quả bước đầu điều trị nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 trên bệnh nhân ung thư vú de novo thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính tại Bệnh viện K / Nguyễn Thị Lan, Lê Thanh Đức, Lê Thị Yến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 110 - 118 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như đánh giá hiệu quả của điều trị nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 trên bệnh nhân ung thư vú de novo (ung thư vú giai đoạn IV) thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú de novo thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính tại Bệnh viện K từ tháng 01/2020 tới tháng 02/2024. Kết quả: Tuổi trung bình ở thời điểm chẩn đoán là 56,0 tuổi. Các vị trí di căn thường gặp trong nghiên cứu lần lượt là xương, hạch, phổi và gan chiếm tỷ suất 70,8%, 41,7%, 35,4% và 25%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đáp ứng chung của phác đồ là 77,1%. Trong đó tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 2,1%, tỷ lệ đáp ứng một phần là 75% và 10,4% bệnh nhân đạt bệnh giữ nguyên, như vậy lợi ích lâm sàng đạt được là 87,5%. Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là 26 tháng. Kết luận: Điều trị nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 trên nhóm bệnh nhân ung thư vú de novo thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính cho tỷ lệ kiểm soát bệnh, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển cao. Do vậy phác đồ có thể được sử dụng rộng rãi hơn trong thực hành lâm sàng.

8 Giá trị của sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt / Châu Đức Toàn, Võ Duy Phi Vũ, , Nguyễn Việt Dũng, Đặng Thanh Hào, Nguyễn Trương Đức Hoàng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 48 - 55 .- 610

Xác định độ an toàn và giá trị của sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 102 bệnh nhân được chẩn đoán bướu tuyến bọt, có chỉ định sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm và được phẫu thuật tại khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 3/2023 đến tháng 3/2024. Kết quả: Chúng tôi thu nhận được 102 bệnh nhân, tuổi trung bình là 53,5 (17 – 83 tuổi). Bướu tuyến mang tai chiếm đa số 90,2%; bướu tuyến dưới hàm chiếm 9,8%; không có trường hợp nào bướu tuyến dưới lưỡi. 100% trường hợp được thực hiện sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trước mổ, tỉ lệ không đủ mô bệnh phẩm chiếm 2,9%. Kết quả mô bệnh học sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm: bướu hỗn hợp chiếm đa số 41,4%; bướu Warthin chiếm 31,4%; bướu ác tính 15,1% và bướu lành tính khác 12,1%. Sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm chẩn đoán bướu ác tính với độ nhạy 93,3%; độ đặc hiệu 98,8%; chẩn đoán chính xác loại mô học 85,7% và độ biệt hóa là 28,6%. Tỉ lệ phẫu thuật là 100%. Không ghi nhận bất kỳ biến chứng cấp tính sau thủ thuật (tụ máu, biến chứng liệt thần kinh VII, biến chứng dò nước bọt). Kết luận: Sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm là một phương pháp chẩn đoán có giá trị với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm rất cao, đồng thời là thủ thuật rất an toàn với tỉ lệ biến chứng cấp tính thấp trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt.

9 Đánh giá kết quả phác đồ hóa trị tân bổ trợ phối hợp hóa xạ trị đồng thời ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An / Thái Đình Hiếu, Nguyễn Viết Bình, Hoàng Thị Diệp // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 61 - 71 .- 610

Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị và một số tác dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị tân bổ trợ kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc tiến hành trên 39 người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật điều trị hóa chất tân bổ trợ phác đồ Docetaxel - Cisplatin - 5Flourouracil (TCF) sau đó hóa xạ trị đồng thời với Carboplatin AUC 1.5 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ an từ tháng 01/2018 đến tháng 8/2023. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 56,1 ± 5,71; 100% nam giới; giai đoạn IV chiếm phần lớn (80,7 %); tỉ lệ đáp ứng toàn bộ 76,9%; tỉ lệ kiểm soát bệnh 94,9%; trung vị thời gian PFS là 8,5 ± 0,98 tháng; trung vị thời gian sống còn toàn bộ là 18 ± 3,4 tháng. Độc tính: Độc tính thường gặp là hạ bạch cầu, trong đó hạ bạch cầu độ 3 chiếm 25,6% và hạ độ 4 chiếm 17,9%. Độc tính khác đều ở mức độ nhẹ và hồi phục khi ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ hóa trị tân bổ trợ TCF kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật có tỉ lệ đáp ứng cao, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và sống còn toàn bộ dài, độc tính phác đồ dung nạp tốt, do đó có thể lựa chọn điều trị bước 1 cho các trường hợp UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật cần bảo tồn thanh quản.

10 Ứng dụng vạt đảo mũi má cuống trên tái tạo khuyết hổng vùng mặt / Đỗ Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Xuân Trực, Đặng Thanh Hào, Nguyễn Đăng Khoa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 23 - 31 .- 610

Đánh giá hiệu quả của vạt đảo mũi má cuống trên tái tạo khuyết hổng trong phẫu thuật ung thư da mặt. Phương pháp: Mô tả loạt ca ung thư da mặt được điều trị bằng phẫu thuật tận gốc, tái tạo khuyết hổng bằng vạt đảo mũi má cuống trên từ 01/2022 đến 8/2024 tại Khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 7/2024, chúng tôi đã thực hiện 31 ca phẫu thuật tái tạo vùng mặt sử dụng vạt đảo mũi má cuống trên. Tỉ số nam/nữ là 10/21. Tuổi trung bình là 66 ± 1,8 (62 - 69tuổi); Xếp giai đoạn T1 có 5 trường hợp, T2 có 20 trường hợp, T3 có 5 trường hợp, T4 có 1 trường hợp. Kết quả giải phẫu bệnh - mô học sau mổ với 90,3% carcinôm tế bào đáy và 9,7% carcinôm tế bào gai, 90,3% trường hợp có diện cắt âm tính. Thời gian theo dõi trung bình là 12 tháng và không có trường hợp nào tái phát. Diện tích khuyết hổng trung bình là 11 ± 1,1cm2. Diện tích vạt trung bình là 20,3 ± 2cm2 với diện tích nhỏ nhất là 16,3cm2 và lớn nhất là 24,3cm2. Kết quả thẩm mỹ rất tốt đạt 45,2%, tốt đạt 35,5%, trung bình đạt 16,1% và xấu là 3,2%. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình khuyết hổng bằng vạt đảo mũi má cuống trên sau phẫu thuật ung thư da vùng mặt là một trong những lựa chọn giúp tạo hình tốt khuyết hổng tại chỗ, đảm bảo thẩm mỹ, thời gian phục hồi nhanh, không cần phẫu thuật thì hai.