CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
1 Đặc điểm chữ Hán đa âm và một số vấn đề liên quan đến dịch thuật: Trường hợp chữ “单” / Vũ Thị Huế // .- 2025 .- Số 10 .- Tr.135-141 .- 400
Bài viết tập trung nghiên cứu trường hợp chữ 单 - một chữ Hán đa âm điển hình với ba âm Hán Việt (đan, thiện, thiền) và những lỗi dịch phổ biến khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, đặc biệt trong các danh từ riêng chỉ họ. Trên cơ sở lý luận cơ bản về chữ Hán đa âm, phân tích cội nguồn hình thành chữ Hán đa âm, phân loại, đặc điểm, lỗi sai khi dịch, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm giúp người học giảm thiểu những lỗi sai cơ bản trong quá trình dịch thuật.
2 Chữ viết tiếng Ve / Bùi Đăng Bình // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 142-152 .- 400
Ve là tên tự gọi (autonym) của một nhóm dân tộc thiểu số sinh sống tại xã miền núi Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng. Dân số của nhóm này có hơn 2.000 người nói bản ngữ, và ngôn ngữ của họ thuộc họ ngôn ngữ Bahnaric. Trong bài báo này, một hệ thống chữ viết cho tiếng Ve được xây dựng dựa trên chữ quốc ngữ tiếng Việt, có bổ sung thêm hai chữ cái j và w. Nghiên cứu trước hết phân tích khái niệm “chữ viết” và mô tả bản chất của các hệ thống chữ viết trên thế giới trong tiến trình lịch sử.
3 Hệ thống thanh điệu tiếng Tống ở Việt Nam / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 3-9 .- 400
Ở Việt Nam, tiếng Tống là ngôn ngữ duy nhất thuộc tiểu nhánh Kam – Sui, nhánh Kam - Tai, ngữ hệ Tai – Kadai. Ngôn ngữ này có số lượng người nói rất ít và có nguy cơ tiêu vong cao. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cấu trúc tiếng Tống ở Việt Nam. Bài viết này miêu tả thanh điệu tiếng Tống trên bình diện đồng đại và lịch đại, trong đó có sử dụng phần mềm Praat để làm rõ một số đặc điểm âm học của thanh điệu tiếng Tống. Trên bình diện lịch đại, bài viết cũng sử dụng phương pháp so sánh lịch sử để chỉ ra xu hướng biến đổi của hệ thống thanh điệu từ Proto Kam – Sui đến tiếng Tống.
4 “Tiêu điểm” trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình tiếng Việt / Nguyễn Thị Phương // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 10-17 .- 400
Bài viết nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết đánh giá theo trường phái ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Cụ thể, bài viết đi sâu nghiên cứu về “Tiêu điểm” (Focus) trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt – một khía cạnh quan trọng trong tiểu hệ thống Thang độ (Graduation) thuộc Khung thẩm định (Appraisal framework) của Martin và White (2005).
5 Biểu hiện của nhóm từ có ý nghĩa “mức độ” trong những văn bản tiếng Việt cổ đến trung đại / Trần Hương Thục // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 18-27 .- 400
Bài viết khảo sát nhóm từ biểu thị ý nghĩa “mức độ” trong giai đoạn tiếng Việt cổ đến trung đại dựa trên 16 văn bản tiêu biểu. Kết quả cho thấy một số yếu tố có tần suất xuất hiện cao và ổn định, giữ vai trò trung tâm trong hệ thống. Một số yếu tố từng hoạt động mạnh ở giai đoạn trung đại nhưng dần suy giảm và mất chức năng ngữ pháp. Kết quả cũng cho thấy các phó từ chỉ mức độ cao chiếm ưu thế rõ rệt, trong khi các yếu tố biểu thị mức độ thấp và trung bình (hơi, khá) xuất hiện muộn. Sự biến đổi của nhóm từ mức độ phản ánh xu hướng ngữ pháp hoá để bù đắp và hoàn thiện dải thang độ trong diễn ngôn tiếng Việt qua các thời kì.
6 Một số chức năng ngữ dụng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt / Trần Thùy An // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 28-36 .- 400
Lời chỉnh sửa hội thoại là một trong những hiện tượng phổ biến trong tương tác hội thoại và bắt đầu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam trong những năm gần đây. Chức năng chính của lời chỉnh sửa là giải thích, điều chỉnh, làm rõ nhằm khắc phục sự cố nảy sinh trong quá trình tương tác nhằm duy trì tính mạch lạc và liên tục của hội thoại. Ngoài chức năng này, lời chỉnh sửa còn thực hiện một số chức năng ngữ dụng khác. Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi sẽ phân tích một số chức năng ngữ dụng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt.
7 Ngữ âm tiếng Kri Phoọng ở Việt Nam / Tạ Quang Tùng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 46-56 .- 400
Tiếng Kri Phoọng ở Việt Nam thuộc thuộc nhóm Việt (Vietic), chi Môn - Khơ Me (Mon - Khmer) của ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic). Mô hình từ âm vị học: C1vC2C3VC4 + T.Hệ thống thanh điệu tiếng Kri Phoọng gồm 5 thanh: Trong âm tiết vang: [44];[25ʔ];[52ʔ].Trong âm tiết không vang:[13];[35]. Về âm đầu và vần tiếng Kri Phoọng, âm đầu.
8 Vị thế, vai trò của tiếng Phù Lá trong đời sống hiện nay / Phan Hoàng Anh, Phạm Thị Thảo // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 57-67 .- 400
Nghiên cứu chỉ ra đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao gia đình Phù Lá hiện nay là, người Phù Lá sử dụng cả tiếng Phù Lá, tiếng Quan Hoả và tiếng Việt. Trong đó tỉ lệ sử dụng tiếng Quan Hoả là cao nhất. Tiếng Việt có xu hướng được tăng cường học tập và sử dụng đối với trẻ em ở lứa tuổi tiền học đường và tiểu học.
9 Đề xuất cấu trúc vĩ mô kiểu mới cho từ điển thuật ngữ hành chính tiếng Việt / Vũ Thị Sao Chi // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 68-79 .- 400
Bài viết này phân tích cấu trúc vĩ mô của từ điển thuật ngữ hành chính, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nó trong việc đảm bảo tính hệ thống, khả năng truy cập và thân thiện với người dùng. Dựa trên các lí thuyết từ điển học hiện đại, nghiên cứu đề xuất một mô hình cấu trúc vĩ mô mới cho thuật ngữ hành chính tiếng Việt.
10 Một số thông số âm học của phụ âm đầu tiếng Việt hướng đến xây dựng bảng đo thính lực lời (Khảo sát trường độ, cường độ và tần số cơ bản) / Đinh Thị Hằng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 80-86 .- 400
Bài nghiên cứu này khảo sát ba thông số âm học cơ bản của 22 phụ âm đầu tiếng Việt, bao gồm trường độ (duration), cường độ (intensity) và tần số cơ bản (fundamental frequency - F₀). Kết quả cho thấy mỗi nhóm phụ âm (tắc, xát, mũi, bên) có đặc trưng riêng biệt về các tham số âm học, đồng thời tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa người nói nam và nữ. Những phát hiện này góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc trưng âm học và cơ chế cấu âm trong tiếng Việt, đồng thời cung cấp dữ liệu tham chiếu hữu ích cho các nghiên cứu xử lý tiếng nói, nhận dạng người nói và thiết kế bảng từ đo thính lực lời.