CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
1 Nồng độ GDF-15 huyết thanh và giá trị tiên lượng biến cố suy tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da / Trần Viết An, Trần Thanh Hà // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 636-644 .- 610
Nghiên cứu quan sát tiến cứu, theo dõi dọc 6 tháng trên 93 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 06/2025 đến tháng 05/2026. Nồng độ GDF-15 huyết thanh trung vị lúc nhập viện là 252,78 pg/mL (IQR: 144,89 - 421,46), cao hơn có ý nghĩa ở bệnh nhân tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường và bệnh thận mạn (p < 0,05). Sau 6 tháng theo dõi, 14 bệnh nhân (15,1%) xuất hiện biến cố suy tim; nhóm này có nồng độ GDF-15 cao hơn rõ rệt so với nhóm không có biến cố (467,49 so với 223,97 pg/mL; p < 0,001). Nồng độ GDF-15 có giá trị tiên lượng biến cố suy tim với diện tích dưới đường cong ROC là 0,789 (KTC 95%: 0,66 - 0,92; p = 0,001). Điểm cắt 358,64 pg/mL cho độ nhạy 78,6% và độ đặc hiệu 72,2%. Nồng độ GDF-15 huyết thanh có giá trị khá tốt trong tiên lượng biến cố suy tim sau nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da.
2 Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2 / Nguyễn Văn Tuấn, Vũ Sơn Tùng, Đào Thị Thùy Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 653-662 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 255 người bệnh đái tháo đường típ 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/ 2025 đến tháng 4/ 2026. Chúng tôi thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2. Kết quả có 54,1% người bệnh đái tháo đường típ 2 có rối loạn giấc ngủ. Người bệnh có độ tuổi lớn lớn 60 chiếm tỉ lệ cao hơn là 62,3%. Thời gian ngủ trung bình mỗi đêm 3,9 ± 1,3. Có 63,8% người bệnh có số lần thức giấc trong đêm 1 - 2 lần/ đêm. 70,3% người bệnh có hiệu suất giấc ngủ rất kém (≤ 65%). Thể bệnh hay gặp nhất của rối loạn giấc ngủ là mất ngủ chiếm tỉ lệ 87,0%, hội chứng chân không yên chiếm 11,6% và rối loạn nhịp thức ngủ sinh học chiếm 1,4%. Chỉ số PSQI trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 8,7 ± 5,2%.
3 Kết quả điều trị chấn thương niệu đạo ở trẻ em tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Lê Quang Nam, Vũ Hồng Tuân, Nguyễn Việt Hoa // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 676-682 .- 610
Nghiên cứu hồi cứu trên 32 bệnh nhi được chẩn đoán chấn thương niệu đạo tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2024 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị. Kết quả của nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình là 10,34 ± 3,92 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (68,8%). Triệu chứng lâm sàng gồm: bí tiểu (85,2%), chảy máu lỗ tiểu (29,6%). Chụp X-quang niệu đạo – bàng quang xuôi dòng và/hoặc ngược dòng là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán. Chấn thương niệu đạo sau chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4%. Khâu nối niệu đạo tận – tận là phương pháp điều trị chính với tỷ lệ thành công là 52,4%, các biến chứng sau điều trị thường gặp gồm hẹp niệu đạo, tiểu không tự chủ. Chấn thương niệu đạo ở trẻ em là bệnh lý hiếm gặp và phức tạp nên việc chẩn đoán và điều trị tại cơ sở chuyên khoa với phẫu thuật viên có kinh nghiệm là yếu tố quan trọng nhằm giảm thiểu biến chứng.
4 Kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi toàn bộ xuyên sọ kẹp cổ túi phình tuần hoàn trước / Nguyễn Thế Hào, Phạm Quỳnh Trang, Phạm Văn Thành Công, Nguyễn Tất Đặng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 683-691 .- 610
Nội soi toàn bộ xuyên sọ (NSTBXS) kẹp cổ túi phình là hướng tiếp cận mới dùng ống nội soi làm phương tiện quan sát duy nhất, nhằm bảo tồn nhánh xuyên và loại trừ túi phình qua đường mổ nhỏ. Nghiên cứu mô tả tiến - hồi cứu 58 bệnh nhân phình động mạch tuần hoàn trước được phẫu thuật NSTBXS tại Bệnh viện Bạch Mai (11/2025 – 5/2026), đánh giá tính khả thi, an toàn và chất lượng quan sát nội soi. Tuổi trung bình 59,4 ± 9,3; túi phình thông trước 51,7%, não giữa 34,5%; 39,7% vỡ. Độ rõ phẫu trường tốt ở 93,1%; điều chỉnh clip sau kiểm tra nội soi 26,3%. Kẹp hoàn toàn 94,8%; không vén não 89,7%. Vỡ trong mổ 17,2%, tập trung ở nhóm vỡ trước mổ và đều được kiểm soát. Khi ra viện 100% đạt mRS 0–2; không tử vong nội viện. Kỹ thuật bước đầu khả thi và an toàn; chất lượng quan sát nội soi cao giúp tối ưu vị trí clip. Cần theo dõi dài hơn và nghiên cứu đối chứng để khẳng định giá trị.
5 Kết cục thai kỳ của những thai phụ con so nguy cơ thấp được khởi phát chuyển dạ bằng dinoprostone và bóng đôi / Trần Anh Đức, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Duy Ánh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 692-703 .- 610
Nghiên cứu này nhằm ghi nhận kết cục thai kỳ của thai phụ con so nguy cơ thấp được khởi phát chuyển dạ (KPCD) bằng dinoprostone đặt âm đạo và bóng đôi. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu so sánh được thực hiện trên các thai phụ con so nguy cơ thấp có tuổi thai từ 39⁰⁄₇ đến 40⁶⁄₇ tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, từ ngày 07/01/2021 đến ngày 31/12/2023. Trong số 410 thai phụ có 211 người được KPCD bằng dinoprostone và 199 trường hợp bằng bóng đôi, tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của nhóm dinoprostone thấp hơn so với nhóm bóng đôi (66,8% so với 92%, p < 0,001). Tỷ lệ sinh đường âm đạo là 49,3% ở nhóm dinoprostone và 41,2% ở nhóm bóng đôi (RR = 1,2; 95%CI: 0,96 – 1,48). Dinoprostone liên quan đến tỷ lệ cơn co tử cung cường tính kèm bất thường nhịp tim thai (thai suy) cao hơn (2,8% so với 1,0%). Dinoprostone đặt âm đạo và bóng đôi cổ tử cung đều là các phương pháp KPCD hiệu quả và tương đối an toàn ở thai phụ con so nguy cơ thấp. Tuy nhiên dinoprostone có xu hướng liên quan đến tỷ lệ cơn co tử cung cường tính cao hơn so với nhóm bóng đôi.
6 Phẫu thuật nội soi điều trị viêm xoang trán do nấm Aspergillus đồng nhiễm Staphylococcus epidermidis đa kháng biến chứng áp xe dưới cốt mạc ổ mắt: Báo cáo ca bệnh / Hà Minh Lợi, Nguyễn Thị Thanh Minh, Nguyễn Văn Luận // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 704-719 .- 610
Chúng tôi báo cáo một ca bệnh rất hiếm gặp tại Việt Nam cũng như trên thế giới được phát hiện và điều trị thành công tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương. Viêm xoang trán do nấm Aspergillus đồng nhiễm S. epidermidis đa kháng kháng sinh gây biến chứng áp xe dưới cốt mạc, ở vị trí phần cao góc trên trong ổ mắt, với triệu chứng lâm sàng không điển hình, gây khó khăn trong chẩn đoán và phẫu thuật để loại bỏ nấm trong xoang trán cũng như giải phóng ổ áp xe dưới cốt mạc ổ mắt. Người bệnh đã được phẫu thuật tiếp cận hoàn toàn dưới nội soi mà không cần mở thêm đường ngoài, đạt được hiệu quả tốt.
7 Nghiên cứu tác dụng chống mệt mỏi của Sữa dưỡng Nhật Bảo trên động vật thực nghiệm / Trần Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thanh Loan, Trần Sách Việt // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 730-740 .- 610
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng chống mệt mỏi của Sữa dưỡng Nhật Bảo (CSTD) trên động vật thực nghiệm. Chuột nhắt chủng Swiss được gây mệt mỏi bằng cách thực hiện bơi và bám trên trục quay Rotarod hàng ngày trong 1 tuần liên tục. Sau đó, chuột được uống nước cất/sulbutiamin liều 96 mg/kg/ngày hoặc CSTD liều 15,6 và 31,2 g/kg/ngày trong 4 tuần liên tục. Tác dụng chống mệt mỏi của CSTD đã được xác định thông qua đánh giá sức bám, sức kéo của chuột, thử nghiệm bơi cưỡng bức và xác định các chỉ số sinh hóa. CSTD liều 15,6 g/kg/ngày có xu hướng làm tăng cân nặng, kéo dài thời gian bám trên trục quay Rotarod, kéo dài thời gian bơi và tăng sức kéo của chuột nhắt trắng so với mô hình, tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. CSTD liều 31,2 g/kg/ngày có tác dụng làm tăng cân nặng, kéo dài thời gian bám trên trục quay Rotarod, kéo dài thời gian bơi và tăng sức kéo của chuột nhắt trắng có ý nghĩa thống kê so với mô hình. Ngoài ra, CSTD liều 31,2 g/kg/ngày làm tăng nồng độ glucose; giảm hoạt độ AST, ALT và nồng độ BUN trong máu chuột. Như vậy, CSTD liều 31,2 g/kg/ngày có tác dụng chống mệt mỏi trên động vật thực nghiệm.
8 Hiệu quả của chương trình Vivifrail trên chức năng vận động và nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương / Dương Thị Kim Ngân, Nguyễn Huy Ngọc, Vũ Thị Thanh Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 720-729 .- 610
Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 72 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 từ 60 tuổi trở lên có hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT). Bệnh nhân được phân thành nhóm can thiệp (n = 36) tham gia chương trình Vivifrail và nhóm chứng (n = 36) được chăm sóc thông thường. Các chỉ số được đánh giá tại thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và sau 6 tháng, bao gồm chức năng vận động (Timed Up and Go, TUG) và điểm nguy cơ ngã (Fall Risk Index-21, FRI-21). Có 66 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu sau 6 tháng theo dõi. Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học, đái tháo đường, và lão khoa giữa hai nhóm (p > 0,05). Sau 6 tháng can thiệp, thời gian thực hiện TUG của nhóm can thiệp giảm trung bình 3,8 giây từ 15,6 ± 5,9 giây xuống 11,8 ± 2,9 giây, nhóm chứng tăng 1,1 giây từ 15,3 ± 5,5 giây lên 16,4 ± 6,4 giây. Điểm FRI-21 của nhóm can thiệp giảm trung bình 4,1 điểm từ 11,4 ± 3,3 điểm xuống 7,3 ± 3,0 điểm, nhóm chứng không có sự thay đổi. Mức thay đổi về thời gian TUG và điểm FRI-21 ở nhóm can thiệp tốt hơn so với nhóm chứng tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng (p < 0,05). Chương trình Vivifrail giúp cải thiện đáng kể chức năng vận động và giảm nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có HCDBTT.
9 Khả năng gây kích ứng da và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium bôi ngoài da trên mô hình gây bỏng nhiệt thực nghiệm / Trần Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thanh Loan, Trần Việt Anh, Trần Trung Kiên, Hoàng Yến Chi, Nguyễn Mai Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 741-750 .- 610
Nghiên cứu đánh giá khả năng gây kích ứng da của Medicell Plus Premium (MPP) trên thỏ và ảnh hưởng toàn thân của MPP bôi ngoài da trên chuột cống trắng bị bỏng nhiệt. Đánh giá khả năng gây kích ứng da được tiến hành theo hướng dẫn của OECD và ISO 10993-10. Chuột được gây bỏng nhiệt trên da lưng bằng dụng cụ kim loại, sau đó bôi MPP trong 21 ngày. Các chỉ số huyết học, sinh hóa, vi thể gan và thận của chuột được đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy MPP không gây kích ứng da trên thỏ. MPP liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không ảnh hưởng đến các chỉ số huyết học, mức độ hủy hoại tế bào gan, chức năng gan và chức năng thận. Ngoài ra, cấu trúc vi thể gan và thận của chuột của lô bôi MPP không có sự khác biệt rõ rệt so với lô chứng sinh học. Như vậy, MPP bôi ngoài da ở liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không gây độc tính toàn thân sau 21 ngày bôi thuốc thử trên mô hình gây bỏng thực nghiệm.
10 Tác động của chế độ ăn bổ sung dây thìa canh đến dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường thực nghiệm / Nông Văn Diệp, Nguyễn Đức Quân, Đỗ Thị Trang, Trần Thị Hương Giang, Trần Huy Thịnh, Nguyễn Huy Hoàng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 751-759 .- 610
Nghiên cứu đánh giá tác động của bổ sung dây thìa canh (Gymnema sylvestre) lên dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường. Tổng cộng 48 chuột đực Swiss được chia thành 4 nhóm: Nhóm 1 - đối chứng, Nhóm 2 - béo phì, Nhóm 3 - đái tháo đường, và Nhóm 4 - đái tháo đường có can thiệp bằng chế độ ăn. Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose đường tiêm phúc mạc (IPGTT) cho thấy Nhóm 2 và 3 có rối loạn dung nạp glucose rõ rệt, đặc biệt Nhóm 3 có glucose máu tăng cao và giảm chậm. Nhóm 4 được bổ sung ăn dây thìa canh có mức tăng glucose thấp hơn và giảm nhanh hơn, cho thấy cải thiện dung nạp glucose. Đồng thời, các chỉ số cholesterol, triglycerid, ALT và AST ghi nhận giảm đáng kể so với Nhóm 2 và 3 phản ánh xu hướng cải thiện rối loạn lipid và giảm tổn thương gan (thoái hóa mỡ, viêm, rối loạn cấu trúc) đáng kể ở nhóm 4. Kết quả cho thấy dây thìa canh có tiềm năng hỗ trợ kiểm soát rối loạn chuyển hóa glucose, chuyển hoá lipid và giảm tổn thương gan trong đái tháo đường thực nghiệm.





