CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm chiều ngang cung răng hàm trên và hàm dưới theo chỉ số Yonsei trên phim CBCT ở người bệnh sai khớp cắn loại III do xương / Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Hương Ly, Đào Thị Dung, Vũ Thị Thu Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr.86-92 .- 617

Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu nhằm đánh giá đặc điểm tương quan chiều ngang cung răng hàm trên và hàm dưới ở người bệnh sai khớp cắn loại III do xương chưa điều trị chỉnh nha trên phim cắt lớp vi tính chùm tia hình nón. Độ rộng cung răng hàm trên tại vùng răng hàm lớn thứ nhất (AWU6), độ rộng cung răng hàm dưới (AWL6) và chênh lệch AWU6-AWL6 được đo theo nguyên lý chỉ số Yonsei. Các chỉ số được phân tích theo giới và nhóm tuổi. AWU6 trung bình là 47,09 ± 2,36 mm, AWL6 là 50,15 ± 1,99 mm; chênh lệch AWU6-AWL6 là -3,05 ± 2,07 mm. Chênh lệch âm được ghi nhận ở 79 trường hợp (97,5%). Mức chênh lệch âm lớn nhất gặp ở nhóm dưới 15 tuổi (-4,00 ± 2,13 mm), sau đó giảm dần ở nhóm 15-18 tuổi và trên 18 tuổi. Người bệnh sai khớp cắn loại III do xương có xu hướng bất tương xứng chiều ngang hàm trên-hàm dưới tại vùng răng hàm lớn thứ nhất.

2 Kích thước niệu quản trên cắt lớp vi tính và mối liên quan với các chỉ số nhân trắc / Ngô Xuân Khoa, Vũ Thành Trung, Võ Tiến Huy, Nguyễn Ngọc Ánh, Nguyễn Tuấn Sơn, Ngô Thuỳ Anh Ngọc // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 108-114 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa chiều dài và đường kính niệu quản với các chỉ số nhân trắc cơ thể, đồng thời đánh giá giá trị của khoảng cách UPJ–UVJ trong ước tính chiều dài niệu quản trên cắt lớp vi tính hệ tiết niệu. Kết quả cho thấy khoảng cách UPJ–UVJ trung bình khoảng 18 cm và không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai bên hoặc giữa nam và nữ (p > 0,05). Không ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa giữa chiều dài hoặc đường kính niệu quản với chiều cao, cân nặng và BMI (r < 0,12; p > 0,05). Khoảng cách UPJ–UVJ có xu hướng tương quan dương với chiều dài niệu quản (r = 0,317), tuy nhiên chưa đạt ý nghĩa thống kê. Nhìn chung, kích thước niệu quản không cho thấy mối liên quan rõ ràng với các chỉ số nhân trắc.

3 Đặc điểm đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 và một số yếu tố liên quan kết quả điều trị ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản / Nguyễn Văn Út, Kha Hữu Nhân, Đặng Duy Thanh, Nguyễn Thị Diễm // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 115-124 .- 610

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một trong những rối loạn tiêu hóa thường gặp. Đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển hóa một số thuốc nhóm PPIs, nhóm thuốc điều trị chính. Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 90 người bệnh được chẩn đoán GERD có nội soi thực quản dạ dày từ 06/2025 đến 12/2025. Kết quả nghiên cứu: tuổi trung bình 60,5 ± 14,8, nữ chiếm 52,2%. Kiểu gen GG, GA và AA lần lượt chiếm 40,0%, 38,9% và 21,1%. Tần suất allele G là 59,4% và allele A là 40,6%. Tỷ lệ hết triệu chứng nóng rát và trớ sau điều trị đạt 82,2%. Điểm GERD-Q giảm có ý nghĩa từ trung vị 8,0 [7,0 – 10,0] còn 6,0 [5,0 – 8,0]. Kiểu gen GA+AA có khả năng đáp ứng điều trị cao hơn nhóm GG. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị: nhóm tuổi 40 – 59, nhóm tuổi ≥ 60 và điểm GERD-Q trước điều trị càng cao thì khả năng đáp ứng điều trị càng tăng. Đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 có tiềm năng hỗ trợ đánh giá kết quả điều trị GERD.

4 Kết quả phẫu thuật đục thể thủy tinh sử dụng laser femtosecond tại Bệnh viện Mắt Trung ương (2017 – 2023) / Phạm Thị Minh Khánh, Nguyễn Xuân Hiệp, Phạm Thị Thu Thủy // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 125-133 .- 610

Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật đục thể thủy tinh sử dụng laser femtosecond (FLACS) tại Bệnh viện Mắt Trung ương giai đoạn 2017 – 2023. Phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 134 mắt (105 bệnh nhân) được phẫu thuật FLACS từ 01/2017- 12/2023. Bệnh nhân được theo dõi sau mổ 1 tuần, 1 tháng (134 mắt), 3 tháng (110 mắt), 1 năm (96 mắt), 3 năm (79 mắt) và 5 năm (54 mắt). Tuổi trung bình 50,62 ± 14,98; nam giới chiếm 60%. Tỷ lệ mắt có thị lực không chỉnh kính ≥ 20/40 đạt 85,1% sau 1 tuần và duy trì ≥ 92% từ 1 tháng đến 5 năm. Khúc xạ tương đương cầu (SE) trung bình ổn định quanh -0,19D đến -0,20D trong 5 năm theo dõi; 90,7% mắt có SE trong khoảng ±0,5D và 100% trong khoảng ±1,0D sau 5 năm. Tỷ lệ mở bao trước hoàn chỉnh đạt 88,06%, 100% chính tâm giác mạc. Tỷ lệ không biến chứng trong mổ đạt 82,84%; biến chứng muộn thường gặp nhất là đục bao sau (11,94%). Phẫu thuật FLACS là phương pháp an toàn, hiệu quả, đạt kết quả tốt và ổn định lâu dài.

5 Diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và mối liên quan với biến chứng nội viện trong viêm tụy cấp do tăng triglyceride: Kết quả bước đầu từ nghiên cứu quan sát tiến cứu / Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Thị Hồng Ngọc, Huỳnh Hiếu Tâm // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 165-174 .- 610

Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 32 bệnh nhân viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu tại Bệnh viện Trưng Vương nhằm mô tả diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và khảo sát mối liên quan bước đầu giữa chỉ số này với các biến chứng nội viện. Độ thanh thải triglyceride tăng dần từ 33,8 ± 13,2% sau 24 giờ lên 52,4 ± 16,7% sau 48 giờ và 66,3 ± 18,2% sau 72 giờ. Tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm thanh thải nhanh là 62,5% tại thời điểm 48 giờ. Độ thanh thải triglyceride tại 48 giờ và 72 giờ có tương quan nghịch với số ngày nằm viện, với r lần lượt là -0,46 và -0,53. Độ thanh thải triglyceride cho thấy khả năng phân biệt bước đầu đối với biến chứng tại tụy là 0,89 (KTC 95%: 0,69 – 1,00) ở cả hai thời điểm, trong khi AUC đối với biến chứng ngoài tụy lần lượt là 0,90 (KTC 95%: 0,79 – 1,00) và 0,91 (KTC 95%: 0,81 – 1,00). Kết quả bước đầu gợi ý độ thanh thải triglyceride có thể là một chỉ số động hữu ích trong theo dõi sớm ở giai đoạn nội viện.

6 Kết quả điều trị đơn trị pembrolizumab ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có bộc lộ PD-L1 ≥ 50% tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Đinh Văn Lượng, Nguyễn Thị Oanh, Lê Tú Linh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 175-182 .- 610

Điều trị miễn dịch đơn trị pembrolizumab ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) có PD-L1 ≥ 50% đem lại kết quả vượt trội trong thời gian gần đây. Nghiên cứu thực hiện trên 49 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn di căn, không có đột biến gen EGFR, ALK tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 2018 đến 10/2025. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đáp ứng (ORR) của nhóm nghiên cứu là 65,3% (hoàn toàn 6,1%, một phần 59,2%), giữ nguyên 14,2% và kiểm soát bệnh là 79,5%, tiến triển là 20,4%. Trung vị thời gian sống bệnh không tiến triển bệnh (PFS) 13,27 tháng, cao nhất là 29 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ (OS) là 20,13 tháng và cao nhất là 60 tháng. Tác dụng phụ không mong muốn chính là suy giáp, suy thượng thận, phản ứng trên da và viêm phổi chiếm tỉ lệ thấp và thường ở mức độ nhẹ. Như vậy, điều trị đơn trị Pembrolizumab trên bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn di căn có bộc lộ PD-L1 ≥ 50% cải thiện đáng kể về tỷ lệ đáp cũng cũng như thời gian sống còn toàn bộ.

7 Phân tích áp lực hô hấp trên các sai hình xương sọ mặt khác nhau / Vũ Thị Thu Trang, Vũ Đình Việt Anh, Lê Đình Tùng, Đỗ Hoàng Việt, Trần Thị Bích Hòa, Nguyễn Thanh Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 1-8 .- 617.6

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa hình thái đường thở và hình thái sọ mặt, nhấn mạnh nhiều hơn vào chiều trước–sau so với chiều dọc. Tuy nhiên, mối liên quan giữa các dạng sai hình xương và chức năng hô hấp vẫn chưa được làm rõ. Mặc dù các nghiên cứu ba chiều ghi nhận sự gia tăng kích thước đường thở sau điều trị chỉnh nha, những thay đổi hình thái không nhất thiết phản ánh cải thiện chức năng. Chức năng đường thở phụ thuộc vào sức cản luồng khí và hoạt động cơ hô hấp, trong đó áp lực hô hấp tối đa (RMS) là chỉ số quan trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá RMS ở bệnh nhân có các dạng sai hình xương khác nhau và khảo sát mối liên quan với kích thước đường thở trên CBCT. RMS trong nghiên cứu này dùng để chỉ mức độ thay đổi áp lực dòng khí thu được từ mô phỏng CFD của đường thở trên, không phải sức mạnh cơ hô hấp (respiratory muscle strength) trong sinh lý hô hấp.Kết quả cho thấy RMS cao nhất ở nhóm hạng II (5,8 ± 5,5), tiếp theo là hạng I (4,6 ± 4,3) và thấp nhất ở hạng III (3,9 ± 3,0), với sự khác biệt có ý nghĩa giữa hạng II và hạng III. Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về chức năng hô hấp giữa các dạng sai hình xương, gợi ý rằng kết hợp đánh giá RMS và hình thái đường thở có thể hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh nha hiệu quả hơn.

8 Kích thước lỗ cằm và lỗ cằm phụ trên phim CBCT ở người trưởng thành từ 18 - 30 tuổi tại Hà Nội / Trương Đình Khởi, Lê Linh Chi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 9-18 .- 617.6

Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỷ lệ xuất hiện, hướng phân bố của lỗ cằm, lỗ cằm phụ và đánh giá sự khác biệt theo giới tính, vị trí hai bên cung hàm trên phim CBCT ở người trưởng thành 18 - 30 tuổi tại Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 phim CBCT (58 nam, 69 nữ), khảo sát 254 lỗ cằm và 25 lỗ cằm phụ. Kết quả cho thấy theo giới tính, hầu hết các chỉ số (MCL, MFVD, MFW, DFU, DFL) ở nam lớn hơn so với nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) ngoại trừ góc ống cằm (p > 0,05). Tỷ lệ lỗ cằm phụ là 9,84%; các kích thước không khác biệt giữa hai bên nhưng ở nam lớn hơn ở nữ (p < 0,05). Hướng mở lỗ cằm phụ chủ yếu là hướng gần (76%). Lỗ cằm ghi nhận xu hướng đối xứng hai bên trong mẫu nghiên cứu. Lỗ cằm phụ có đặc điểm hình thái riêng biệt, phân bố có xu hướng theo giới và theo cung hàm tương đồng với lỗ cằm. Việc đánh giá CBCT trước can thiệp có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị nhằm hạn chế biến chứng thần kinh trong thực hành nha khoa.

9 Hình thái, kích thước lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên xương hàm dưới trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi / Trương Đình Khởi, Lê Linh Chi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 19-26. .- 617

Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỉ lệ xuất hiện, phân bố theo giới tính và vị trí, tỉ lệ có kích thước > 1 mm của lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 158 phim CBCT (87 nam, 71 nữ), khảo sát 247 lỗ lưỡi giữa và 274 lỗ lưỡi bên. Kết quả cho thấy rằng 100% đối tượng có ít nhất một lỗ lưỡi giữa; lỗ lưỡi bên xuất hiện với tỷ lệ 71,52%. Lỗ lưỡi giữa chủ yếu nằm trên gai cằm (72,15%) trong khi lỗ lưỡi bên tập trung ở vùng răng hàm nhỏ và răng hàm lớn. Các kích thước của cả lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên ở nam lớn hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Phần lớn các lỗ có kích thước ≤ 1 mm, tuy nhiên vẫn ghi nhận một tỷ lệ nhất định > 1 mm, đặc biệt ở lỗ lưỡi giữa. Lỗ lưỡi là cấu trúc giải phẫu phổ biến với sự biến thiên đáng kể về số lượng, vị trí và kích thước, đồng thời có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính. CBCT nên được cân nhắc trong các trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao hoặc nghi ngờ biến thể giải phẫu để hỗ trợ việc lập kế hoạch điều trị chính xác, phù hợp hơn, giảm nguy cơ biến chứng.

10 Phân tích tin sinh học về biểu hiện, tiên lượng và ý nghĩa sinh học của FOS trong ung thư vú / Nguyễn Thanh Thúy, Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Hoàng Anh Duy, Quang Trọng Minh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 27-43 .- 610

Nghiên cứu này nhằm phân tích đặc điểm biểu hiện, giá trị tiên lượng và ý nghĩa sinh học tiềm năng của FOS trong ung thư vú bằng cách khai thác các cơ sở dữ liệu công khai và các công cụ tin sinh học, bao gồm TCGA-BRCA, Kaplan-Meier Plotter, bc-GenExMiner, GeneMANIA, STRING, DAVID và miRmap. Kết quả cho thấy FOS biểu hiện giảm rõ rệt ở mức mRNA trong mô ung thư vú nguyên phát so với mô vú bình thường, đồng thời mức biểu hiện thay đổi theo giai đoạn bệnh và phân nhóm ung thư vú. Phân tích sống còn ghi nhận rằng biểu hiện FOS cao hơn liên quan đến kết cục sống còn thuận lợi hơn, bao gồm sống còn không tái phát và sống còn không di căn xa. Phân tích mạng lưới cho thấy FOS/c-Fos liên quan chặt chẽ với các thành viên của họ JUN/FOS và phức hợp AP-1. Phân tích làm giàu chức năng gợi ý rằng các gen/protein liên quan đến FOS/FOS được làm giàu trong các quá trình điều hòa phiên mã, tín hiệu estrogen, MAPK và đáp ứng stress. Ngoài ra, hsa-miR-221-3p và hsa-miR-222-3p được dự đoán có khả năng điều hòa hậu phiên mã FOS. Nhìn chung, FOS là một dấu ấn sinh học tiềm năng trong ung thư vú; tuy nhiên, các kết quả hiện tại chủ yếu dựa trên dữ liệu mRNA và phân tích tin sinh học hồi cứu, do đó cần được xác nhận thêm bằng dữ liệu protein, mô hình lâm sàng đa biến và các nghiên cứu thực nghiệm.