CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tính lưỡng khả của từ “thì’ trong Tiếng Việt / Đinh Văn Đức // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 154-156 .- 400

Có thể nhận xét rằng “thì” vốn có chức năng của từ nối nhưng chính việc làm tác tử phân giới Đề và Thuyết đã làm xuất hiện nét nghĩa tình thái nhằm đồng thời nhấn mạnh vào ý nghĩa sự thể trong câu/ phát ngôn. Điều đó giải thích rằng tuy là một Liên từ nhưng vì sao “thì” có tần suất xuất hiện cao nhất trong số các hư từ tiếng Việt ở trong câu.

2 Địa danh trong tiến trình lịch sử / Phạm Văn Tình // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 157-159 .- 910.01403

Tên riêng là một vấn đề hệ trọng và thiêng liêng. Tuy nhiên, tên riêng không phải là tổ hợp định danh “nhất thành bất biến”. Giống như mọi sự vật, hiện tượng, tên riêng ra đời, tồn tại và phát triển theo thời gian. Mỗi tên riêng có cuộc sống riêng. Có thể nói, tên riêng thuộc phạm trù lịch sử. Bài viết bàn về một số vấn đề liên quan tới sự thay đổi, điều chỉnh địa danh hành chính trong tiến trình lịch sử nhân chủ trương sắp xếp tên địa danh (huyện, xã) của Nhà nước ta.

3 Xây dựng chatbot từ điển ngôn ngữ gen Z hỗ trợ giáo dục kĩ năng giao tiếp số cho thanh thiếu niên / Lương Thị Hiền, Phạm Ngọc Minh, Đỗ Minh Trang, Nguyễn An Nguyên // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 5-18 .- 400

Nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ Gen Z Việt Nam trên dữ liệu gồm 1.250 từ và 250 cụm từ được thu thập từ các nền tảng mạng xã hội và giao tiếp thực tế. Các từ ngữ được lập chỉ mục, gán nhãn đặc điểm về ý nghĩa, ngữ cảnh sử dụng, ví dụ và từ ngữ đối dịch tiếng Anh. Với dữ liệu này, bài viết đề xuất giải pháp xây dựng chatbot Từ điển ngôn ngữ Gen Z trên nền tảng Coze AI nhằm hỗ trợ giáo dục kĩ năng giao tiếp số cho thanh thiếu niên.

4 Một số vấn đề về thanh điệu trong các ngôn ngữ / Lê Thanh Hoà // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 27-35 .- 400

Thanh điệu là một đơn vị âm vị siêu đoạn tính, vừa có chức năng từ vựng, vừa có thể có chức năng ngữ pháp. Số thanh của một ngôn ngữ cần được xem xét trong cùng một môi trường đồng nhất, và các thanh khác nhau có thể xác lập được các đơn vị khác nghĩa nhau. Tuỳ theo đặc điểm của Thanh điệu mà sử dụng một trong hai bộ kí hiệu IPA phù hợp. Bên cạnh hai bộ kí hiệu IPA (2020), cách miêu tả Thanh điệu bằng các số rất có ý nghĩa trong nghiên cứu ngữ âm học khí cụ, đặc biệt đối với NNÂĐ.

5 Qua, sang trong tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian / Lê Thị Cẩm Vân // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 45-55 .- 400

Trong tiếng Việt, có những trường hợp qua có thể thay thế cho sang và ngược lại. Tuy vậy giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt. Bài báo này hướng đến làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau giữa qua và sang trong tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian, tập trung vào các bình diện cấu trúc tham tố, phối cảnh chuyển động, quy chiếu, sự chuyển khung từ không gian sang thời gian của các từ hữu quan. Những điểm khác nhau được chỉ ra giúp làm sáng tỏ vì sao qua và sang cùng tồn tại dù điểm giống nhau giữa chúng là rất lớn.

6 Ẩn dụ ý niệm qua thành ngữ chứa từ め,目(mắt) trong tiếng Nhật / Nguyễn Tô Chung // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 84-87 .- 495.6

Ẩn dụ ý niệm là một khái niệm phổ biến trong ngôn ngữ học, trong đó một khái niệm trừu tượng được hiểu thông qua một khái niệm cụ thể hơn. Trong tiếng Nhật, các thành ngữ có từ chỉ “目, め” (mắt) thường mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ, giúp làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau của văn hóa và tâm lí học người Nhật. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ hơn những tư duy và văn hóa của người Nhật được thể hiện trong thành ngữ có từ chỉ “目, め” (mắt), giúp người học tiếng Nhật hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ này sử dụng các ẩn dụ ý niệm để biểu đạt những cảm xúc và ý tưởng phức tạp. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong biểu thị ý nghĩa và biểu tượng giữa tiếng Việt và tiếng Nhật.

7 Một số mô hình ngữ âm tiếng Anh tại vị trí giáp ranh giữa các từ - đối chiếu với mô hình ngữ âm tiếng Việt / Y Tru Alio, Y Cuôr B. Krông // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 117-122 .- 420

Giới thiệu về cách tiếp cận một số mô hình ngữ âm tiếng Anh tại môi trường giáp ranh giữa các từ trong chuỗi lời nói thông qua việc đối chiếu với mô hình ngữ âm tiếng Việt, ở chừng mực nào đó, bài báo có thể góp phần bổ sung phong phú nhận thức về lí thuyết ngôn ngữ nói chung và ngữ âm - âm vị của hai ngôn ngữ nói riêng.

8 Các phép tu từ cần khai thác trong quá trình dịch thuật / Nguyễn Đăng Sửu // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 135-147 .- 400

Dịch là một kĩ năng tổng hợp. Để chuyển dịch tốt, ngoài việc phải có kiến thức vững vàng về hai ngôn ngữ, ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, các biên, phiên dịch viên cần phải hiểu biết sâu rộng hai nền văn hóa của hai dân tộc và phải nắm bắt và khai thác hợp lí các phép tu từ trong quá trình chuyển dịch. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến các phép tu từ thường gặp và cần phải khai thác một cách hợp lí trong quá trình dạy dịch.

9 Bước “khởi động” trong giảng dạy ngoại ngữ - xây dựng buổi học hứng thú hiệu quả / Trần Thị Phượng // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 167-173 .- 400

Phân tích tầm quan trọng của Bước "Khởi Động" trong giảng dạy ngoại ngữ, đồng thời cung cấp một số gợi ý để xây dựng các hoạt động khởi động hiệu quả, giúp giáo viên thu hút và truyền cảm hứng cho học sinh ngay từ những phút đầu tiên của buổi học.

10 Phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời của người Mỹ / Vương Thị Hải Yến, Nguyễn Thanh Ly // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 181-188 .- 420

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào các công thức biểu đạt hành vi lời nói từ chối lời mời gián tiếp của người Mỹ thu được trong 291 đoạn hội thoại từ chối gián tiếp trong tổng số 720 đoạn hội thoại từ chối mà tác giả thu thập được từ 35 tác phẩm văn học Mỹ và một số bộ phim Mỹ phát sóng trên truyền hình Việt Nam. Bài viết mong muốn giúp người đọc hiểu hơn về phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời có trong các chiến lược từ chối gián tiếp được người Mỹ ưa sử dụng, từ đó giúp cho người học tiếng Anh nâng cao hiệu quả trong quá trình giao tiếp, tránh những xung đột, những “cú sốc văn hóa”.