CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
1 Phân bố loài Candida spp. trên bệnh nhân viêm âm hộ - âm đạo do nấm / Huỳnh Thị Xuân Tâm, Lê Thảo Phúc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 143 - 147 .- 610
Xác định tỉ lệ phân bố loài Candida albicans và Candida non-albicans gây viêm âm hộ - âm đạo do nấm ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Mẫu dịch tiết âm đạo được thu thập từ 70 phụ nữ được chẩn đoán xác định viêm âm hộ âm đạo do nấm tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 03/2025 đến tháng 07/2025. Mẫu dịch âm đạo được soi tươi trực tiếp với KOH 10% và nuôi cấy trong môi trường thạch Sabouraud dextrose và CHROMagar™ Candida để phân lập và định danh loài Candida gây bệnh. Kết quả: Candida albicans chiếm ưu thế (83,6%), các loài Candida non-albicans bao gồm C. glabrata (9,6%), C. tropicalis (4,1%) và C. parapsilosis (2,7%). Đa số bệnh nhân nằm trong nhóm tuổi 18–29 (65,7%), tiếp đến là 30–39 tuổi (18,6%), trong khi nhóm ≥50 tuổi chiếm tỉ lệ thấp (2,9%). Phần lớn bệnh nhân cư trú tại thành thị (85,7%), sử dụng nguồn nước máy (74,3%), có trình độ học vấn cao (75,7% tốt nghiệp đại học). Về nghề nghiệp, nhóm cán bộ viên chức, học sinh – sinh viên và lao động tự do chiếm tỷ lệ lớn, lần lượt là 34,3%, 20% và 24,3%. Kết luận: Candida albicans vẫn là tác nhân gây bệnh chiếm ưu thế so với các loài Candida non-albicans. Việc nuôi cấy, định danh loài và theo dõi tình hình kháng thuốc là cần thiết nhằm định hướng lựa chọn liệu pháp điều trị thích hợp, góp phần kiểm soát hiệu quả tình trạng viêm âm hộ âm đạo do nấm ở nữ.
2 Khó tiêu chức năng có dùng Itopride hydrochloride / Hoàng Thị Lan Anh, Trần Ngọc Ánh, Trần Việt Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 147 - 151 .- 610
Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân khó tiêu chức năng (KTCN) trước và sau 4 tuần điều trị bằng itopride hydrochloride.Đối tượng và phương kháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc được thực hiện trên 74 bệnh nhân KTCN được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ROME IV. Bệnh nhân được điều trị bằng itopride hydrochloride liều 150 mg/ngày trong 4 tuần. CLCS được đánh giá bằng thang điểm Nepean Dyspepsia Index dạng ngắn (SF-NDI) tại hai thời điểm: trước và sau điều trị. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả: Điểm SF-NDI trung bình trước điều trị của bệnh nhân là 52,57 ± 18,47, sau 4 tuần điều trị giảm xuống còn 25,68 ± 6,71. Mức cải thiện tổng điểm SF-NDI trung bình là 26,89 điểm, có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Cải thiện được ghi nhận ở tất cả các lĩnh vực của SF-NDI, đặc biệt ở lĩnh vực “công việc, học tập” (28,92 điểm). Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ cải thiện SF-NDI với các yếu tố như giới tính, BMI, thói quen hút thuốc, uống rượu bia, dùng cà phê, hoạt động thể lực và sử dụng NSAID (p > 0,05). Nhóm bệnh nhân thể chồng lấp có điểm SF-NDI trước điều trị cao nhất (61,77 ± 16,86) và mức độ cải thiện cao nhất sau điều trị. Kết luận: Điều trị itopride hydrochloride trong 4 tuần giúp cải thiện đáng kể và toàn diện CLCS của bệnh nhân KTCN, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có gánh nặng triệu chứng nặng nhất là thể chồng lấp
3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng động kinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Lê Văn Giang, Đỗ Mạnh Dũng, Phạm Thị Hương, Trần Văn Học, Đỗ Thanh Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ mắc động kinh tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 138 trẻ mắc động kinh thông qua phỏng vấn trực tiếp, thu thập thông tin từ sổ khám bệnh, bệnh án nghiên cứu kết hợp quan sát lâm sàng và xem video cơn co giật của trẻ. Kết quả: Động kinh gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái (với tỷ lệ 56,5% và 43,5%). Động kinh khởi phát toàn thể gặp nhiều hơn với 73,2%; 18,8% cơn động kinh khởi phát cục bộ và 8,0% không rõ khởi phát. Thời gian trung bình cơn ≤ 5 phút chiếm 97,8% và xuất hiện lúc thức với 89,9%. Hình ảnh điện não đồ của 87,7% bệnh nhân có bất thường ngoài cơn; 18,3% có hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính và 17,2% có hình ảnh tổn thương trên cộng hưởng từ sọ não. Kết luận: Cơn lâm sàng và tổn thương trên hình ảnh học sọ não đa dạng do đó cần chẩn đoán và phân loại cơn chính xác để nâng cao tỷ lệ kiểm soát cơn, cải thiện hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống của bệnh nhi.
4 Hiệu quả điều trị loét tá tràng có nhiễm helicobacter pylori ở trẻ em bằng phác đồ 4 thuốc có bismuth tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Vũ Thị Thơm, Phí Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Việt Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 139 - 143 .- 610
Loét tá tràng là tình trạng tổn thương sâu ở niêm mạctá tràng với đặc điểm mạn tính và hay tái phát. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị loét tá tràng có nhiễm H. pylori ở trẻ em bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 42 trẻ (3–16 tuổi) được chẩn đoán loét tá tràng nhiễm H. pylori bằng test urease và mô bệnh học. Trẻ được điều trị bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth. Hiệu quả được đánh giá bằng tỷ lệ tiệt trừ H. pylori, liền sẹo ổ loét, cải thiện triệu chứng và tác dụng không mong muốn. Kết quả: Tuổi trung bình 11,5 ± 2,1; nam/nữ = 2,5/1. Sau 6 tuần, tiệt trừ H. pylori đạt 81%, lành ổ loét 88,1%, 11,9% chưa khỏi và78,6% bệnh nhân hết đau bụng. Các triệu chứng xuất huyết tiêu hóa, buồn nôn, ợ hơi, khó tiêu đều hết sau điều trị. Tác dụng không mong muốn là mệt mỏi chiếm tỷ lệ thấp, không cần ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ 4 thuốc có Bismuth đạt hiệu quả cao trong tiệt trừ H. pylori và làm lành ổ loét tá tràng ở trẻ em, an toàn và dung nạp tốt, phù hợp triển khai tại Thái Bình.
5 Kiến thức về bệnh sùi mào gà và một số yếu tố liên quan trên người bệnh sùi mào gà được điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2020 / Vũ Huyền Anh, Nguyễn Thị Ngọc Hân, Nguyễn Thị Lan, Cao Xuân Linh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 139 - 143 .- 610
Mô tả kiến thức và phân tích một số yếu tố liên quan về bệnh sùi mào gà của người bệnh sùi mào gà được điều trị tại bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2020. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 206 người bệnh mắc bệnh sùi mào gà được điều trị tại khoa PT-Laser-VLTL-CSD từ tháng 5-10/2020. Đánh giá mức độ kiến thức về bệnh sùi mào gà của người bệnh thông qua bộ câu hỏi tự xây dựng bao gồm 14 câu hỏi liên quan chủ yếu tới các kiến thức về nguyên nhân gây bệnh, nguy cơ mắc bệnh, các con đường lâu truyền bệnh, triệu chứng lâm sàng, phương pháp điều trị, khả năng tái phát, mối liên quan tới virus HPV và các phương pháp phòng tránh. Kết quả: 16,5% đối tượng có kiến thức khá, tốt về bệnh sùi mào gà trong khi 62,6% có kiến thức chưa tốt. Kiến thức của người bệnh khá tốt về bệnh ở nhóm tuổi từ 18 đến 40 tuổi cao gấp 2,69 lần so với nhóm trên 40 tuổi với p<0,05. Người bệnh sống ở tỉnh, thành phố có kiến thức đạt cao gấp 2,18 lần người bệnh sống ở nông thôn/miền núi/khác với p<0,05. Người bệnh có trình độ học vấn tốt nghiệp từ trung học phổ thông trở lên có kiến thức khá tốt cao gấp 4,02 lần người bệnh có trình độ học vấn thấp hơn với p<0,05. Kết luận: Tỷ lệ người bệnh có có kiến thức khá, tốt về bệnh sùi mào gà còn thấp. Kiến thức về bệnh sùi mào gà của đối tượng có liên quan tới nhóm tuổi, học vấn và địa dư.
6 Kết quả điều trị nám má bằng Laser Picosecond YAG 1064 nm tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội / Lê Tuyết Minh, Nguyễn Quốc Hưng, Nguyễn Thị Thùy My // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 106 - 110 .- 610
Đánh giá kết quả và tính an toàn của Laser Pico Nd:YAG 1064 nm trong điều trị nám má tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021-2022. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 18 người bệnh nữ ≥ 25 tuổi, chẩn đoán nám má được điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021–2022. Người bệnh được chiếu Laser Pico Nd: YAG 1064 nm trong 6 buổi, mỗi buổi cách nhau 2 tuần. Kết quả điều trị được đánh giá bằng chỉ số MASI, thang Von Luschan, mức độ hài lòng và các tác dụng phụ. Kết quả: Tuổi trung bình người bệnh 42,9 ± 6,3; tất cả là nữ. Thể nám hỗn hợp chiếm 55,6%. MASI trung bình giảm từ 7,20 ± 4,54 trước điều trị xuống 2,90 ± 1,84 sau 6 buổi, mức giảm 59,7%. Sau 6 buổi, 88,9% người bệnh đạt cải thiện “Tốt/rất tốt” theo thang Von Luschan. 100% người bệnh hài lòng, trong đó 55,6% rất hài lòng. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng. Kết luận: Laser Pico Nd:YAG 1064 nm là phương pháp hiệu quả, an toàn trong điều trị nám má, với mức độ hài lòng cao và ít tác dụng phụ.
7 Thực trạng nhiễm nấm Malassezia, Demodex ở người bệnh trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2024 / Nguyễn Ngọc Diệp, Vương Văn Thuần, Nguyễn Thị Đào, Đào Thị Mai Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 110 - 114 .- 610
Mô tả tình trạng nhiễm nấm Malassezia, Demodex ở người bệnh trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 80 người bệnh trứng cá. Tất cả người bệnh được soi tươi tìm Demodex và xét nghiệm KOH tìm nấm Malassezia. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ nhiễm là 35% nhiễm nấm Malassezia, Demodex, trong đó tỷ lệ nhiễm nấm Malassezia là 12,5% và Demodex 22,5%, không có trường hợp đồng nhiễm cả nấm Malassezia, Demodex. Tỷ lệ nữ giới chiếm 75%, độ tuổi 18–25 là 78,6% và người bệnh mức độ nặng là 75%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm tiền sử dụng corticoid bôi, thói quen cạo lông mặt, da dầu, da nhạy cảm. Triệu chứng lâm sàng thường có liên quan đến tình trạng nhiễm nấm Malassezia, Demodex bao gồm ngứa chiếm 64,3%, cảm giác kiến bò chiếm 46,4%, mụn mủ chiếm 92,8% và đỏ da bong vảy chiếm 75%. Kết luận: Nhiễm nấm Malassezia, Demodex khá phổ biến ở người bệnh trứng cá, đặc biệt trong các trường hợp nặng. Việc tầm soát hai yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong định hướng điều trị.
8 So sánh giá trị xét nghiệm Rapid Plasma Regain và Treponema pallidum hemagglutination trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai / Nguyễn Thị Thu Thủy, Trần Anh Linh, Trần Kim Thanh, Thang Tiến Huy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 123 - 126 .- 610
So sánh giá trị của xét nghiệm định tính RPR và TPHA trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Người bệnh đến khám được chỉ định xét nghiệm định tính đồng thời cả RPR và TPHA, với phương pháp so sánh, mô tả cắt ngang vừa hồi cứu và tiến cứu trên tổng số 173 mẫu tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ 01/2022-10/2023. Kết quả: Trong 173 mẫu dương tính, có 116 (67%) mẫu dương tính với TPHA và 87 (51,3%) mẫu dương tính với RPR. Sử dụng xét nghiệm đặc hiệu TPHA làm tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh giang mai thì xét nghiệm RPR có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm của xét nghiệm lần lượt là 74,1%; 98,2%; 98,9%; 65,1%. Tỷ lệ tương đồng và hệ số Cohen’s Kappa giữa xét nghiệm TPHA và RPR là 82,1% và 0,68. Kết luận: Hai xét nghiệm TPHA và RPR là rất tin cậy trong hỗ trợ chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai. Sử dụng xét nghiệm RPR và TPHA trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh giang mai là rất cần thiết cần được chỉ định để tránh bỏ sót ca bệnh do dương tính giả sinh học hay âm tính giả trong giang mai thời kỳ I, II.
9 Thực trạng rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan đến bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2024 / Đinh Thị Yến, Vũ Xuân Hương, Phạm Ngọc Đức, Nguyễn Thu Uyên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 119 - 122 .- 610
Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan đến bệnh vảy nến. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 112 người bệnh được chẩn đoán xác định vảy nến tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024. Số liệu được thu thập từ các bệnh án của người bệnh được điều trị tại Bệnh viện. Các chỉ số lipid máu được phân tích liên quan với đặc điểm lâm sàng. Kết quả: Tuổi trung bình người bệnh là 40,2 ± 13,0, nam giới chiếm 37,5%. Vảy nến thể mảng gặp nhiều nhất (85,6%), phần lớn có thời gian mắc bệnh trên 12 tháng. Tỷ lệ rối loạn lipid máu chung là 55,4%. Trong đó, tăng Cholesterol toàn phần và Triglycerid chiếm tỷ lệ cao nhất (24,1% và 23,2%). Nam giới có nồng độ Triglycerid cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê. Các chỉ số lipid còn lại không khác biệt. Tỷ lệ uống rượu bia ở nam cao hơn nữ. Kết luận: Rối loạn lipid máu thường gặp ở người bệnh vảy nến (>50%). Kiểm soát yếu tố nguy cơ, đặc biệt thói quen sử dụng rượu bia, có ý nghĩa quan trọng.
10 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u buồng trứng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Trần Thị Minh Trang, Đặng Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Tuấn Minh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 23 - 27 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh nhân u buồng trứng đã được phẫu thuật tại Khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu với 243 bệnh nhân được chẩn đoán u buồng trứng có can thiệp phẫu thuật tại Khoa Phụ Sản BVTWQĐ 108 trong thời gian từ 1/1/2023 đến hết 31/12/2024. Kết quả: Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi trung bình là 46.43 ± 15.68, nhóm tuổi 40-59 chiếm tỉ lệ cao nhất 35.8%, 48.5% bệnh nhân đi khám định kỳ phát hiện khối u, 36.7% phát hiện vì đau bụng dưới. Trong 243 bệnh nhân được tiến hành nghiên cứu có 139 (57.2%) trường hợp thăm khám thấy khối u di động tốt. Đa số trường hợp u ở một bên buồng trứng (96.3%). Số lượng u có tính chất trên siêu âm và phân loại nguy cơ lành tính chiếm tỉ lệ cao nhất 69.1%. Hầu hết nồng độ CA-125 trong giới hạn bình thường. Tỉ lệ bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh lành tính chiếm 79.8%. Kết luận: Triệu chứng cơ năng u buồng trứng thường nghèo nàn và không điển hình, chủ yếu phát hiện qua thăm khám định kì. Kích thước u trung bình là 6.3 cm. U có vách, có nhú ít gặp.





