CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
1 Ca bệnh hiếm gặp annulaire elastolytic giant cell granuloma : phát hiện mới trên lâm sàng và cơ chế bệnh sinh / Lê Thị Chi Phương, Đỗ Thùy Linh, Trần Mẫn Chu, Giang Bảo Hoàn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 92 - 96 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và cơ chế bệnh sinh của ca bệnh annulaire elastolytic giant cell granuloma tại bệnh viện Da liễu Hà Nội, từ đó góp phần cung cấp chứng cứ cho giả thuyết viêm và cơ chế bệnh sinh liên quan tới bệnh lý chuyển hoá tcủa bệnh. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu mô tả ca bệnh, ca bệnh nữ giới, 52 tuổi, có tiền sử đái tháo đường typ 2 với tổn thương lâm sàng không xuất hiện ở vùng phơi nhiễm ánh sáng là lòng bàn tay và cạnh bên ngón tay, không có tiền sử phơi nhiễm ánh sáng trong thời gian dài, trên hình ảnh mô bệnh học của bệnh nhân thấy phản ứng viêm dạng u hạt với hiện tượng ly giải sợi chun và thực bào sợi chun. Sự ly giải và thực bào sợi chun cũng được xác thực trên nhuộm chất nhuộm đặc biệt Van Gieson (EVG), các kết quả xét nghiệm và chất nhuộm đặc biệt khác loại trừ các tổn thương viêm da dạng u hạt khác. Kết quả: Ca bệnh được chẩn đoán xác định là bệnh annulaire elastolytic giant cell granuloma, thông qua so sánh ca bệnh trong báo cáo này với các ca bệnh kinh điển được mô tả trong y văn trước đó, chúng tôi bổ sung thêm chứng cứ ủng hộ giả thuyết viêm và liên quan tới bệnh lý chuyển hoá là đái tháo đường. Kết luận: Ca bệnh này nêu bật tính cấp thiết của các nghiên cứu chuyên sâu hơn với sự xác thực và soi sáng của mô bệnh học trong cơ chế bệnh sinh liên quan tới các bệnh lý chuyển hoá và giả thuyết viêm.

2 Kết quả điều trị nám má bằng Laser Picosecond YAG 1064 nm tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nộ / Lê Tuyết Minh, Nguyễn Quốc Hưng, Nguyễn Thị Thùy My // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 106 - 110 .- 610

Đánh giá kết quả và tính an toàn của Laser Pico Nd:YAG 1064 nm trong điều trị nám má tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021-2022. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 18 người bệnh nữ ≥ 25 tuổi, chẩn đoán nám má được điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021–2022. Người bệnh được chiếu Laser Pico Nd: YAG 1064 nm trong 6 buổi, mỗi buổi cách nhau 2 tuần. Kết quả điều trị được đánh giá bằng chỉ số MASI, thang Von Luschan, mức độ hài lòng và các tác dụng phụ. Kết quả: Tuổi trung bình người bệnh 42,9 ± 6,3; tất cả là nữ. Thể nám hỗn hợp chiếm 55,6%. MASI trung bình giảm từ 7,20 ± 4,54 trước điều trị xuống 2,90 ± 1,84 sau 6 buổi, mức giảm 59,7%. Sau 6 buổi, 88,9% người bệnh đạt cải thiện “Tốt/rất tốt” theo thang Von Luschan. 100% người bệnh hài lòng, trong đó 55,6% rất hài lòng. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng. Kết luận: Laser Pico Nd:YAG 1064 nm là phương pháp hiệu quả, an toàn trong điều trị nám má, với mức độ hài lòng cao và ít tác dụng phụ.

3 Đánh giá kết quả phẫu thuật cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn potsic III / Nguyễn Viết Thanh Tùng, Phạm Trần Anh, Nguyễn Đức Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 30 - 34 .- 610

Đánh giá kết quả phẫu thuật cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn Potsic III. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca bệnh. Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện tai mũi họng trung ương, thời gian nghiên cứu từ năm 2017 tới năm 2025. Bệnh nhân nghiên cứu: 38 bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu: Qua nghiên cứu 38 trường hợp cholesteatoma bẩm sinh giai đoạn Potsic III được phẫu thuật, bước đầu chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: bệnh nhân trung bình 5,5±3,6 tuổi; Tất cả bệnh nhân được theo dõi ít nhất 6 tháng cho thấy màng nhĩ liền kín trong 36 trường hợp, tỷ lệ cải thiện sức nghe là 28 trường hợp. Có 26 ca không có tồn dư cholesteatoma sau phẫu thuật lần 1, 12 ca tồn dư sau lần thứ 1 và 2 ca trải qua phẫu thuật lần 3 để loại bỏ bệnh tích; chưa phát hiện trường hợp nào xảy ra tai biến trong và sau phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật trên bệnh nhân cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn Potsic III là an toàn, đem lại kết quả tốt, giúp loại bỏ bệnh tích và cải thiện sức nghe cho bệnh nhân, tỷ lệ tai biến thấp, nhưng tỷ lệ tái phát còn cao.

4 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức / Nguyễn Khắc Đông, Dương Trọng Hiền, Nguyễn Hoàng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 38 - 42 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán GIST dạ dày và được phẫu thuật cắt u tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2023. Dữ liệu thu thập hồ sơ từ bệnh án, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Độ tuổi trung bình 56,0 ± 15,2. Tỉ lệ nam/nữ là 1,09/1. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng vùng thượng vị (56,3%), khối u kích thước dao động từ 10 đến 285 mm, chủ yếu là u tế bào hình thoi với 47/48 trường hợp chiếm 97,9%, 22 bệnh nhân (45.8%) được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi, 26 bệnh nhân (54,2%) trường hợp được mổ mở, cắt hình chêm là phương án được áp dụng chủ yếu (81,3%), thời gian mổ trung bình là 116,1±54,7 phút, thời gian hậu phẫu trung bình 7,1±2,1 ngày. Kết luận: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu cho GIST dạ dày. Chẩn đoán cần kết hợp lâm sàng, hình ảnh học và mô bệnh học. Lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào cơ sở y tế và thói quen phẫu thuật viên.

5 Kết quả tạo hình thân đốt sống bằng bơm cement sinh học có bóng qua cuống ở bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương tại Bệnh viện Hữu Nghị / Nguyễn Minh Đức, Trần Cửu Long Giang, Trần Mạnh Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 67 - 72 .- 610

Bơm cement có bóng ở bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương giúp giảm đau sớm, khôi phục chiều cao đốt xẹp, chỉnh gù hiệu quả và giảm biến chứng rò cement. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả bơm cement có bóng ở khoa Ngoại Thần kinh Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Hữu Nghị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp không đối chứng 46 bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương với 46 đốt xẹp được phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng bơm cement sinh học có bóng qua cuống tại Khoa Ngoại Thần kinh Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Hữu Nghị từ tháng 6 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. Kết quả: Tuổi trung bình 80.4 ± 7.4; tuổi > 75 chiếm 82.6%; tỉ lệ nữ 71.7%; nam 28.3%; 95.7% xẹp do nguyên nhân chấn thương; VAS trung bình trước mổ 7.8 ± 1.5; 67.4% đốt xẹp nằm ở vùng bản lề (T11 L1), 30.4% thắt lưng (L2 L4), 2.2% ngực (T10). Điểm VAS trung bình sau mổ 24h 1.5 ± 1.3, VAS trung bình sau 3 tháng 0.4 ± 0.9; VAS cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0.001). Góc xẹp thân đốt, góc gù cột sống, góc Cobb cải thiện rõ rệt so với trước bơm (p < 0.001). Hiệu quả khôi phục chiều cao sau bơm ở mức tốt và rất tốt 87%; Hiệu quả chỉnh gù ở mức cao và rất cao 67.4%. Tai biến tràn cement bờ trước thân đốt sống 17.4%; 2.2% tràn đĩa đệm; 2.2% tràn mạch máu trước thân đốt sống. Biến chứng: xẹp đốt sống mới sau bơm 4.3%. Đánh giá chất lượng cuộc sống qua thang điểm MacNab sau 3 tháng: 93.5% tốt và rất tốt; 6.5% trung bình. Kết luận: Tạo hình thân đốt sống bằng bơm cement sinh học có bóng ở bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương cho kết quả cải thiện lâm sàng tốt, giúp khôi phục chiều cao, chỉnh gù hiệu quả và ít biến chứng.

6 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ho ra máu được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Đinh Văn Lượng, Trịnh Thị Hằng, Hoàng Thuỷ // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 76 - 80 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ho ra máu được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung Ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, trên 205 người bệnh ≥16 tuổi, được phẫu thuật ho ra máu, tại Bệnh viện Phổi Trung ương, từ tháng 1/2018 đến tháng 12 năm 2023. Kết quả: Tuổi trung bình là 50 tuổi, nam giới chiếm 76%. Có 41% các bệnh nhân có tiền sử ho ra máu trước khi nhập viện, đa số các bệnh nhân có tiền sử bệnh phổi trước đó, trong đó hay gặp nhất là lao phổi, chiếm 55.6%. Thời gian từ lúc ho ra máu đến khi nhập viện trung bình là 15 ngày Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 99 bệnh nhân ho ra máu mức độ nhẹ, chiếm tỷ lệ 48.3%, có 58 bệnh nhân ho ra máu mức độ trung bình, chiếm tỉ lệ 28.3%, có 47 bệnh nhân ho ra máu mức độ nặng, chiếm tỉ lệ 22.9%. Tổn thương mô bệnh gặp nhiều nhất là nấm Aspergillus (chiếm 40.5%), đứng thứ 2 là viêm lao và giãn phế quản, chiếm lần lượt 22,9% và 16.1%. Hình ảnh tổn thương trên cắt lớp vi tính khá đa dạng, 3 tổn thương hay gặp nhất là nốt, đông đặc và u nấm, với tỉ lệ lần lượt là 33.7%, 41.5%, 48.3%. Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 109 bệnh nhân có bất thường mạch, chiếm tỷ lệ 53.2% tổng số bệnh nhân. Tổn thương mạch máu chủ yếu ở hệ động mạch phế quản. Các hình thái tổn thương mạch: giãn cuống, tăng sinh, thân xoắn vặn, giả phình. Tổn thương hay gặp nhất là giãn cuống (84/109 bệnh nhân có tổn thương mạch). Tổn thương dạng xoắn vặn thân mạch máu và giả phình ít gặp hơn. Kết luận: Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 50. Số bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 76.1%. Có 41% số bệnh nhân có tiền sử ho ra máu trước khi nhập viện. Có 55.6 % bệnh nhân có tiền sử bệnh lao phổi trước đó. Thời gian từ lúc ho ra máu đến khi nhập viện trung bình là 15 ngày. Mức độ ho ra máu: nhẹ (99 bệnh nhân, chiếm 48.3%), trung bình (58 bệnh nhân, 28.3 %), nặng (47 bệnh nhân, 22.9%). Tổn thương trên cắt lớp vi tính rất đa dạng, 3 tổn thương hay gặp nhất là nốt đông đặc, hang. Tổn thương mạch hay gặp nhất là giãn cuống.

7 Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân nhồi máu não diện rộng được phẫu thuật mở sọ giảm áp y / Nguyễn Trọng Hiệp, Trần Trung Kiên, Nguyễn Vũ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 80 - 85 .- 610

Nghiên cứu 30 bệnh nhân nhồi máu não diện rộng được phẫu thuật mở sọ giảm áp từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 1 năm 2025 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tuổi trung bình là 59,1 ± 11,2; tỉ lệ nam/nữ là 2,75/1; điểm NIHSS trung bình trước phẫu thuật là 18,4 ± 3,0; toàn bộ bệnh nhân có điểm ASPECTS ≤ 5. Cắt lớp vi tính: 76,7% bệnh nhân có di lệch đường giữa < 10 mm, 23,3% vượt quá 10 mm. Ra viện: 90% bệnh nhân sống, tử vong 10%. 27 bệnh nhân sau 6 tháng: 55,6% đạt kết quả chức năng tốt (mRS 0–3) và 44,4% có kết quả xấu (mRS 4–6). Phẫu thuật mở sọ giảm áp ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng là một phương pháp khả thi, an toàn với tỷ lệ tử vong thấp sau phẫu thuật.

8 Đặc điểm hình ảnh nội soi mũi xoang, CT-scan và MRI của viêm xoang do nấm xâm lấn cấp tính / Lý Xuân Quang, Lê Quang Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 85 - 89 .- 610

Mô tả đặc điểm hình ảnh nội soi mũi xoang, CT-scan và MRI ở bệnh nhân (BN) AIFRS được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 90 BN, chia làm 3 nhóm: 30 BN AIFRS, 30 BN viêm xoang cấp do vi khuẩn và 30 BN ung thư mũi xoang. Các dữ liệu về lâm sàng, nội soi, CT-scan và MRI được thu thập và phân tích. Kết quả: Nhóm AIFRS có tỷ lệ đái tháo đường cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không nấm (non-AIFRS) (63,3% so với 31,7%, p=0,004). Trên nội soi, “hoại tử niêm mạc quan sát trong phẫu thuật” là dấu hiệu đặc trưng (86,2% ở AIFRS so với <24% ở các nhóm khác). Trên CT-scan, các dấu hiệu thường gặp là “thâm nhiễm mỡ quanh xoang hàm” (63,3%) và “hủy xương xoang bướm” (46,7%), ngoài ra “phì đại cơ vận nhãn” là một dấu hiệu nổi bật (43,3% ở AIFRS so với 0% ở nhóm vi khuẩn). MRI cho thấy các dấu hiệu xâm lấn mạch máu là đặc trưng nhất, nổi bật là “thuyên tắc động mạch bướm khẩu cái” (79,3% so với <8%), “huyết khối xoang hang” (26,7% so với <4%) và “hẹp/tắc động mạch cảnh trong” (30,0% so với 0%) ở các nhóm còn lại. Kết luận: AIFRS có những đặc điểm hình ảnh học đặc trưng trên cả ba phương tiện. Nội soi phát hiện hoại tử niêm mạc; CT-scan nhạy với hủy xương và xâm lấn mô mềm ngoài xoang; MRI vượt trội trong việc xác định các biến chứng mạch máu. Việc nhận diện sớm các dấu hiệu này có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng chẩn đoán và điều trị.

9 Hiệu quả của chiến dịch tăng cường vệ sinh tay tại Bệnh viện Trưng Vương giai đoạn 2022 – 2025 / Nguyễn Thị Quỳnh Nhung, Huỳnh Ngọc Hớn, Chu Thị Hải Yến, Ngô Phương Trinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 328 - 331 .- 610

Đánh giá hiệu quả của chiến dịch can thiệp tăng cường vệ sinh tay (VST) đối với nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương giai đoạn 2022 – 2025, thông qua các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ VST và đúng kỹ thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu can thiệp mô tả, so sánh trước và sau can thiệp, đối tượng là toàn bộ NVYT tại các khoa lâm sàng được quan sát trong quá trình chăm sóc BN. Nghiên cứu gồm ba giai đoạn: trước can thiệp (quý 3/2022 – quý 2/2023), sau can thiệp lần 1 (quý 3/2023 – quý 2/2024) tập trung tăng tỷ lệ thực hiện VST, và sau can thiệp lần 2 (quý 3/2024 – quý 2/2025) tập trung cải thiện kỹ thuật thực hiện đúng 6 bước VST. Kết quả: Tỷ lệ NVYT có thực hiện VST tăng từ 51,9% (quý 3/2022) lên 96,4% (quý 1/2025) (p < 0,05). Tỷ lệ thực hành đúng 6 bước VST theo WHO cũng tăng rõ rệt, từ 3,4% lên 67,9% (p < 0,05). Hiệu quả cải thiện rõ rệt nhất được ghi nhận sau giai đoạn can thiệp lần 2.

10 Kháng kháng sinh của vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu trên bệnh nhân nội trú điều trị tại Bệnh viện Hữu Nghị / Bùi Trúc Loan // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- .- 610

Xác định một số căn nguyên vi sinh gây nhiễm khuẩn tiết niệu thường gặp trên bệnh nhân nội trú điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị. Mô tả tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu trên bệnh nhân nội trú điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được thực hiện tại 18 khoa lâm sàng của bệnh viện Hữu Nghị. Có 114 bệnh nhân điều trị nội trú được chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu, có kết quả nuôi cấy nước tiểu dương tính và thực hiện kháng sinh đồ được đưa vào nghiên cứu. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi xây dựng sẵn. Kết quả: Trong các loại vi khuẩn gây bệnh phân lập được E.coli chiếm tỷ lệ cao nhất 48,2%, xếp thứ hai là Kleb.pneumoniae 21,9% và Pseu.aeruginosa xếp thứ ba chiếm 14%. E.coli có tỷ lệ đề kháng cao với Amoxcillin+ Acid clavulanic (81,5%) và Cefoperazon (73,8%). Kleb.pneumoniae có tỷ lệ đề kháng cao với Cefuroxime (95,7%) và Cefoperazon (89,5%). Pseu.aeruginosa có tỷ lệ đề kháng cao và kháng hoàn toàn với nhiều loại kháng sinh nhất Ertapenem, Cefuroxime, Cotrimoxazol, Ampicillin + Sulbactam, Amoxcillin+ Acid clavulanic. Kết luận: Các vi khuẩn gram âm là căn nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn tiết niệu (91,2%). Trong nghiên cứu của chúng tôi hầu hết các chủng vi khuẩn phân lập được đều có tỷ lệ đa kháng kháng sinh rất cao, cao nhất là đối với Kleb.pneumoniae 96%.