CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
1 Kích thước niệu quản trên cắt lớp vi tính và mối liên quan với các chỉ số nhân trắc / Ngô Xuân Khoa, Vũ Thành Trung, Võ Tiến Huy, Nguyễn Ngọc Ánh, Nguyễn Tuấn Sơn, Ngô Thuỳ Anh Ngọc // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 108-114 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa chiều dài và đường kính niệu quản với các chỉ số nhân trắc cơ thể, đồng thời đánh giá giá trị của khoảng cách UPJ–UVJ trong ước tính chiều dài niệu quản trên cắt lớp vi tính hệ tiết niệu. Kết quả cho thấy khoảng cách UPJ–UVJ trung bình khoảng 18 cm và không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai bên hoặc giữa nam và nữ (p > 0,05). Không ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa giữa chiều dài hoặc đường kính niệu quản với chiều cao, cân nặng và BMI (r < 0,12; p > 0,05). Khoảng cách UPJ–UVJ có xu hướng tương quan dương với chiều dài niệu quản (r = 0,317), tuy nhiên chưa đạt ý nghĩa thống kê. Nhìn chung, kích thước niệu quản không cho thấy mối liên quan rõ ràng với các chỉ số nhân trắc.

2 Đặc điểm đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 và một số yếu tố liên quan kết quả điều trị ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản / Nguyễn Văn Út, Kha Hữu Nhân, Đặng Duy Thanh, Nguyễn Thị Diễm // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 115-124 .- 610

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một trong những rối loạn tiêu hóa thường gặp. Đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển hóa một số thuốc nhóm PPIs, nhóm thuốc điều trị chính. Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 90 người bệnh được chẩn đoán GERD có nội soi thực quản dạ dày từ 06/2025 đến 12/2025. Kết quả nghiên cứu: tuổi trung bình 60,5 ± 14,8, nữ chiếm 52,2%. Kiểu gen GG, GA và AA lần lượt chiếm 40,0%, 38,9% và 21,1%. Tần suất allele G là 59,4% và allele A là 40,6%. Tỷ lệ hết triệu chứng nóng rát và trớ sau điều trị đạt 82,2%. Điểm GERD-Q giảm có ý nghĩa từ trung vị 8,0 [7,0 – 10,0] còn 6,0 [5,0 – 8,0]. Kiểu gen GA+AA có khả năng đáp ứng điều trị cao hơn nhóm GG. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị: nhóm tuổi 40 – 59, nhóm tuổi ≥ 60 và điểm GERD-Q trước điều trị càng cao thì khả năng đáp ứng điều trị càng tăng. Đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 có tiềm năng hỗ trợ đánh giá kết quả điều trị GERD.

3 Kết quả phẫu thuật đục thể thủy tinh sử dụng laser femtosecond tại Bệnh viện Mắt Trung ương (2017 – 2023) / Phạm Thị Minh Khánh, Nguyễn Xuân Hiệp, Phạm Thị Thu Thủy // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 125-133 .- 610

Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật đục thể thủy tinh sử dụng laser femtosecond (FLACS) tại Bệnh viện Mắt Trung ương giai đoạn 2017 – 2023. Phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 134 mắt (105 bệnh nhân) được phẫu thuật FLACS từ 01/2017- 12/2023. Bệnh nhân được theo dõi sau mổ 1 tuần, 1 tháng (134 mắt), 3 tháng (110 mắt), 1 năm (96 mắt), 3 năm (79 mắt) và 5 năm (54 mắt). Tuổi trung bình 50,62 ± 14,98; nam giới chiếm 60%. Tỷ lệ mắt có thị lực không chỉnh kính ≥ 20/40 đạt 85,1% sau 1 tuần và duy trì ≥ 92% từ 1 tháng đến 5 năm. Khúc xạ tương đương cầu (SE) trung bình ổn định quanh -0,19D đến -0,20D trong 5 năm theo dõi; 90,7% mắt có SE trong khoảng ±0,5D và 100% trong khoảng ±1,0D sau 5 năm. Tỷ lệ mở bao trước hoàn chỉnh đạt 88,06%, 100% chính tâm giác mạc. Tỷ lệ không biến chứng trong mổ đạt 82,84%; biến chứng muộn thường gặp nhất là đục bao sau (11,94%). Phẫu thuật FLACS là phương pháp an toàn, hiệu quả, đạt kết quả tốt và ổn định lâu dài.

4 Diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và mối liên quan với biến chứng nội viện trong viêm tụy cấp do tăng triglyceride: Kết quả bước đầu từ nghiên cứu quan sát tiến cứu / Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Thị Hồng Ngọc, Huỳnh Hiếu Tâm // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 165-174 .- 610

Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 32 bệnh nhân viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu tại Bệnh viện Trưng Vương nhằm mô tả diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và khảo sát mối liên quan bước đầu giữa chỉ số này với các biến chứng nội viện. Độ thanh thải triglyceride tăng dần từ 33,8 ± 13,2% sau 24 giờ lên 52,4 ± 16,7% sau 48 giờ và 66,3 ± 18,2% sau 72 giờ. Tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm thanh thải nhanh là 62,5% tại thời điểm 48 giờ. Độ thanh thải triglyceride tại 48 giờ và 72 giờ có tương quan nghịch với số ngày nằm viện, với r lần lượt là -0,46 và -0,53. Độ thanh thải triglyceride cho thấy khả năng phân biệt bước đầu đối với biến chứng tại tụy là 0,89 (KTC 95%: 0,69 – 1,00) ở cả hai thời điểm, trong khi AUC đối với biến chứng ngoài tụy lần lượt là 0,90 (KTC 95%: 0,79 – 1,00) và 0,91 (KTC 95%: 0,81 – 1,00). Kết quả bước đầu gợi ý độ thanh thải triglyceride có thể là một chỉ số động hữu ích trong theo dõi sớm ở giai đoạn nội viện.

5 Kết quả điều trị đơn trị pembrolizumab ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có bộc lộ PD-L1 ≥ 50% tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Đinh Văn Lượng, Nguyễn Thị Oanh, Lê Tú Linh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 175-182 .- 610

Điều trị miễn dịch đơn trị pembrolizumab ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) có PD-L1 ≥ 50% đem lại kết quả vượt trội trong thời gian gần đây. Nghiên cứu thực hiện trên 49 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn di căn, không có đột biến gen EGFR, ALK tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 2018 đến 10/2025. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đáp ứng (ORR) của nhóm nghiên cứu là 65,3% (hoàn toàn 6,1%, một phần 59,2%), giữ nguyên 14,2% và kiểm soát bệnh là 79,5%, tiến triển là 20,4%. Trung vị thời gian sống bệnh không tiến triển bệnh (PFS) 13,27 tháng, cao nhất là 29 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ (OS) là 20,13 tháng và cao nhất là 60 tháng. Tác dụng phụ không mong muốn chính là suy giáp, suy thượng thận, phản ứng trên da và viêm phổi chiếm tỉ lệ thấp và thường ở mức độ nhẹ. Như vậy, điều trị đơn trị Pembrolizumab trên bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn di căn có bộc lộ PD-L1 ≥ 50% cải thiện đáng kể về tỷ lệ đáp cũng cũng như thời gian sống còn toàn bộ.

6 Phân tích tin sinh học về biểu hiện, tiên lượng và ý nghĩa sinh học của FOS trong ung thư vú / Nguyễn Thanh Thúy, Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Hoàng Anh Duy, Quang Trọng Minh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 27-43 .- 610

Nghiên cứu này nhằm phân tích đặc điểm biểu hiện, giá trị tiên lượng và ý nghĩa sinh học tiềm năng của FOS trong ung thư vú bằng cách khai thác các cơ sở dữ liệu công khai và các công cụ tin sinh học, bao gồm TCGA-BRCA, Kaplan-Meier Plotter, bc-GenExMiner, GeneMANIA, STRING, DAVID và miRmap. Kết quả cho thấy FOS biểu hiện giảm rõ rệt ở mức mRNA trong mô ung thư vú nguyên phát so với mô vú bình thường, đồng thời mức biểu hiện thay đổi theo giai đoạn bệnh và phân nhóm ung thư vú. Phân tích sống còn ghi nhận rằng biểu hiện FOS cao hơn liên quan đến kết cục sống còn thuận lợi hơn, bao gồm sống còn không tái phát và sống còn không di căn xa. Phân tích mạng lưới cho thấy FOS/c-Fos liên quan chặt chẽ với các thành viên của họ JUN/FOS và phức hợp AP-1. Phân tích làm giàu chức năng gợi ý rằng các gen/protein liên quan đến FOS/FOS được làm giàu trong các quá trình điều hòa phiên mã, tín hiệu estrogen, MAPK và đáp ứng stress. Ngoài ra, hsa-miR-221-3p và hsa-miR-222-3p được dự đoán có khả năng điều hòa hậu phiên mã FOS. Nhìn chung, FOS là một dấu ấn sinh học tiềm năng trong ung thư vú; tuy nhiên, các kết quả hiện tại chủ yếu dựa trên dữ liệu mRNA và phân tích tin sinh học hồi cứu, do đó cần được xác nhận thêm bằng dữ liệu protein, mô hình lâm sàng đa biến và các nghiên cứu thực nghiệm.

7 Khảo sát phổ biến thể gen gây bệnh ở nhóm người bệnh chậm phát triển tâm thần nặng bằng giải trình tự hệ gen mã hóa / Hoàng Thu Lan, Hồ Cẩm Tú, Đào Thị Trang, Nguyễn Phương Mai, Nguyễn Thị Khánh Vân, Lê Thị Hạnh, Lương Thị Lan Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 44-55 .- 610

Khảo sát phổ biến thể gen và mô tả đặc điểm lâm sàng ở nhóm người bệnh có CPTTT nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 18 người bệnh CPTTT bằng giải trình tự hệ gen mã hóa (Exome Sequencing - ES/WES) tại trung tâm di truyền lâm sàng - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả, phát hiện được 3 trường hợp mang biến thể gen MECP2 (16,7%), 15 trường hợp còn lại phát hiện các biến thể rải rác ở các gen khác nhau chiếm 83,3%. Nhóm MECP2 có tỷ lệ động kinh cao hơn nhóm mang biến thể các gen khác (66,7% so với 26,7), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê do số lượng mẫu còn nhỏ (p = 0,245). Về tuổi khởi phát, thoái triển thần kinh và biểu hiện tự kỷ sự khác biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê. Như vậy, ngoài biến thể gen MECP2 được phát hiện với tỷ lệ cao nhất, cũng phát hiện đc 15 biến thể nằm rải rác ở các gen khác nhau, cho thấy xét nghiệm ES là phương pháp có hiệu quả cao trong chẩn đoán nguyên nhân di truyền cho nhóm người bệnh CPTTT nặng.

8 Mối liên quan thăm dò giữa biến thể gen thụ thể vitamin D và nồng độ 25-hydroxyvitamin D ở trẻ mắc sốt xuất huyết Dengue / Phan Việt Hưng, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Minh Phương // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 56-65 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát, với tính chất thăm dò, mối liên quan giữa các biến thể gen thụ thể vitamin D (VDR) và nồng độ 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] huyết thanh ở trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 267 bệnh nhi dưới 16 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ và Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau từ tháng 02/2024 đến tháng 12/2025. Trong 267 bệnh nhi, tuổi trung vị là 10,9 năm; nữ chiếm 43,8%; SXHD nặng và sốc lần lượt là 34,5% và 34,1%. Nồng độ 25(OH)D được định lượng trong pha cấp; bốn biến thể gen VDR gồm rs2228570 (FokI T>C), rs7975232 (ApaI G>T), rs731236 (TaqI T>C) và rs1544410 (BsmI G>A) được xác định kiểu gen. Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa biến thể gen VDR và 25(OH)D. Sau hiệu chỉnh, rs7975232 (ApaI G>T) theo mô hình mang alen T ghi nhận tín hiệu liên quan thăm dò với 25(OH)D thấp hơn (β = -3,54; KTC 95%: -6,53 đến -0,54; p = 0,021). Haplotype G-T-T theo thứ tự BsmI–ApaI–TaqI cũng ghi nhận tín hiệu liên quan thăm dò với 25(OH)D thấp hơn (β = -3,22; KTC 95%: -5,92 đến -0,52; p = 0,020). Các phát hiện này là tín hiệu thăm dò, chưa chứng minh quan hệ nhân quả và cần được xác nhận trong các nghiên cứu độc lập.

9 Bất thường di truyền tế bào phát hiện bằng kỹ thuật FISH và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đa u tuỷ xương / Đặng Thị Ngọc Ánh, Trương Văn Lợi, Nguyễn Ngọc Hòa // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 66-77 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 66 bệnh nhân chẩn đoán đa u tủy xương tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ tháng 01/2021 đến tháng 08/2025, nhằm xác định tỷ lệ bất thường di truyền tế bào bằng kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) và đánh giá mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đa u tuỷ xương. Kết quả: bất thường được phát hiện ở 18 bệnh nhân (27,3%). Trong đó, dups(1q) chiếm tỷ lệ cao nhất (16,7%), tiếp theo là del(13q) (9,1%), del(17p) (3,0%); không ghi nhận đột biến chuyển đoạn liên quan vùng gen IGH; 01 trường hợp đồng thời mang del(13q) và dups(1q). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định ba yếu tố có liên quan với sự hiện diện bất thường di truyền bằng FISH: nồng độ Canxi huyết thanh cao (OR = 1,33; p = 0,006), giai đoạn ISS cao (OR = 11,82; p = 0,009) và nồng độ ALP huyết thanh tăng (OR = 1,18; p = 0,025).

10 Một số đặc điểm kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Thị Thu Huyền, Lê Mạnh Thường, Nguyễn Đức Nghĩa, Ngô Xuân Khoa, Lê Thanh Dũng, Trần Quang Lộc, Ngô Thành Ý // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 78-85 .- 610

Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm về kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên 173 phim chụp cắt lớp vi tính sọ não tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết quả cho thấy chiều dài trung bình của động mạch nền là 24,19 ± 4,02 mm; đường kính trung bình tại các vị trí nguyên ủy, đoạn giữa, và tận cùng lần lượt là 3,5 ± 0,55 mm, 3,23 ± 0,49 mm, và 3,66 ± 0,64 mm và đường kính trung bình chung là 3,46 ± 0,51 mm. Các kích thước động mạch nền của nam giới lớn hơn đáng kể so với nữ giới (p < 0,05). Không ghi nhận mối liên quan giữa tuổi và chiều dài động mạch nền. Ở nữ giới, đường kính nguyên ủy ở nhóm tuổi già cao hơn đáng kể nhóm tuổi trung niên (p = 0,040). Ở nam giới, đường kính đoạn giữa ở nhóm tuổi già cao hơn nhóm tuổi trung niên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,017). Kết quả cho thấy kích thước động mạch nền có sự khác biệt theo giới tính, trong khi sự khác biệt theo nhóm tuổi chỉ được ghi nhận ở một số vị trí đường kính động mạch khi phân tích riêng theo từng giới.