CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Tiếng Anh
1 Đề ngữ, chủ ngữ và tác nhân trong câu tiếng Việt và tiếng Anh theo lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống / Trần Thu Thủy // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 73-80 .- 400
Trong lý thuyết Ngữ pháp Chức năng Hệ thống (Systemic Functional Grammar - SFG), Đề ngữ (Theme), Chủ ngữ (Subject) và Tác nhân (Actor) là ba chức năng ngữ nghĩa khu biệt (nhưng không xuất hiện biệt lập, xuất hiện trong mối quan hệ với các chức năng khác từ cùng một nét nghĩa). Đề ngữ là điểm xuất phát của thông điệp, Chủ ngữ là sự bảo hành cho sự trao đổi thông tin còn Tác nhân như là người hoặc vật thực hiện hành động trong quá trình. Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, ba vai trò này có thể trùng khớp trong những câu trần thuật đơn giản nhưng thường tách biệt rõ ràng trong các cấu trúc bị động, đảo ngữ hoặc khi xuất hiện Đề ngữ phi chủ ngữ.
2 Dịch khẩu hiệu quảng cáo Anh - Việt theo hướng tiếp cận chức năng - văn hoá / Vũ Thị Thanh // .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 40-46 .- 400
Bài viết này khảo sát cách thức dịch sáng tạo góp phần bản địa hóa các khẩu hiệu quảng cáo tiếng Anh sang tiếng Việt, nhằm đồng bộ hóa bản sắc thương hiệu với sự hấp dẫn về mặt văn hoá. Dựa trên lý thuyết Skopos và các khái niệm thuộc ngữ dụng học văn hoá, nghiên cứu tiến hành phân tích 15 cặp khẩu hiệu quảng cáo, trong đó chọn ra phân tích sâu 7 trường hợp minh hoạ, và phỏng vấn 5 chuyên gia trong lĩnh vực dịch thuật và tiếp thị. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 6 chiến lược chính: chuyển đổi từ vựng, tái cấu trúc cú pháp, điều chỉnh ẩn dụ, thay thế văn hoá, tái thiết cảm xúc và tương đương chức năng. Các chiến lược này có thể được vận dụng kết hợp nhằm duy trì hiệu lực thuyết phục và sự phù hợp văn hoá. Các chuyên gia được phỏng vấn nhấn mạnh vai trò của người dịch như những đồng tác giả sáng tạo, có nhiệm vụ dung hoà giữa giọng điệu thương hiệu, định hướng truyền thông và kỳ vọng của công chúng mục tiêu. Bài viết đề xuất mở rộng khái niệm năng lực dịch thuật theo hướng bao gồm cả sự sáng tạo, nhận thức văn hoá và tư duy chiến lược; đồng thời khuyến nghị tích hợp mô hình chuyển ngữ sáng tạo vào chương trình đào tạo biên dịch viên tại Việt Nam. Những phát hiện này có ý nghĩa thiết thực đối với lý thuyết và thực hành chuyên nghiệp trong lĩnh vực tiếp thị xuyên văn hoá.
3 Phân tích cấu trúc bài phê bình sách chuyên ngành ngôn ngữ học viết bằng tiếng Anh / Nguyễn Bích Hồng // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 32-41 .- 400
Nghiên cứu hướng tới xây dựng mô hình cấu trúc bài phê bình sách Ngôn ngữ học để làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà Ngôn ngữ học ở Việt Nam và đóng góp vào kho tàng lí luận về phân tích thể loại trong và ngoài nước.
4 Biểu hiện của phương châm cộng tác trong khẩu hiệu tuyên truyền tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) / Trần Thanh Dũ // .- 2025 .- Số 2) .- Tr. 42-51 .- 400
Khẩu hiệu tuyên truyền cũng là một sản phẩm ngôn từ nên quá trình giao tiếp qua khẩu hiệu tuyên truyền cũng không nằm ngoài quy luật trên. Đó là quá trình truyền gửi thông điệp từ một nhóm đối tượng này (nhà tuyên truyền, nhà quản lí xã hội) sang một nhóm đối tượng khác (đối tượng được tuyên truyền).
5 Hiện tượng mơ hồ trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thùy Giang // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 24-32 .- 400
Bài viết này được thực hiện nhằm trình bày một số lí luận về mơ hồ, làm rõ tác dụng của mơ hồ trong việc thu hút sự chú ý, tạo ấn tượng mạnh mẽ và tăng cường hiệu quả truyền thông cho thương hiệu thông qua phân tích một số ví dụ cụ thể trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh. Những phát hiện này không chỉ đóng góp vào việc nghiên cứu sâu hơn về chiến lược ngôn ngữ trong quảng cáo mà còn cung cấp gợi ý thiết thực cho các nhà quảng cáo nhằm thiết kế thông điệp hiệu quả hơn.
6 Động từ liên kết trong tiếng Anh và các đơn vị tương đương trong tiếng Việt: Tiếp cận từ ngôn ngữ học đối chiếu / Lương Bá Phương // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 66-72 .- 400
Bài báo này trình bày nghiên cứu đối chiếu động từ liên kết trong tiếng Anh và các biểu thức tương đương trong tiếng Việt trên ba phương diện chính: cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Dựa trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu và ngữ pháp chức năng, nghiên cứu xác lập khung phân tích liên hệ giữa các động từ liên kết tiếng Anh như be, become, seem,vv và các biểu thức tương ứng trong tiếng Việt như là, trở thành, có vẻ, trông, dường như,vv. Kết quả phân tích cho thấy rằng mặc dù khác biệt về hình thức ngữ pháp-tiếng Anh thiên về cấu trúc cú pháp cố định, trong khi tiếng Việt linh hoạt và phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh-cả hai ngôn ngữ đều có các phương tiện diễn đạt tương đồng về chức năng: định danh, mô tả đặc điểm, biểu thị cảm xúc và thay đổi trạng thái. Ngoài ra, bài báo cũng xây dựng bảng phân loại đối chiếu giữa các nhóm động từ liên kết và biểu thức tiếng Việt theo chức năng và mức độ tương đương. Bài viết góp phần làm rõ bản chất của cấu trúc liên kết trong hai ngôn ngữ, từ đó cung cấp cơ sở thực tiễn cho giảng dạy ngữ pháp, biên - phiên dịch, và phát triển tài liệu giáo dục ngôn ngữ có tính liên hệ đối chiếu.
7 Problems encountered by English-majored students at Duy Tan university in using English collocations built on the pattern “I + cognitive non-factive verb and epistemic adverb” for communication / Tran Thi Minh Giang // .- 2020 .- Số 05(42) .- P. 132-145 .- 420
This study aims at examining the problems that English-majored students at Duy Tan University in Da Nang, Viet Nam encounter in the use of the English pattern “I + Cognitive Non-factive Verb + Epistemic Adverb”. The pattern is herein referred to as “I + CNFV and EA” for short.
8 A thematic analysis of IELTS academic writing task 1 samples from IELTS Cambridge books / Nguyen Thi Bao Yen // .- 2025 .- Số 05(72) .- P. 189-197 .- 420
Focuses on analyzing the types of themes used in IELTS academic writing task 1 samples from Cambridge IELTS books, identifying patterns in their use and discussing their implications for writing proficiency.
9 Anh ngữ hóa đội ngũ cán bộ : nghiên cứu trường hợp tại một trường Đại học Dân lập / Tôn Nữ Mỹ Nhật // .- 2022 .- Số 02(51) .- Tr. 46-56 .- 420
Đánh giá thực trạng các hoạt động Anh ngữ hóa đội ngũ của Trường; nắm bắt những thuận lợi, khó khăn của đội ngũ cán bộ trong quá trình thực hiện mục tiêu Anh ngữ hóa, nắm bắt các nhu cầu cụ thể về phát triển năng lực tiếng Anh của các GV tại DTU, và đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn chiến lược Anh ngữ hóa đội ngũ của DTU.
10 Metadiscursive devices in EMI lectures conducted by non-native English-speaking lecturers: A case at Duy Tan university, Vietnam = Các phương tiện siêu ngôn ngữ trong các bài giảng chuyên ngành bằng Tiếng Anh của giảng viên không phải người bản xứ: Một ng / Nguyen Dac Quynh Anh // .- 2023 .- No. 01(56) .- P. 120-128 .- 420
The current study examined metadiscursive devices in EMI lectures conducted by a non-native English-speaking lecturer at Duy Tan University, a notable private university in central Vietnam, using the taxonomy developed by Dafouz & Perucha (2010). It was found that many MDs are employed in three different phases in their EMI classes, including: Discourse structuring, Interaction and Conclusion phases, aiming to improve the effectiveness of the lectures.