CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ngôn ngữ

  • Duyệt theo:
21 So sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô tiếng Anh theo lí thuyết đánh giá / Phạm Thị Phượng, Nguyễn Thị Hằng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 69-76 .- 420

Nghiên cứu này phân tích và so sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô, sử dụng khung lí thuyết Đánh giá do Martin và White (2005) đề xuất. Kết quả phân tích phần kết luận của các bài báo kinh tế viết bằng tiếng Anh trên các tạp chí uy tín cho thấy, các tác giả sử dụng Giọng điệu dị thanh cao, đặc biệt là Trao đổi và Phát biểu để tạo sự gắn kết với người đọc và thể hiện sự tự tin trong lập luận. So sánh giữa phần kết luận trong bài báo kinh tế vĩ mô và bài báo kinh tế vi mô cho thấy sự khác biệt thú vị về tần suất sử dụng một số Giọng điệu. Sự khác biệt này có thể liên quan đến bản chất của từng lĩnh vực và đối tượng độc giả mục tiêu. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về cách thức các tác giả sử dụng Giọng điệu trong giao tiếp khoa học, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố ngữ cảnh khi phân tích Giọng điệu.

22 Ngôn ngữ mạng và xu thế sử dụng tiếng Anh trên mạng (dựa trên cơ sở ngữ liệu tiếng Nga và tiếng Việt) / Ngô Thị Quyên // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 93-102 .- 420

Một trong các biểu hiện của ngôn ngữ mạng là hiện tượng sử dụng tiếng Anh dưới nhiều hình thức khác nhau. Bài báo chứng minh hiện tượng sử dụng tiếng Anh là một xu thế đang diễn ra trên trên mạng tiếng Nga và tiếng Việt. Bên cạnh đó bài báo cũng chỉ ra những điểm khác biệt trong việc sử dụng tiếng Anh trên mạng hai ngôn ngữ đến từ nguyên nhân do sự khác nhau về loại hình và hệ chữ viết.

23 Cách xử lí mục từ liên ngành trong một số công trình từ điển thuật ngữ / Quách Thị Gấm // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 29-36 .- 400

Trong khoa học, bên cạnh tính chuyên biệt, phân hóa theo hướng chuyên sâu thì bất kì ngành khoa học, chuyên môn nào trong quá trình hoạt động của mình cũng không thể không có liên hệ đến một hay nhiều ngành khoa học khác. Điều này đã đưa đến sự pha trộn lẫn nhau giữa các hệ thống khái niệm. Do đó, trong các cuốn từ điển chuyên ngành nói chung, từ điển thuật ngữ nói riêng thường có các mục từ mang tính liên ngành (mục từ tiếp nhận, vay mượn từ các ngành khác). Bài viết này tập trung xem xét cách thu thập, xử lí mục từ và nội dung thông tin của các mục từ liên ngành trong một số cuốn từ điển thuật ngữ. Kết quả khảo sát sẽ góp phần làm sáng rõ những đặc trưng của loại mục từ liên ngành trong từ điển.

24 Phân tích diễn tiến đề ngữ trong tiếng Anh (trên cứ liệu các bản tin kinh doanh dạng viết của báo điện tử reuters) / Lê Phương Thảo // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 96-103 .- 420

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định các mô hình diễn tiến đề ngữ (thematic progression) xuất hiện trong 2 bản tin kinh doanh dạng viết của báo điện tử Reuters của Hoa Kỳ. Kết quả nghiên cứu này đặc biệt có ý nghĩa đối với người nói tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ, trong việc viết bản tin bằng tiếng Anh trong học tập lẫn công việc.

25 Biểu thức rào đón trong hành vi ngôn ngữ phàn nàn và sự kiện lời nói phàn nàn / Đào Thị Thanh Huyền // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 15-22 .- 400

Hành vi ngôn ngữ phàn nàn (complain) vốn tiềm tàng nhiều khả năng đe dọa thể diện của đối phương, chính vì thế, các biểu thức rào đón (hedges) được người nói sử dụng như một phương tiện biểu đạt cần thiết để bảo đảm tính lịch sự trong quá trình giao tiếp với đối phương. Thông qua khảo sát, chúng tôi đã chỉ ra bốn biểu thức rào đón được sử dụng nhiều trong hành vi ngôn ngữ phàn nàn và sự kiện lời nói phàn nàn là các kiểu tiền dẫn nhập, yếu tố bù đắp, yếu tố “ngọt hóa” và biện pháp “tháo ngòi nổ”.

26 Chữ viết tiếng Ve / Bùi Đăng Bình // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 142-152 .- 400

Ve là tên tự gọi (autonym) của một nhóm dân tộc thiểu số sinh sống tại xã miền núi Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng. Dân số của nhóm này có hơn 2.000 người nói bản ngữ, và ngôn ngữ của họ thuộc họ ngôn ngữ Bahnaric. Trong bài báo này, một hệ thống chữ viết cho tiếng Ve được xây dựng dựa trên chữ quốc ngữ tiếng Việt, có bổ sung thêm hai chữ cái j và w. Nghiên cứu trước hết phân tích khái niệm “chữ viết” và mô tả bản chất của các hệ thống chữ viết trên thế giới trong tiến trình lịch sử.

27 Hệ thống thanh điệu tiếng Tống ở Việt Nam / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 3-9 .- 400

Ở Việt Nam, tiếng Tống là ngôn ngữ duy nhất thuộc tiểu nhánh Kam – Sui, nhánh Kam - Tai, ngữ hệ Tai – Kadai. Ngôn ngữ này có số lượng người nói rất ít và có nguy cơ tiêu vong cao. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cấu trúc tiếng Tống ở Việt Nam. Bài viết này miêu tả thanh điệu tiếng Tống trên bình diện đồng đại và lịch đại, trong đó có sử dụng phần mềm Praat để làm rõ một số đặc điểm âm học của thanh điệu tiếng Tống. Trên bình diện lịch đại, bài viết cũng sử dụng phương pháp so sánh lịch sử để chỉ ra xu hướng biến đổi của hệ thống thanh điệu từ Proto Kam – Sui đến tiếng Tống.

28 “Tiêu điểm” trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình tiếng Việt / Nguyễn Thị Phương // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 10-17 .- 400

Bài viết nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết đánh giá theo trường phái ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Cụ thể, bài viết đi sâu nghiên cứu về “Tiêu điểm” (Focus) trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt – một khía cạnh quan trọng trong tiểu hệ thống Thang độ (Graduation) thuộc Khung thẩm định (Appraisal framework) của Martin và White (2005).

29 Biểu hiện của nhóm từ có ý nghĩa “mức độ” trong những văn bản tiếng Việt cổ đến trung đại / Trần Hương Thục // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 18-27 .- 400

Bài viết khảo sát nhóm từ biểu thị ý nghĩa “mức độ” trong giai đoạn tiếng Việt cổ đến trung đại dựa trên 16 văn bản tiêu biểu. Kết quả cho thấy một số yếu tố có tần suất xuất hiện cao và ổn định, giữ vai trò trung tâm trong hệ thống. Một số yếu tố từng hoạt động mạnh ở giai đoạn trung đại nhưng dần suy giảm và mất chức năng ngữ pháp. Kết quả cũng cho thấy các phó từ chỉ mức độ cao chiếm ưu thế rõ rệt, trong khi các yếu tố biểu thị mức độ thấp và trung bình (hơi, khá) xuất hiện muộn. Sự biến đổi của nhóm từ mức độ phản ánh xu hướng ngữ pháp hoá để bù đắp và hoàn thiện dải thang độ trong diễn ngôn tiếng Việt qua các thời kì.

30 Vị thế, vai trò của tiếng Phù Lá trong đời sống hiện nay / Phan Hoàng Anh, Phạm Thị Thảo // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 57-67 .- 400

Nghiên cứu chỉ ra đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao gia đình Phù Lá hiện nay là, người Phù Lá sử dụng cả tiếng Phù Lá, tiếng Quan Hoả và tiếng Việt. Trong đó tỉ lệ sử dụng tiếng Quan Hoả là cao nhất. Tiếng Việt có xu hướng được tăng cường học tập và sử dụng đối với trẻ em ở lứa tuổi tiền học đường và tiểu học.