CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngôn ngữ
21 “Phần tử khoảng trống” trong hai bài thơ tạo sinh “bóng chữ” và “bài thơ thừa một chữ chưa” / Hồ Văn Hải // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 141-148 .- 400
Bài viết hướng đến việc tiếp cận thơ tạo sinh của trào lưu “hậu hiện đại” từ cách thức sáng tạo và sử dụng “yếu tố khoảng trống”. Việc miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của hai bài thơ tiêu biểu trong phong trào “hậu hiện đại” sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những đặc điểm và vai trò của “yếu tố khoảng trống” trong thơ tạo sinh. Bên cạnh đó, bài viết còn giúp hoàn thiện thêm bộ công cụ lí luận nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của việc nghiên cứu thơ Việt từ khía cạnh ngôn ngữ.
22 Đối chiếu nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong diễn ngôn án văn Việt Nam và Vương Quốc Anh / Phạm Thị Thùy Dung, Nguyễn Văn Chính, Phan Tuấn Ly // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 87-95 .- 400
Bài viết nghiên cứu đối chiếu các nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong án văn Việt Nam và Vương quốc Anh. Ngữ liệu gồm 10 bản án phúc thẩm (khoảng 120 trang A4) của Tòa án Việt Nam và Vương quốc Anh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp đối chiếu, đồng thời áp dụng thủ pháp thống kê để kiểm đếm tỉ lệ các chỉ tố siêu diễn ngôn. Kết quả cho thấy án văn tiếng Việt chủ yếu làm nổi bật quan điểm của Tòa án bằng chỉ tố nhấn mạnh, sử dụng chỉ tố thái độ biểu đạt mức độ đồng thuận hoặc bác bỏ. Ngược lại, án văn tiếng Anh thể hiện quan điểm của Tòa án đa dạng hơn, không chỉ qua chỉ tố nhấn mạnh mà còn thông qua chỉ tố rào đón và chỉ tố thái độ.
23 Đối chiếu nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thị Thuý Hồng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 55-59 .- 420
Nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh khá phong phú, đa dạng. Về cấu trúc và cách thức cấu tạo từ mới cũng có nhiều sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ. Bài viết này tập trung vào nghiên cứu đối chiếu cấu tạo và ngữ nghĩa của chúng trong hai ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát số lượng, phân tích cách thức cấu tạo từ và phương thức cấu tạo nghĩa của chúng. Kết quả khảo sát cho thấy số lượng từ ngữ chỉ tính cách trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Nhóm từ chỉ tính cách tích cực trong tiếng Việt luôn nhiều hơn nhóm từ chỉ tính cách tiêu cực trong nhiều phạm vi và nhiều hơn số lượng từ trong tiếng Anh. Về cách thức cấu tạo, tiếng Anh thường dùng tiền tố un-, in-.. tiếng Việt sử dụng nhiều các yếu tố cấu tạo từ như: vô, bất...và dùng yếu tố “tính” + một yếu tố chỉ tính cách riêng. Những sự giống và khác nhau này giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt và người Việt học tiếng Anh nắm được nhóm từ này một cách hệ thống, dễ dàng.
24 So sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô tiếng Anh theo lí thuyết đánh giá / Phạm Thị Phượng, Nguyễn Thị Hằng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 69-76 .- 420
Nghiên cứu này phân tích và so sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô, sử dụng khung lí thuyết Đánh giá do Martin và White (2005) đề xuất. Kết quả phân tích phần kết luận của các bài báo kinh tế viết bằng tiếng Anh trên các tạp chí uy tín cho thấy, các tác giả sử dụng Giọng điệu dị thanh cao, đặc biệt là Trao đổi và Phát biểu để tạo sự gắn kết với người đọc và thể hiện sự tự tin trong lập luận. So sánh giữa phần kết luận trong bài báo kinh tế vĩ mô và bài báo kinh tế vi mô cho thấy sự khác biệt thú vị về tần suất sử dụng một số Giọng điệu. Sự khác biệt này có thể liên quan đến bản chất của từng lĩnh vực và đối tượng độc giả mục tiêu. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về cách thức các tác giả sử dụng Giọng điệu trong giao tiếp khoa học, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố ngữ cảnh khi phân tích Giọng điệu.
25 Ngôn ngữ mạng và xu thế sử dụng tiếng Anh trên mạng (dựa trên cơ sở ngữ liệu tiếng Nga và tiếng Việt) / Ngô Thị Quyên // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 93-102 .- 420
Một trong các biểu hiện của ngôn ngữ mạng là hiện tượng sử dụng tiếng Anh dưới nhiều hình thức khác nhau. Bài báo chứng minh hiện tượng sử dụng tiếng Anh là một xu thế đang diễn ra trên trên mạng tiếng Nga và tiếng Việt. Bên cạnh đó bài báo cũng chỉ ra những điểm khác biệt trong việc sử dụng tiếng Anh trên mạng hai ngôn ngữ đến từ nguyên nhân do sự khác nhau về loại hình và hệ chữ viết.
26 Cách xử lí mục từ liên ngành trong một số công trình từ điển thuật ngữ / Quách Thị Gấm // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 29-36 .- 400
Trong khoa học, bên cạnh tính chuyên biệt, phân hóa theo hướng chuyên sâu thì bất kì ngành khoa học, chuyên môn nào trong quá trình hoạt động của mình cũng không thể không có liên hệ đến một hay nhiều ngành khoa học khác. Điều này đã đưa đến sự pha trộn lẫn nhau giữa các hệ thống khái niệm. Do đó, trong các cuốn từ điển chuyên ngành nói chung, từ điển thuật ngữ nói riêng thường có các mục từ mang tính liên ngành (mục từ tiếp nhận, vay mượn từ các ngành khác). Bài viết này tập trung xem xét cách thu thập, xử lí mục từ và nội dung thông tin của các mục từ liên ngành trong một số cuốn từ điển thuật ngữ. Kết quả khảo sát sẽ góp phần làm sáng rõ những đặc trưng của loại mục từ liên ngành trong từ điển.
27 Phân tích diễn tiến đề ngữ trong tiếng Anh (trên cứ liệu các bản tin kinh doanh dạng viết của báo điện tử reuters) / Lê Phương Thảo // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 96-103 .- 420
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định các mô hình diễn tiến đề ngữ (thematic progression) xuất hiện trong 2 bản tin kinh doanh dạng viết của báo điện tử Reuters của Hoa Kỳ. Kết quả nghiên cứu này đặc biệt có ý nghĩa đối với người nói tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ, trong việc viết bản tin bằng tiếng Anh trong học tập lẫn công việc.
28 Biểu thức rào đón trong hành vi ngôn ngữ phàn nàn và sự kiện lời nói phàn nàn / Đào Thị Thanh Huyền // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 15-22 .- 400
Hành vi ngôn ngữ phàn nàn (complain) vốn tiềm tàng nhiều khả năng đe dọa thể diện của đối phương, chính vì thế, các biểu thức rào đón (hedges) được người nói sử dụng như một phương tiện biểu đạt cần thiết để bảo đảm tính lịch sự trong quá trình giao tiếp với đối phương. Thông qua khảo sát, chúng tôi đã chỉ ra bốn biểu thức rào đón được sử dụng nhiều trong hành vi ngôn ngữ phàn nàn và sự kiện lời nói phàn nàn là các kiểu tiền dẫn nhập, yếu tố bù đắp, yếu tố “ngọt hóa” và biện pháp “tháo ngòi nổ”.
29 Chữ viết tiếng Ve / Bùi Đăng Bình // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 142-152 .- 400
Ve là tên tự gọi (autonym) của một nhóm dân tộc thiểu số sinh sống tại xã miền núi Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng. Dân số của nhóm này có hơn 2.000 người nói bản ngữ, và ngôn ngữ của họ thuộc họ ngôn ngữ Bahnaric. Trong bài báo này, một hệ thống chữ viết cho tiếng Ve được xây dựng dựa trên chữ quốc ngữ tiếng Việt, có bổ sung thêm hai chữ cái j và w. Nghiên cứu trước hết phân tích khái niệm “chữ viết” và mô tả bản chất của các hệ thống chữ viết trên thế giới trong tiến trình lịch sử.
30 Hệ thống thanh điệu tiếng Tống ở Việt Nam / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 3-9 .- 400
Ở Việt Nam, tiếng Tống là ngôn ngữ duy nhất thuộc tiểu nhánh Kam – Sui, nhánh Kam - Tai, ngữ hệ Tai – Kadai. Ngôn ngữ này có số lượng người nói rất ít và có nguy cơ tiêu vong cao. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cấu trúc tiếng Tống ở Việt Nam. Bài viết này miêu tả thanh điệu tiếng Tống trên bình diện đồng đại và lịch đại, trong đó có sử dụng phần mềm Praat để làm rõ một số đặc điểm âm học của thanh điệu tiếng Tống. Trên bình diện lịch đại, bài viết cũng sử dụng phương pháp so sánh lịch sử để chỉ ra xu hướng biến đổi của hệ thống thanh điệu từ Proto Kam – Sui đến tiếng Tống.





