CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Giảng viên DTU

  • Duyệt theo:
1 Tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình năm 2025 / Quách Hoàng Điệp, Nguyễn Thị Xuân Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 210 - 214 .- 610

404 trẻ sơ sinh non tháng được điều trị tại tại bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình từ 8/2024 đến tháng 7/2025. Mục tiêu: Tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ sơ sinh non tháng có thiếu máu, nam gặp nhiều hơn nữ. 54% trẻ sơ sinh từ 34 tuần trở lên, 42,3% trẻ từ 2000-2499 gram, trẻ dưới 1000 gram chiếm tỷ lệ 11,7%. 36,2% trẻ có xuất huyết, 6,7% bệnh nhân có da xanh. Trẻ dưới 34 tuần có Hb: 12,73±3,55 g/L, Hct: 41,83±5,26 %. Trong nghiên cứu của chúng tôi Fibrinogen giảm gặp ở 71,2%, PT giảm chiếm 68,7%, APTT kéo dài chiếm 57,7%.

2 Kết quả giảm đau sớm của chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát trên người bệnh thay khớp háng / Huỳnh Thị Tuyết Trinh, Nguyễn Văn Chinh, Lê Văn Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 215 - 219 .- 610

Xác định mức độ đau trong ngày hậu phẫu thứ 3 và lượng thuốc giảm đau fentanyl trong 24 giờ của người bệnh khi chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát trên người bệnh thay khớp háng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả dọc tiến cứu được thực hiện trên 48 người bệnh phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, ghi nhận tự đánh giá đau bằng thang điểm VAS và tổng lượng thuốc sử dụng qua bơm tự kiểm soát thuốc bằng đường tĩnh mạch. Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng STATA 14.0, các biến số được mô tả bằng tần số, tỷ lệ phần trăm, trung bình và độ lệch chuẩn. Kết quả: Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có 87,5% người bệnh mức độ đau nhẹ và 12,5% đau vừa vào ngày hậu phẫu thứ 3. Số lượng thuốc giảm đau fentanyl trong 24 giờ có chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát trên người bệnh thay khớp háng là 178,35 ± 44,45 mcg. Kết luận: Chườm lạnh kết hợp với phương pháp giảm đau tự kiểm soát giúp người bệnh duy trì mức độ đau trong khoảng nhẹ - vừa ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật thay khớp háng. Đây là sự kết hợp hứa hẹn mang lại hiệu quả trong chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng.

3 Kĩ thuật bơm bóng động mạch chủ trong can thiệp nội mạch ở người bệnh phình động mạch chủ bụng vỡ tại Viện Tim mạch Việt Nam / // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 224 - 228 .- 610

Với phình động mạch chủ bụng (AAA), nguy cơ vỡ tăng theo kích thước: trong 5 năm đối với khối phình dưới 5 cm là 1%–2%, trong khi với khối phình trên 5 cm là 20%–40%. AAA chiếm khoảng 1% số ca tử vong ở nam giới trên 65 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 10 ở nam giới từ 65 tuổi trở lên. Tỷ lệ tử vong do vỡ AAA là hơn 80%. Do đó, chẩn đoán và điều trị sớm trước khi vỡ là rất quan trọng. Đặt stent-graft (EVAR) là can thiệp nội mạch loại bỏ khối phình mà không cần phẫu thuật. Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong 2 năm có 5 bệnh nhân được chấn đoán AAA vỡ được can thiệp nội mạch bằng phương pháp bơm bóng ngược dòng ĐMC kết hợp EVAR. Kết quả can thiệp, có 1 ca tử vong sau can thiệp do nhiễm trùng nhiễm độc ổ bụng (20%), 4 ca ổn định và xuất viện (80%), thời gian nằm viện trung bình là 7.4 ngày. Kĩ thuật này có thể triển khai nhanh giúp rút ngắn thời gian cầm máu, loại bỏ khối phình vỡ, cứu sống người bệnh.

4 Viêm não tự miễn do kháng thể kháng thụ thể nmda tái phát nhiều lần ở trẻ em : một báo cáo ca bệnh / Bùi Hiếu Anh, Nguyễn Minh Quân, Nguyễn Thị Chinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 164 - 167 .- 610

Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và diễn tiến bệnh một trường hợp viêm não tự miễn do kháng thể kháng thụ thể NMDA tái phát nhiều lần trong vòng hai năm dù đã điều trị duy trì bằng thuốc ức chế miễn dịch tại khoa Thần kinh bệnh viện Nhi Đồng 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo ca lâm sàng. Kết quả: Bệnh nhi nữ 14 tuổi, khởi phát lần đầu với các triệu chứng rối loạn hành vi, co giật và loạn động. Dịch não tủy dương tính với kháng thể kháng thụ thể NMDA. Đã được điều trị với Methylprednisolone tĩnh mạch và thay huyết tương, sau đó phục hồi và tái phát ba lần nữa trong hai năm tiếp theo. Mỗi lần tái phát đều có biểu hiện lâm sàng tương tự nhưng mức độ không nặng như lần đầu và dương tính với kháng thể kháng thụ thể NMDA. Sau lần tái phát thứ tư, bệnh nhi được chuyển sang điều trị bằng Rituximab với đáp ứng tốt. Kết luận: Báo cáo ca lâm sàng này minh họa thách thức trong điều trị duy trì và phòng ngừa tái phát viêm não tự miễn do kháng thể kháng thụ thể NMDA ở trẻ em. Cân nhắc sử dụng Rituximab sớm có thể giúp giảm tái phát và tránh tác dụng phụ của corticoid kéo dài.

5 Đặc điểm hình ảnh thoát vị đĩa đệm trên cộng hưởng từ và triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân chèn ép rễ thần kinh hông to / Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Thế Tùng, Vi Văn Hiếu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 244 - 248 .- 610

Mô tả đặc điểm hình ảnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng trên cộng hưởng từ và triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân có hội chứng chèn ép rễ thần kinh hông to. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 102 bệnh nhân được khám có hội chứng chèn ép rễ thần kinh hông to và được chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng tại Bệnh viện E từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 06 năm 2025. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Kết quả: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng hay gặp ở lứa tuổi 30-50, tuổi trung bình là 41,33 ± 15,692. Tỉ lệ nam/nữ = 1,2. Lâm sàng bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng <12 tuần, đau ở mức độ nhẹ - vừa với điểm VAS trung bình là 3,89 ± 1,534, có triệu chứng đau tại cột sống thắt lưng, nghiệm pháp Lasègue dương tính, đau dọc theo rễ L5 và S1. Trên cộng hưởng từ, đĩa đệm L4/5 và L5/S1 hay bị thoát vị nhất, đa số thoát vị thể trung tâm, gây hẹp ống sống và chèn ép rễ thần kinh độ 1. Kết luận: Triệu chứng lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng đa dạng. Cộng hưởng từ có vai trò rất quan trọng giúp chẩn đoán sớm, chính xác và định hướng điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

6 Thực trạng cấp cứu ngoại viện bệnh nhân chấn thương sọ não tại một số Bệnh viện tại Hà Nội / Trần Thị Linh, Nguyễn Thành, Hoàng Bùi Hải // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 236 - 241 .- 610

Mô tả thực trạng can thiệp cấp cứu ngoại viện và kết quả cấp cứu bệnh nhân chấn thương sọ não tại một số bệnh viện tại Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang; hồi cứu bệnh nhân ≥ 18 tuổi, được nhập viện từ 1/1/2025 đến 30/6/2025 tại 3 bệnh viện tại Hà Nội. Kết quả: Kết quả cho thấy nam giới chiếm 70,8%, độ tuổi trung bình 49,98 ± 18,73; nhóm tuổi lao động (18–60) chiếm đa số. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (58%). Có 66,2% bệnh nhân được vận chuyển bằng xe cấp cứu và 60% được sơ cứu bởi nhân viên y tế, trong đó các kỹ thuật thường gặp nhất là cố định cột sống cổ và băng cầm máu. Các thủ thuật nâng cao về kiểm soát đường thở không được triển khai tại hiện trường. Tỷ lệ tử vong chung là 26,15%, trong đó tử vong do chấn thương chiếm 20%. Các yếu tố nguy cơ tử vong bao gồm tổn thương sọ não nặng (AIS ≥4), ISS ≥ 16, tụt huyết áp và hạ oxy máu ngoại viện. Kết luận: Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của cấp cứu ngoại viện trong cải thiện kết cục lâm sàng bệnh nhân chấn thương sọ não.

7 Nhận xét các đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ khớp thái dương hàm ở bệnh nhân rối loạn nội khớp có triệu chứng hạn chế há miệng / Trịnh Văn Duy, Đặng Triệu Hùng, Nguyễn Văn Long, Hoàng Thu Thuỷ, Hoàng Đình Âu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 241 - 244 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 8/2023 đến 7/2025 trên 116 khớp được chẩn đoán lâm sàng mắc hội chứng rối loạn nội khớp thái dương hàm (TDH) có triệu chứng hạn chế há miệng. Tất cả các bệnh nhân được khai thác triệu chứng hạn chế há miệng và đo độ há miệng tối đa, sau đó được chụp cộng hưởng từ (CHT) khớp TDH. Từ đó đưa ra nhận xét các đặc điểm hình ảnh trên phim CHT về hình dạng, vị trí đĩa khớp và tình trạng tổn thương lồi cầu ở nhóm bệnh nhân này. Rối loạn nội khớp có hạn chế há miệng hay gặp ở nữ giới với tỉ lệ nữ/nam là 1,97, độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 24,68 ± 12,1 tuổi và đa phần các bệnh nhân đều nằm trong nhóm tuổi lao động. Biến dạng đĩa khớp hay gặp nhất là dạng gập với 33 đĩa khớp chiếm 33,6%, di lệch đĩa khớp ra trước với góc đĩa khớp lồi cầu >30 độ chiếm đa số với 78,4% các trường hợp và các trường hợp này đa phần đều đã có tổn thương lồi cầu ở các mức độ khác nhau (62,9% các trường hợp).

8 Kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu / Nguyễn Hồng Hà, Bùi Đức Tín, Trần Xuân Thạch, Trần Thị Thanh Huyền, Tô Tuấn Linh, Nguyễn Đức Tiến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 175 - 180 .- 610

Tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay là một dạng tổn thương thần kinh ngoại biên thường gặp, đặc biệt do chấn thương. Nếu không được điều trị đúng cách nó có thể gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Bài báo này nhằm mục đích đánh giá kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân có tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương, được điều trị từ 01/2020 đến 07/2025. Theo dõi các biến số tuổi, giới, nguyên nhân, phương pháp phẫu thuật, kết quả sau mổ. Sử dụng thang điểm BMRC để đánh giá hồi phục chức năng. Kết quả: Trong 60 bệnh nhân được nghiên cứu thời gian theo dõi tối thiểu là 6 tháng sau phẫu thuật và bệnh nhân theo dõi lâu nhất là 65 tháng. Tổn thương chủ yếu gặp ở nam giới (80%) trong độ tuổi lao động (18–60 tuổi: 80%), nguyên nhân phổ biến nhất là tai nạn giao thông (40%). Thời gian can thiệp trước 3 tháng mang lại kết quả tốt hơn. Tỷ lệ phục hồi vận động M3–M5 đạt 83,3%, cảm giác mức S3–S4 đạt 85%. Kết luận: Điều trị sớm và đúng kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng kỹ thuật vi phẫu trong điều trị cho thấy sự hồi phục đáng kể cả về chức năng vận động và cảm giác ở những bệnh nhân tổn thương thần kinh quay.

9 Khảo sát khoảng cách từ ngành dài xương đe đến đế bàn đạp trên CT scan và đối chiếu trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp điều trị bệnh xốp xơ tai / Lê Quang, Bạch Võ Thiên Vân, Dương Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 170 - 175 .- 610

Khảo sát khoảng cách từ ngành dài xương đe đến đế bàn đạp trên CT scan và đối chiếu trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp điều trị bệnh xốp xơ tai. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu trên 49 bệnh nhân được chẩn đoán xốp xơ tai và được chỉ định phẫu thuật thay thế xương bàn đạp bằng trụ dẫn nhân tạo tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM từ tháng 01/2025 đến tháng 08/2025. Kết quả: Tổng cộng 49 bệnh nhân được ghi nhận. Trên CT scan, khoảng cách từ xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp trên mặt phẳng ngang xương bàn đạp và mặt phẳng đứng ngang - xiên lần lượt là 4,06 ± 0,25 mm và 4,02 ± 0,26 mm; khoảng cách từ xương đe đo đến mặt trong đế bàn đạp ở hai mặt phẳng lần lượt là 4,60 ± 0,22 mm và 4,59 ± 0,21 mm. Tương quan Pearson giữa hai mặt phẳng trong mỗi cách đo đều rất cao, lần lượt là r1=0,924 và r2=0,863 (p<0,001). Trong phẫu thuật, khoảng cách đo được ở nhóm 1 (đo từ xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp) và nhóm 2 (đo từ xương đe đến mặt trong đế bàn đạp) lần lượt có trung vị là 4,25 mm [IQR, 4,00 – 4,25] và 4,50 mm [IQR, 4,25 – 4,50]. So với số đo trong phẫu thuật, chỉ mặt phẳng ngang xương bàn đạp ở nhóm 1 là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,17 >0,05). Kết luận: Khoảng cách đo từ ngành dài xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp trên mặt phẳng ngang xương bàn đạp có sự tương đồng cao với khoảng cách tương ứng đo trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp, do đó có khả năng hỗ trợ phẫu thuật viên trong việc dự đoán chiều dài trụ dẫn nhân tạo trước phẫu thuật.

10 Thang điểm Clif – C AD trong tiên lượng bệnh nhân xơ gan mất bù / Đỗ Thị Kiều Oanh, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Trường Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 180 - 184 .- 610

Xơ gan là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở những người mắc bệnh gan mạn trên thế giới. Bên cạnh các thang điểm truyền thống như Child- Pugh, MELD, MELD-Na thì thang điểm CLIF-C AD có ý nghĩa nhất định trong tiên lượng bệnh nhân xơ gan ngắn hạn. Mục tiêu: Khảo sát giá trị thang điểm CLIF-C AD và Child-Pugh, MELD, MELD – Natri trong tiên lượng tử vong ở bệnh nhân xơ gan mất bù. Đối tương và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu dọc có theo dõi bệnh nhân, mô tả tiến cứu trên 116 bệnh nhân được chẩn đoán là xơ gan giai đoạn mất bù không có không có suy gan cấp trên nền mạn (ACLF) được điều trị tại Trung tâm Tiêu hóa Gan Mật bệnh viện Bạch Mai và khoa Nội tiêu hóa bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025.Kết quả: Trong 116 bệnh nhân nghiên cứu, có 5 (chiếm 4,3%) bệnh nhân tử vong sau 28 ngày và 15 (chiếm 12,9%) bệnh nhân tử vong sau 90 ngày kể từ khi nhập viện.. Ngưỡng cut-off CLIF -C AD có khả năng phân tầng nguy cơ tử vong lần lượt là 55 trong 28 ngày và trong 90 ngày là 62. Thang điểm CLIF- C AD có giá trị tiên lượng bệnh nhân xơ gan sau 28 ngày với AUROC 0,852 (p = 0,008 < 0,05) và sau 90 ngày với AUROC 0,803 (p = 0,001<0,05) tương đương với các thang điểm MELD, MELD-Na. Do đó có thể áp dụng thang điểm này cùng với MELD, MELD-Na trong lâm sàng giúp nhận diện bệnh nhân cần chăm sóc tích cực ngay từ đầu.