CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngôn ngữ
31 Phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời của người Mỹ / Vương Thị Hải Yến, Nguyễn Thanh Ly // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 181-188 .- 420
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào các công thức biểu đạt hành vi lời nói từ chối lời mời gián tiếp của người Mỹ thu được trong 291 đoạn hội thoại từ chối gián tiếp trong tổng số 720 đoạn hội thoại từ chối mà tác giả thu thập được từ 35 tác phẩm văn học Mỹ và một số bộ phim Mỹ phát sóng trên truyền hình Việt Nam. Bài viết mong muốn giúp người đọc hiểu hơn về phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời có trong các chiến lược từ chối gián tiếp được người Mỹ ưa sử dụng, từ đó giúp cho người học tiếng Anh nâng cao hiệu quả trong quá trình giao tiếp, tránh những xung đột, những “cú sốc văn hóa”.
32 Nghĩa của các từ: động viên, khích lệ, cổ động, cổ vũ / Vũ Thị Sao Chi, Nguyễn Đức Tồn // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 196-199 .- 400
Bài viết này sẽ sử dụng phương pháp phân tích thành tố để phân tích nghĩa được sử dụng hiện nay trong tiếng Việt của các động từ đã nêu dựa theo cấu trúc tham tố nghĩa của chúng. Có thể nêu cấu trúc tham tố chung ở dạng đầy đủ của nghĩa các động từ động viên, khích lệ, cổ động, cổ vũ như sau: “chủ thể (X)/ Thúc đẩy/ trạng thái tâm lí - tinh thần (T)/ của đối tượng (Y)/ bằng phương tiện (P)/ trong hoạt động (H)”.
33 Ngôn ngữ đánh giá “thái độ” trong các bài bình luận về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động / Trương Thị Mỹ Hậu, Bùi Thị Thúy Hằng // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 21-31 .- 400
Nghiên cứu này ứng dụng lí thuyết đánh giá để nhận diện và phân tích đánh giá Thái độ (bao gồm Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá) của các tác giả trong các bài bình luận trên báo Nhân dân về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động ở thời điểm dịch bệnh Covid-19 hoành hành. Kết quả nghiên cứu ghi nhận được sự xuất hiện của tất cả các loại giá giá trị Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực. Chủ thể đánh giá ở các loại giá trị cũng đa dạng, bao gồm: tác giả và phi tác giả.
34 Khẩu ngữ tự nhiên trong “tuyển tập Nam Cao” / Nguyễn Mạnh Tiến, Vương Lệ Linh Hằng // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 113-120 .- 400
Bài viết khảo sát cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao nhằm làm rõ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Bài viết đề cập cách sử dụng hai loại phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao: cách sử dụng các từ ngữ (từ xưng hô, vị từ, phó từ, trợ từ, các từ được tạo ra từ sự biến đổi ngữ âm của từ đa phong cách, quán ngữ, thành ngữ) và cách sử dụng các kiểu câu lặp thành phần (câu lặp chủ ngữ, câu lặp vị ngữ, câu lặp bổ ngữ), những câu mở đầu bằng hư từ (mà, thì), câu mở đầu bằng từ ấy.
35 Phương án trình bày biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng trong giáo trình tiếng Hàn / Lê Thu Phương, Ngô Thị Vân Anh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 103-111 .- 495.7
Nghiên cứu này cho rằng, việc giảng dạy các biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng nên được thực hiện trong thực tế tại các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao năng lực ngữ pháp và khả năng tiếng Hàn của người học. Dựa trên phân tích về hình thức và chức năng của các biểu hiện bị động đã được đề cập trước đó, cũng như nội dung kiểm tra giáo trình tiếng Hàn, người viết đề xuất các phương án bổ sung nội dung biểu hiện bị động trong giáo trình tiếng Hàn.
36 Nghịch ngữ tu từ trong thơ Hàn Mặc Tử / Bùi Thanh Hoa, Nguyễn Ngọc Mai // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 120-124 .- 400
Nghiên cứu biện pháp tu từ nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử trên phương diện cấu tạo và giá trị. Nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử có ba kiểu cấu tạo là: cặp từ, cặp cụm từ và mệnh đề. Nhà thơ sử dụng nghịch ngữ để biểu đạt những mâu thuẫn, nghịch lí của cuộc sống con người, đồng thời thể hiện những suy tư cá nhân về cuộc đời và bản thể. Nghịch ngữ thể hiện một chân dung Hàn Mặc Tử với tâm hồn yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, là người có khát vọng sống mãnh liệt.
37 Cấu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer (có so sánh tiếng Việt) / Thạch Văn Việt, Lý Thị Xuân Ánh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 125-132 .- 400
Câu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer là một đề tài tương đối mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam. Cấu trúc chủ - vị gồm hai thành phần: chủ ngữ và vị ngữ. Chúng là hai thành phần chính tạo nên nòng cốt câu và hình thành nhiều loại câu khác nhau xét theo câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp như câu đơn, câu ghép và câu phức. Câu tiếng Khmer có nhiều loại câu khác nhau nhưng giữa các câu có điểm chung là được tạo nên từ cụm chủ - vị. Điều đáng chú ý là, cấu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer có những điểm tương đồng với cấu trúc chủ - vị trong tiếng Việt.
38 Ảnh hưởng của hình thái tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại / Vũ Thị Hương Trà // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 85-95 .- 420
Nhiều nghiên cứu trước đây thường có xu hướng tách biệt từ mượn tiếng Anh ra khỏi ngữ cảnh tiếng Hán và bỏ qua thực tế là nhóm từ vay mượn này không chỉ tồn tại độc lập, riêng lẻ mà chúng đã được chuyển đổi và điều chỉnh để phù hợp với đặc trưng ngữ pháp tiếng Hán. Điều này cũng có nghĩa là, tiếng Hán không chỉ tiếp nhận từ mượn tiếng Anh một cách thụ động mà qua đó đã hình thành nên các phương thức cấu tạo từ mới bằng cách phát triển kho hình vị phong phú từ tiếng Anh. Và như vậy, tiếng Anh không chỉ đóng góp một số lượng từ ngữ đáng kể vào vốn từ vựng tiếng Hán, mà còn đem lại những thay đổi nhất định ở cấp độ hình thái học. Dựa trên những dữ liệu thu thập được, bài viết phân tích một cách hệ thống những biến đổi hình thái học của từ vựng tiếng Hán trong quá trình tiếp xúc sâu rộng và lâu dài với tiếng Anh.
39 Tiếp cận liên ngành trong ngôn ngữ học / Nguyễn Văn Khang // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 5-16 .- 400
Ngôn ngữ là của riêng loài người, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người. Theo đó, ngôn ngữ tham gia vào mọi hoạt động của đời sống con người. Vì thế, ngôn ngữ không chỉ là mối quan tâm của ngôn ngữ học mà là mối quan tâm của mọi ngành khoa học, từ khoa học xã hội, khoa học nhân văn đến khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Ngôn ngữ gắn liền với đời sống của mỗi dân tộc, quốc gia, vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ ở các quốc gia không thể như nhau bởi chúng chịu tác động của các nhân tố như: tình hình chính trị-xã hội của mỗi quốc gia, tình hình ngôn ngữ của mỗi quốc gia, văn hóa và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia, khoa học và truyền thống khoa học của mỗi quốc gia, v.v. Đây là lí do của việc tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu ngôn ngữ.
40 Thay đổi địa lí ngôn ngữ ở Việt Nam và Đông Nam Á : góc nhìn tham chiếu với lịch sử ngôn ngữ người Việt / Trần Trí Dõi // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 17-24 .- 400
Trình bày kết quả một giả thiết về sự thay đổi địa lí ngôn ngữ ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa trong góc nhìn tham chiếu với lịch sử ngôn ngữ người Việt. Theo đó, vùng địa lí ban đầu của cư dân nói ngôn ngữ người Việt ở giai đoạn tiền Việt tương ứng với vùng lãnh thổ của cư dân văn hóa Đông Sơn được xác định ở Việt Nam. Do đó, những nhóm cư dân nói những ngôn ngữ không phải Nam Á hiện đang định cư ở đây được cho là những nhóm cư dân từ những vùng lãnh thổ khác nhau di cư đến sinh sống cho đến hiện nay.





