CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngôn ngữ
31 Một số đặc điểm từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam / Nguyễn Thu Huyền // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 112-118 .- 400
Bài viết này nghiên cứu về đặc điểm của từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam. Thông qua nghiên cứu này, bài viết đã cho thấy một bức tranh cụ thể về các đặc điểm của từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú như: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức năng của nó trong các kết cấu lớn hơn. Ngoài ra, bài viết cũng tiến hành phân loại từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú thành các nhóm nhỏ dựa trên các tiêu chí về ý nghĩa, chức năng và khả năng kết hợp của chúng.
32 Đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá lớp từ ngữ chỉ nhân vật trong truyện cổ tích của người Việt / Nguyễn Thanh Tuấn // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 119-128 .- 400
Nhân vật trong truyện cổ tích rất đa dạng và mỗi nhân vật được định danh bằng những tên gọi khác nhau gắn với số phận, phẩm chất, ngoại hình, tâm lý, tính cách, hành động và cách ứng xử khác nhau. Do đó, nghiên cứu từ ngữ chỉ nhân vật trong truyện cổ tích dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa không những cho thấy sự đa dạng trong cách thức định danh tên gọi nhân vật mà còn giúp hiểu rõ hơn một số nét đặc trưng văn hóa - dân tộc được thể hiện thông qua ý nghĩa của một số tên gọi nhân vật.
33 Cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì ở Lai Châu / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 45-50 .- 400
Hà Nhì là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, nhánh Tạng – Karen, tiểu nhánh Tạng – Miến, nhóm Miến – Lô Lô (Burmese – Lolo). Về mặt loại hình, tiếng Hà Nhì là một ngôn ngữ đơn lập. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì chủ yếu bao gồm các phương thức: từ hóa hình vị, ghép và láy nhưng được thể hiện đa dạng và có nhiều điểm độc đáo. Bài viết này sẽ tiến hành mô tả một số đặc điểm cơ bản của cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì ở Lai Châu trên bình diện đồng đại.
34 Đặc điểm của hoạt động giao tiếp trên không gian mạng từ góc nhìn ngôn ngữ học / Đặng Thị Thu Hiền // .- 2025 .- Số 4 .- Tr. 13-20 .- 400
Khám phá đặc điểm của các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp số, tập trung vào các nhân tố đặc biệt như: không gian ảo, danh tính số, bối cảnh ngôn ngữ ảo, ngôn ngữ số. Hơn nữa, bài viết phân tích các đặc điểm đặc thù của hoạt động giao tiếp trên không gian mạng, bao gồm: tính tức thời, tính đồng thời, tính đa thức, tính tự phát, tính gián cách và tính công khai. Dựa trên lí thuyết về hoạt động giao tiếp, nghiên cứu muốn làm nổi bật cách mà giao tiếp số và không gian mạng đang định hình lại tương tác xã hội cũng như cách con người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, từ đó mà tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.
35 Cải cách giáo dục của Mỹ ở Philippines trong lĩnh vực ngôn ngữ (1900 - 1935) và hệ quả / Trần Thị Quế Châu // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2022 .- Số 8 .- Tr. 52 - 62 .- 327
Một đặc điểm chung của các cuộc cải cách giáo dục theo mô hình phương Tây ở châu Á trong thế kỷ XIX và XX là việc đưa tiếng Anh vào chương trình giảng dạy ở hầu hết các quốc gia. Khác với các cường quốc thuộc địa trong khu vực, cải cách giảo dục của Mỹ ở Philippines đã không chỉ đưa tiếng Anh vào giảng dạy như là một ngoại ngữ mà nó còn được chọn làm phương tiện giảng dạy ở tất cả các bậc học và xa hơn là trở thành ngôn ngữ chính thức. Bài viết tập trung làm rõ bối cảnh, nội dung và quá trĩnh thực thi cải cách giáo dục của Mỹ ở Philippines trên lĩnh vực ngôn ngữ trong giai đoạn từ 1900 đến 1935. Trên cơ sở đó, với cách tiếp cận liên ngành giữa lịch sử, ngôn ngữ, và văn hoá, bài viết sẽ phân tích củng như thảo luận những hệ quả của cải cách này đối với Philippines từ đó cho đến nay. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng Philippines là một trường hợp điển hỉnh của quốc gia phải đối mặt với những mâu thuẫn trong việc giải quyết vấn đề ngôn ngữ thời hậu thuộc địa, giữa một bên là xu hướng hội nhập, toàn cầu hoả và một bên là ý thức bảo vệ sự đa dạng ngôn ngữ dân tộc và định hình bản sắc quốc gia.
36 Đặc trưng văn hóa – dân tộc của thành ngữ Tày có các thành tố chỉ bộ phận cơ thể biểu thị trí tuệ của con người / Trịnh Thị Hà // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 162-169 .- 400
Đi sâu và nghiên cứu nhóm thành ngữ Tày có thành tố chỉ bộ phận cơ thể biểu thị trí tuệ con người. Từ đó góp phần giới thiệu, tôn vinh, bảo tồn và phát huy nền văn hóa của dân tộc Tày, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc nói chung.
37 Câu hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam / Tạ Quang Tùng // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 170-177 .- 400
Tìm hiểu những đặc điểm các dạng câu hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam, cụ thể là miêu tả các phương tiện từ vựng – ngữ pháp được sử dụng để cấu tạo nên các loại cây hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam. Câu hỏi (còn gọi là “câu nghi vấn” ) là một loại câu khá phổ biến trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, thường gặp khi bắt đầu cuộc thoại và đặc biệt trong quá trình học ngôn ngữ.
38 Tác động của phản hồi đồng cấp trong lớp học thực hành dịch đến người học từ góc nhìn của sinh viên / Võ Thị Liên Hương // .- 2024 .- Vol 7 (N03) .- Tr. 300-308 .- 400
Nghiên cứu tìm hiểu quan điểm của sinh viên về việc áp dụng phản hồi đồng cấp trong lớp học thực hành. Kết quả nghiên cứu mang lại những hàm ý cho việc áp dụng phản hồi đồng cấp trong lớp học như xây dựng danh mục kiểm tra, tập cho người học làm quen với phản hồi đồng cấp và nâng cao nhận thức của người học về lợi ích và trách nhiệm của người thực hiện và nhận phản hồi đồng cấp.
39 Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ dùng trên không gian mạng xã hội của thế hệ Gen Z / Tr. 14-26 // .- 2024 .- Số 4 (402) .- Tr. 14-26 .- 400
Ngôn ngữ mạng xã hội của Gen Z được nhìn nhận như một biến thể ngôn ngữ với các hình thức biểu hiện, biến đổi cụ thể, khác biệt với ngôn ngữ chuẩn mực toàn dân. Phạm vi khảo sát chủ yếu ở cấp độ từ ngữ với bình diện ngữ âm – chữ viết, ngữ nghĩa, cấu tạo từ, bên cạnh đó là một số hiện tượng ngữ pháp đáng chú ý.
40 Nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ thận trọng trong viết học thuật bằng tiếng Anh và tiếng Việt / Vũ Thị Thanh Hoa // .- 2024 .- Số 4 (402) .- Tr. 51-58 .- 420
Nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ thận trọng trong bối cảnh khác nhau nhưng nghiên cứu về ngôn ngữ thận trọng được sử dụng trong văn bản học thuật tiếng Anh chưa nhiều. Vì thế nghiên cứu này được thực hiện để so sánh việc sử dụng ngôn ngữ thận trọng trong văn bản học thuật bằng tiếng Anh và tiếng Việt và trả lời các câu hỏi nghiên cứu.