CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngôn ngữ
31 “Tiêu điểm” trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình tiếng Việt / Nguyễn Thị Phương // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 10-17 .- 400
Bài viết nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết đánh giá theo trường phái ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Cụ thể, bài viết đi sâu nghiên cứu về “Tiêu điểm” (Focus) trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt – một khía cạnh quan trọng trong tiểu hệ thống Thang độ (Graduation) thuộc Khung thẩm định (Appraisal framework) của Martin và White (2005).
32 Biểu hiện của nhóm từ có ý nghĩa “mức độ” trong những văn bản tiếng Việt cổ đến trung đại / Trần Hương Thục // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 18-27 .- 400
Bài viết khảo sát nhóm từ biểu thị ý nghĩa “mức độ” trong giai đoạn tiếng Việt cổ đến trung đại dựa trên 16 văn bản tiêu biểu. Kết quả cho thấy một số yếu tố có tần suất xuất hiện cao và ổn định, giữ vai trò trung tâm trong hệ thống. Một số yếu tố từng hoạt động mạnh ở giai đoạn trung đại nhưng dần suy giảm và mất chức năng ngữ pháp. Kết quả cũng cho thấy các phó từ chỉ mức độ cao chiếm ưu thế rõ rệt, trong khi các yếu tố biểu thị mức độ thấp và trung bình (hơi, khá) xuất hiện muộn. Sự biến đổi của nhóm từ mức độ phản ánh xu hướng ngữ pháp hoá để bù đắp và hoàn thiện dải thang độ trong diễn ngôn tiếng Việt qua các thời kì.
33 Vị thế, vai trò của tiếng Phù Lá trong đời sống hiện nay / Phan Hoàng Anh, Phạm Thị Thảo // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 57-67 .- 400
Nghiên cứu chỉ ra đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao gia đình Phù Lá hiện nay là, người Phù Lá sử dụng cả tiếng Phù Lá, tiếng Quan Hoả và tiếng Việt. Trong đó tỉ lệ sử dụng tiếng Quan Hoả là cao nhất. Tiếng Việt có xu hướng được tăng cường học tập và sử dụng đối với trẻ em ở lứa tuổi tiền học đường và tiểu học.
34 Một số đặc điểm từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam / Nguyễn Thu Huyền // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 112-118 .- 400
Bài viết này nghiên cứu về đặc điểm của từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam. Thông qua nghiên cứu này, bài viết đã cho thấy một bức tranh cụ thể về các đặc điểm của từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú như: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức năng của nó trong các kết cấu lớn hơn. Ngoài ra, bài viết cũng tiến hành phân loại từ loại danh từ trong tiếng Khơ Mú thành các nhóm nhỏ dựa trên các tiêu chí về ý nghĩa, chức năng và khả năng kết hợp của chúng.
35 Đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá lớp từ ngữ chỉ nhân vật trong truyện cổ tích của người Việt / Nguyễn Thanh Tuấn // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 119-128 .- 400
Nhân vật trong truyện cổ tích rất đa dạng và mỗi nhân vật được định danh bằng những tên gọi khác nhau gắn với số phận, phẩm chất, ngoại hình, tâm lý, tính cách, hành động và cách ứng xử khác nhau. Do đó, nghiên cứu từ ngữ chỉ nhân vật trong truyện cổ tích dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa không những cho thấy sự đa dạng trong cách thức định danh tên gọi nhân vật mà còn giúp hiểu rõ hơn một số nét đặc trưng văn hóa - dân tộc được thể hiện thông qua ý nghĩa của một số tên gọi nhân vật.
36 Cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì ở Lai Châu / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 45-50 .- 400
Hà Nhì là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, nhánh Tạng – Karen, tiểu nhánh Tạng – Miến, nhóm Miến – Lô Lô (Burmese – Lolo). Về mặt loại hình, tiếng Hà Nhì là một ngôn ngữ đơn lập. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì chủ yếu bao gồm các phương thức: từ hóa hình vị, ghép và láy nhưng được thể hiện đa dạng và có nhiều điểm độc đáo. Bài viết này sẽ tiến hành mô tả một số đặc điểm cơ bản của cấu tạo từ trong tiếng Hà Nhì ở Lai Châu trên bình diện đồng đại.
37 Đặc điểm của hoạt động giao tiếp trên không gian mạng từ góc nhìn ngôn ngữ học / Đặng Thị Thu Hiền // .- 2025 .- Số 4 .- Tr. 13-20 .- 400
Khám phá đặc điểm của các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp số, tập trung vào các nhân tố đặc biệt như: không gian ảo, danh tính số, bối cảnh ngôn ngữ ảo, ngôn ngữ số. Hơn nữa, bài viết phân tích các đặc điểm đặc thù của hoạt động giao tiếp trên không gian mạng, bao gồm: tính tức thời, tính đồng thời, tính đa thức, tính tự phát, tính gián cách và tính công khai. Dựa trên lí thuyết về hoạt động giao tiếp, nghiên cứu muốn làm nổi bật cách mà giao tiếp số và không gian mạng đang định hình lại tương tác xã hội cũng như cách con người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, từ đó mà tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.
38 Cải cách giáo dục của Mỹ ở Philippines trong lĩnh vực ngôn ngữ (1900 - 1935) và hệ quả / Trần Thị Quế Châu // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2022 .- Số 8 .- Tr. 52 - 62 .- 327
Một đặc điểm chung của các cuộc cải cách giáo dục theo mô hình phương Tây ở châu Á trong thế kỷ XIX và XX là việc đưa tiếng Anh vào chương trình giảng dạy ở hầu hết các quốc gia. Khác với các cường quốc thuộc địa trong khu vực, cải cách giảo dục của Mỹ ở Philippines đã không chỉ đưa tiếng Anh vào giảng dạy như là một ngoại ngữ mà nó còn được chọn làm phương tiện giảng dạy ở tất cả các bậc học và xa hơn là trở thành ngôn ngữ chính thức. Bài viết tập trung làm rõ bối cảnh, nội dung và quá trĩnh thực thi cải cách giáo dục của Mỹ ở Philippines trên lĩnh vực ngôn ngữ trong giai đoạn từ 1900 đến 1935. Trên cơ sở đó, với cách tiếp cận liên ngành giữa lịch sử, ngôn ngữ, và văn hoá, bài viết sẽ phân tích củng như thảo luận những hệ quả của cải cách này đối với Philippines từ đó cho đến nay. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng Philippines là một trường hợp điển hỉnh của quốc gia phải đối mặt với những mâu thuẫn trong việc giải quyết vấn đề ngôn ngữ thời hậu thuộc địa, giữa một bên là xu hướng hội nhập, toàn cầu hoả và một bên là ý thức bảo vệ sự đa dạng ngôn ngữ dân tộc và định hình bản sắc quốc gia.
39 Đặc trưng văn hóa – dân tộc của thành ngữ Tày có các thành tố chỉ bộ phận cơ thể biểu thị trí tuệ của con người / Trịnh Thị Hà // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 162-169 .- 400
Đi sâu và nghiên cứu nhóm thành ngữ Tày có thành tố chỉ bộ phận cơ thể biểu thị trí tuệ con người. Từ đó góp phần giới thiệu, tôn vinh, bảo tồn và phát huy nền văn hóa của dân tộc Tày, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc nói chung.
40 Câu hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam / Tạ Quang Tùng // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 170-177 .- 400
Tìm hiểu những đặc điểm các dạng câu hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam, cụ thể là miêu tả các phương tiện từ vựng – ngữ pháp được sử dụng để cấu tạo nên các loại cây hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam. Câu hỏi (còn gọi là “câu nghi vấn” ) là một loại câu khá phổ biến trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, thường gặp khi bắt đầu cuộc thoại và đặc biệt trong quá trình học ngôn ngữ.





