CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
7631 Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Asean / Ngô Thị Mỹ, Trần Văn Dũng // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 49-53 .- 658
Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với chỉ số lợi thế so sánh (RCA) nhằm phân tích thực trạng và làm rõ lợi thế so sánh trong xuất khẩu một số nhóm hàng hóa chính của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong giai đoạn 2010-2016. Kết quả cho thấy, những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung cũng như lợi thế so sánh trong xuất khẩu một số nhóm hàng hóa chính của Việt Nam đang có xu hướng giảm sang thị trường ASEAN. Từ việc làm rõ các nguyên nhân như khả năng cạnh tranh thấp, sự sụt giảm về cầu nhập khẩu của các quốc gia trong khu vực hay việc tăng cường các hàng rào phi thuế quan của các quốc gia nhập khẩu, bài viết đã gợi ý một số chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong thời gian tới.
7632 Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công tại ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên / Nguyễn Quang Hợp, Đỗ Thùy Ninh, Dương Mai Liên // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 42-48 .- 658
Dịch vụ công có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công góp phần hỗ trợ, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh phát triển các khu công nghiệp. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả muốn nghiên cứu hoạt động cung ứng dịch vụ công trong Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu những đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng cung ứng dịch vụ, để từ đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này, góp phần xây dựng môi trường công thông thoáng, tạo tiền đề cho các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ.
7633 Ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên / Đinh Thị Vững, Nguyễn Thị Ngân // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 95-99 .- 332.63
Hoạt động thu hút đầu tư có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia cũng như của mỗi địa phương. Đối với các nhà đầu tư khi họ quyết định đầu tư vào địa phương nào, họ sẽ phải xem xét điều kiện đầu tư, cơ sở hạ tầng, chính sách khuyến khích đầu tư,…đây chính là các nhân tố trong môi trường đầu tư. Những năm qua, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc cải thiện môi trương đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể nâng cao hơn nữa chất lượng của thu hút vốn đầu tư trực tiếp là bài toán mà tỉnh Thái Nguyên cần phải nghiên cứu. Qua bài viết này, nhóm tác giả muốn phân tích tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài, môi trường đầu tư của tỉnh Thái Nguyên thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Để từ đó, xem xét ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên.
7634 Hoạt động giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam / Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Thanh Trực, Lê Thị Ngọc Anh // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 82-87 .- 658
Sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán (TTCK) nói chung, thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) nói riêng phụ thuộc rất lớn vào tính trung thực, minh bạch và công bằng của thị trường. Cùng với giám sát tuân thủ, giám sát giao dịch (GSGD) là một trong hai nội dung quan trọng của hoạt động giám sát trên TTCKPS. Những giao dịch cần giám sát trên thị trường là những giao dịch thực hiện các hành vi bị cấm như là giao dịch nội gián, giao dịch thao túng thị trường… Những giao dịch này nếu không được ngăn chặn sẽ làm cho các nhà đầu tư mất niềm tin, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của TTCKPS. Nghiên cứu cho thấy hoạt độngg GSGD TTCKPS Việt Nam trong một năm đi vào hoạt động đã được chú trọng với hành lang pháp lý rõ ràng, công nghệ hiện đại, có sự kết hợp chặt chẽ giữa TTCK cơ sở và TTCKPS để hạn chế các hiện tượng thao túng giá. Tuy nhiên, hoạt động GSGD trên TTCK nói chung và TTCKPS nói riêng vẫn cần phải được tiếp tục nâng cấp trong thời gian tới do vẫn còn những hạn chế như hạn chế trong thẩm quyền tiếp cận thông tin để điều tra các giao dịch tình nghi, chưa có thông tin hồi đáp kịp thời khi xuất hiện các nghi vấn về giao dịch vi phạm pháp luật…
7635 Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xe đạp điện của học sinh phổ thông và sinh viên / Đàm Văn Khanh // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. .- 658
Trong những năm gần đây, việc sử dụng xe đạp điện trở thành phương tiện phổ biến của học sinh phổ thông và sinh viên. Mục đích của nghiên cứu tập trung phân tích những yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng xe đạp điện của khách hàng mà chủ yếu là học sinh phổ thông và sinh viên. Nghiên cứu đã đề xuất một mô hình cấu trúc của mối quan hệ giữa các thành tố của mô hình và ý định hành vi. Phân tích nhân tố (EFA) được thực hiện để kiểm tra tính hợp lệ của cấu trúc, và phân tích nhân tố khẳng định (CFA ) được sử dụng để kiểm tra ý nghĩa của các mô hình giả thuyết đề xuất. Kết quả cho thấy yếu tố Chuẩn chủ quan, giá xe, tác động của các chính sách của Chính phủ, Sự hữu ích của việc sử dụng xe đạp điện là những yếu tố tác động đến Ý định hành vi tiêu dùng xe đạp điện; trong đó Chuẩn chủ quan và Giá xe có tác động lớn nhất đến ý định hành vi sử dụng xe đạp điện. Yếu tố nhận thức về môi trường không phải là những biến dự báo cho ý định hành vi tiêu dùng xe đạp điện của học sinh, sinh viên. Các thảo luận về đóng góp của nghiên cứu với thực tiễn và lý luận cũng được đề cập trong nghiên cứu này.
7636 Phát triển doanh nghiệp nông, lâm nghiệp ở tỉnh Bắc Kạn / Nguyễn Văn Công, Nguyễn Thị Thu Huyền // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. .- 658
Bắc Kạn là tỉnh miền núi có nhiều lợi thế về phát triển nông, lâm nghiệp. Nhưng kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp còn thấp, năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng chưa cao, phát triển chưa thật sự bền vững. Một trong những động lực quan trọng để phát triển ngành nông, lâm nghiệp đó chính là các doanh nghiệp (DN) hoạt động trong lĩnh vực này. Bởi chỉ có doanh nghiệp mới tạo ra được sự liên kết, mới là “lực kéo” để sản xuất nông, lâm nghiệp ở tỉnh phát triển. Với cách tiếp cận đó, bài viết đã sử dụng các thông tin, số liệu thứ cấp và kết hợp với khảo sát, phỏng vấn một số chủ doanh nghiệp nông, lâm nghiệp ở Bắc Kạn để nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng DN đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp ở Bắc Kạn còn ít. Quy mô về vốn, lao động của các DN còn nhỏ, chủ yếu là các DN thuộc loại nhỏ và siêu nhỏ. Các DN còn gặp những khó khăn như tiếp cận về vốn, thị trường, đất đai…. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng số lượng và quy mô của loại hình doanh nghiệp này ở tỉnh Bắc Kạn trong những năm tới.
7637 Đánh giá hiệu quả của các hộ trồng mận tam hoa tại huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai: bằng chứng từ chỉ số Malmquist / // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 58-65 .- 658
Trong nghiên cứu này chúng tôi xây dựng một bộ số liệu chuỗi từ 300 hộ trồng mận Tam Hoa trong ba năm từ 2015 đến 2017 và sử dụng phương pháp Chỉ số Malmquist để đánh giá hiệu quả của các hộ trồng mận. Kết quả cho thấy, nhìn chung, các hộ trồng mận đã đạt hiệu quả trong thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, khi phân tích các thành tố chúng tôi thấy các hộ này còn có thể nâng cao hiệu quả hơn nữa bằng cách điều chỉnh quy mô vườn mận của mình. Kết quả từ mô hình hồi quy Tobit với kỹ thuật bootstrap và 2.000 lần lặp cho thấy số lượng người phụ thuộc trong mỗi hộ gia đình và kinh nghiệm trồng mận của chủ hộ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của các hộ trồng mận.
7638 Tăng cường phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại ở tỉnh Bắc Kạn / Nguyễn Tiến Long, Lục Mạnh Thiếp // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 49-57 .- 658
Bắc Kạn là tỉnh miền núi ở vùng Đông bắc Việt Nam với vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động buôn bán, vận chuyển và lưu thông hàng hóa với các cửa khẩu của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội. Trong những năm qua, tỉnh Bắc Kạn đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quản lý, triển khai thực hiện quyết liệt các hoạt động phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại (BL&GLTM) trên địa bàn tỉnh. Do vậy, tình hình BL&GLTM ở Bắc Kạn hiện nay đã giảm rất nhiều. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới BL&GLTM ở tỉnh Bắc Kạn vẫn đang diễn biến rất phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi hơn, khó kiểm soát, gây tác động xấu đến phát triển kinh tế – xã hội, bức xúc trong nhân dân. Từ thực tế trên cho thấy, tăng cường phòng, chống BL & GLTM ở tỉnh Bắc Kạn là rất cần thiết hiện nay.
7639 Tăng cường quản lý vốn đầu tư công trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tại tỉnh Sơn La / Trần Văn Dũng, Ngô Tất Thắng // Tạp chí Kinh tế và Quản trị kinh doanh (Điện tử) .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 49-57 .- 658
Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía Tây Bắc của Việt Nam, với điều kiện tự nhiên khá thuận lợi nên trong cơ cấu kinh tế của tỉnh ngành nông lâm nghiệp vẫn đang chiếm một tỷ trọng lớn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, tỉnh Sơn La đã dành nhiều sự quan tâm thông qua các chương trình, dự án với nguồn vốn đầu tư công có quy mô lớn nhằm hỗ trợ cho ngành nông lâm nghiệp phát triển. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý vốn đầu tư công trong lĩnh vực nông lâm nghiệp của tỉnh còn nhiều hạn chế, bất cập như một số dự án theo đánh giá của đối tượng thụ hưởng thì chưa thật sự cần thiết, hay trong quá trình thực hiện dự án thì vẫn còn tình trạng vốn giải ngân chậm, một số dự án triển khai chưa đảm bảo theo tiến độ, tình hình dư ứng quá hạn chưa được thu hồi,… Bài viết này đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư công trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tại tỉnh Sơn La trong thời gian tới.
7640 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ gia đình bằng chứng từ điều tra hộ gia đình tại tỉnh Lào Cai / // .- 2018 .- Số 7 .- Tr. 36-41 .- 658
Kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Sự trường tồn của hình thức sản xuất này đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Lào Cai là một tỉnh miền biên giới phía Bắc với kinh tế hộ gia đình, cá thể chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế toàn tỉnh. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phân tích các kết quả điều tra chọn mẫu lấy ý kiến người dân về thực trạng các chỉ tiêu liên quan đến kinh tế hộ gia đình trên địa bàn 8 huyện, thị của tỉnh Lào Cai trong năm 2016. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn tại Lào Cai nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, theo hướng bền vững.