CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7611 Sự độc lập của hội đồng quản trị, tập trung quyền sở hữu và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp / Lê Thị Phương Vy, Trần Hoàng Sơn // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 270 .- Tr. 41-50 .- 658

Nghiên cứu kiểm tra tác động của tập trung quyền sở hữu đến mối quan hệ giữa hội đồng quản trị độc lập và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010 đến 2017. Bằng cách sử dụng nhiều phương pháp hồi quy khác nhau OLS, FEM, REM, FGLS và GMM để kiểm soát vấn đề nội sinh, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng tính độc lập của hội đồng quản trị có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Đặc biệt, tác động tích cực của sự độc lập của hội đồng quản trị độc lập đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp tăng lên khi sự tập trung quyền sở hữu giảm xuống sau khi kiểm soát các yếu tố quyết định khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các kết quả này có ý nghĩa thống kê cao hơn ở những doanh nghiệp tư nhân kiểm soát so với doanh nghiệp nhà nước kiểm soát.

7612 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam / Hồ Quế Hậu // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 270 .- Tr. 51-62 .- 658

Nghiên cứu này thực hiện kết hợp phỏng vấn sâu với khảo sát 620 hộ nông dân trên cả nước nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (1) Trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm; (2) Quy mô sản xuất; (3) Tình trạng kinh tế; (4) Hiểu biết về thị trường giá cả; (5) điều kiện tự nhiên; (6) Cơ cấu sản xuất; (7) Lao động; (8) Các chính sách nhà nước về xây dựng hạ tầng, tín dụng, khuyến nông.

7613 Tác động của liên kết cung ứng vật tư đầu vào và hộ nuôi tôm đến hiệu quả kinh tế hộ : trường hợp nghiên cứu ở xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế / Nguyễn Thái Phán // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 270 .- Tr. 63-71 .- 658

Phân tích mối liên hệ giữa hộ nuôi tôm và nhà cung cấp đầu vào, và tác động của sự liên kết đến các trang trại nuôi tôm. Nghiên cứu chỉ ra rằng có bốn biến số ảnh hưởng đáng kể đến xác suất sử dụng liên kết của hộ nuôi tôm với nhà cung cấp đầu vào. Biến số có ảnh hưởng tích cực là quy mô trang trại, thành viên trong tổ chức nông dân và giới tính. Một biến có ảnh hưởng tiêu cực là tuổi. Năng suất trang trại và thu nhập ròng của hộ nuôi tôm sử dụng liên kết giữa hộ nuôi tôm và nhà cung cấp đầu vào cao hơn so với những hộ nuôi tôm không sử dụng liên kết. Nghiên cứu khuyến nghị chính quyền địa phương nên khuyến khích hộ nuôi tôm sử dụng liên kết với các nhà cung cấp đầu vào. Ngoài ra, cho phép hộ nuôi tôm vận hành các trang trại lớn hơn 1 ha là điều quan trọng đối với hộ nuôi tôm để sử dụng liên kết với nhà cung cấp đầu vào.

7614 Nghiên cứu hiệu quả doanh thu, kỹ thuật và phân bổ của nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Quảng Ngãi / Lê Kim Long // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 270 .- Tr. 72-81 .- 658

Bài báo tóm lược nền tảng lý thuyết kinh tế học về các chỉ số hiệu quả doanh thu, kỹ thuật, phân bổ và áp dụng phương pháp phi tham số để tính toán các chỉ số này cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả cho thấy giá trị bình quân của hiệu quả doanh thu, kỹ thuật và phân bổ của các hộ nuôi lần lượt là 85%, 91% và 94% cho năm sản xuất 2014. Để hướng đến một nghề nuôi bền vững, các chính sách về đất cho nghề nuôi, đặc biệt các chính sách phát triển nghề nuôi tôm thẻ thâm canh theo hướng doanh nghiệp hóa như cho thuê/chuyển nhượng để tích tụ đất và cấp giấy phép nuôi trồng để mở rộng quy mô sản xuất, là rất quan trọng. Kế tiếp, tiếp tục đẩy mạnh triển khai tập huấn kỹ thuật nuôi VietGap với khuyến cáo nên nuôi với mật độ vừa phải là rất cần thiết. Cuối cùng, thông tin và tiếp cận thị trường đầu ra cho nông hộ nuôi tôm cũng cần được chú trọng.

7615 Phân tích hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên / Bùi Thị Minh Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 270 .- Tr. 82-90 .- 658

Sử dụng số liệu điều tra đối với 191 hộ dân sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, nghiên cứu tập trung phân tích hiệu quả kỹ thuật và nhận diện nguồn gốc của sự kém hiệu quả trong sản xuất chè an toàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật trung bình trong sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương là 68,47% và biến động trong khoảng 28,10 − 89,91%. Với việc sử dụng hợp lý các yếu tố sản xuất và kỹ thuật hiện có, hiệu quả kỹ thuật của các hộ sản xuất chè an toàn có khả năng được cải thiện đáng kể. Các yếu tố thu nhập, tuổi, kinh nghiệm trồng chè của chủ hộ, tập huấn, và tham gia các tổ chức kinh tế xã hội đóng góp tích cực vào việc cải thiện hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè an toàn. Việc sử dụng giống chè bản địa (giống Trung du) có tác động ngược chiều tới hiệu quả kỹ thuật. Các hộ dân tộc thiểu số có hiệu quả kỹ thuật thấp hơn so với các hộ dân tộc Kinh.

7616 Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành thuế Thái Nguyên theo hướng điện tử hóa / Thái Thị Thu Trang, Hoàng Mỹ Bình // .- 2018 .- Tr. 93-99 .- 658

Với mục tiêu tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, đảm bảo công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước. Những năm qua, ngành thuế Thái Nguyên đã rất tích cực thực hiện điện tử hóa các khâu nghiệp vụ từ kê khai, nộp thuế đến hoàn thuế. Đây là một trong những giải pháp mang lại hiệu quả nhiều mặt, là tiền đề quan trọng để cơ quan này tiếp tục triển khai nhiều nội dung điện tử hóa hơn trong công tác quản lý thuế. Tuy nhiên, công tác điện tử hóa còn có những điểm hạn chế. Bài viết đánh giá về thực trạng điện tử hóa công tác quản lý thuế của Cục thuế Thái Nguyên nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện điện tử hóa công tác quản lý thuế, góp phần phấn đấu đạt mục tiêu cải cách quản lý thuế đến năm 2020 của Chính phủ.

7617 Thông tin và hành vi của các nhà đầu tư vào các tỉnh khu vực biên giới phía Bắc: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Lào Cai / Trần Văn Quyết, Phạm Minh Hương, Phạm Công Toàn // .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 53-59 .- 658

Nghiên cứu đi sâu phân tích, tìm hiểu hai hành vi quan trọng đi đến quyết định lựa chọn địa bàn đầu tư của doanh nghiệp (DN) là cách thức tìm kiếm thông tin và lý do doanh nghiệp lựa chọn địa bàn đầu tư. Bài báo đã sử dụng số liệu thứ cấp và sơ cấp để phản ánh kết quả thu hút đầu tư với việc cải thiện chỉ sổ năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI thông qua các phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan. Kết quả đã chỉ ra rằng với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thuận lợi nhưng nếu không cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực điều hành của bộ máy chính quyền và cung cấp thông tin minh bạch cũng không hấp dẫn được các nhà đầu tư. Nghiên cứu đã chỉ ra được các hành vi của các nhà đầu tư, đồng thời giúp cho tỉnh Lào Cai hiểu được những hành vi của nhà đầu tư, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách Lào Cai phát huy những chính sách hiệu quả vốn có, và tìm ra những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao sức hút đầu tư trên địa bàn tỉnh.

7618 Quản lý rủi ro tín dụng định hướng theo tiêu chuẩn BASELII tại Ngân Hàng Thương Mại cổ Phần Quốc Tế Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên / Tạ Thúy Hằng, Dương Thanh Tình, Mai Thanh Giang // .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 80-85 .- 658

Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào, hoạt động tín dụng luôn là một trong những hoạt động cốt lõi của Ngân hàng Thương mại (NHTM). Giữa bối cảnh cạnh tranh và hội nhập như hiện nay, để quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả cần phải xây dựng một mô hình quản trị theo chuẩn mực quốc tế và phù hợp với điều kiện hội nhập. Mục tiêu của bài viết này nhằm phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng và đánh giá mức độ đáp ứng các chính sách về quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên (VIB Thái Nguyên) theo tiêu chuẩn Basel II. Từ đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên.

7619 Mô hình cảnh báo rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân cho các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Văn Huân, Đỗ Năng Thắng // .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 86-92 .- 658

Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ- tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro khách hàng gây ra. Vì vậy “rủi ro tín dụng của Ngân hàng không những là cấp số cộng mà có thế là cấp số nhân rủi ro của nền kinh tế". Với vai trò quan trọng như vậy bài báo đề xuất một mô hình cảnh báo rủi ro tín dụng nhằm ước tính xác suất vỡ nợ của các khách hàng cá nhân giúp các ngân hàng thương mại có thể giảm thiểu được rủi ro tín dụng.

7620 Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh Hà Giang / Nguyễn Thị Hồng Nhung, Trần Văn Dũng, Trần Văn Quyết // .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 47-52 .- 658

Thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp tỉnh Hà Giang là một chính sách lớn trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2018 và tầm nhìn đến năm 2025. Phát triển các khu công nghiệp (KCN) là một phương thức quản lý công nghiệp tập trung, một cách thức tạo ra các tiểu vùng kinh tế động lực rất phổ biến trong xu thế hiện nay. Phân tích hoạt động thu hút vồn đầu tư vào các KCN của tỉnh Hà Giang đã chỉ ra những hạn chế như số lượng dự án và quy mô nguồn vốn đầu tư vào KCN của tỉnh còn thấp; Chất lượng công tác quy hoạch, định hướng phát triển KCN còn hạn chế; Công tác đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng tại các KCN của tỉnh Hà Giang chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; Khả năng tiếp cận đất đai và chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; Cải cách thủ tục hành chính đã có sự chuyển biến nhưng vẫn còn tồn tại, chính sách ưu đãi vốn đầu tư chưa thực sự hấp dẫn. Bài viết đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Hà Giang nói chung và vào các KCN của tỉnh Hà Giang nói riêng.