CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
2331 Các nghiên cứu về vùng biên giới ở Đông Nam Á và vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc / Tạ Thị Tâm // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2018 .- Số 12 (255) .- Tr.20 – 28 .- 327

Phân tích những nghiên cứu về vùng biên ở Đông Nam Á, nghiên cứu về vùng biên giới Việt – Trung và rút ra một số kết luận.

2332 Xu hướng quan hệ Thái Lan – Trung Quốc từ sau cuộc đảo chính 2014 đến nay / Nguyễn Hồng Quang // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2018 .- Số 12 (255) .- Tr.29 – 36 .- 327

Tập trung phân tích một số nét chính về quan hệ chính trị ngoại giao, quan hệ văn hóa giữa Thái Lan và Trung Quốc từ sau cuộc đảo chính 2014 đến nay (2018).

2333 Sáng kiến Mekong – Lan Thương và tác động đến Việt Nam / Lộc Thị Thủy // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2018 .- Số 12 (255) .- Tr. 37 – 45 .- 327

Tập trung vào một số nội dung như: Bối cảnh ra đời và quá trình triển khai sáng kiến Mekong – Lan Thương; bước đầu đánh giá tác động của Sáng kiến này đến Việt Nam.

2334 Quan hệ đối ngoại của Xiêm với Anh dưới thời cầm quyền của vua Rama III (1824 – 1851 / Hà Lê Huyền // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2018 .- Số 12 (255) .- Tr. 46 – 55 .- 327

Phân tích bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước đã tác động tới quá trình thâm nhập của Anh đối với Xiêm, những biểu hiện cụ thể trong các ứng xử của Rama III đối với Anh, từ đó có thêm những cơ sở khoa học để làm rõ hơn về đặc trưng trong chính quyền của Xiêm như: mềm dẻo, linh hoạt, lựa chọn hay còn gọi là truyền thống “ngoại giao cây tre” từ trong lịch sử.

2335 Dạy và học tiếng Anh ở Philippines, Malaysia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam / Lê Phương Hòa // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2019 .- Số 12 (255) .- Tr. 56 – 62 .- 371.102

Đi vào nghiên cứu trường hợp của hai quốc Đông Nam Á có điều kiện phát triển khá tương đồng với Việt Nam nhưng có hai mức độ phát triển tiếng Anh khác nhau. Trong đó, Philippines có xếp hàng thứ 3 châu Á về năng lực tiếng Anh còn Malaysia vẫn chật vật với chương trình, chính sách nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh của mình. Bài viết cũng nêu một số gợi ý mà Việt Nam có thể học từ kinh nghiệm của các nước để tìm ra lối đi riêng cho mình.

2336 Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ Trung và tác động đến các nước ASEAN / Vũ Xuân Thanh // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2018 .- Số 12 (255) .- Tr.63 – 69 .- 327

Chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 22/3/2018 khi Tổng thống Mỹ Donald Trup tuyên tố sẽ áp dụng mức thuế 50 tỷ USD cho hàng hóa Trung Quốc dựa theo mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, để ngăn chặn những gì cho là hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản sản trí tuệ...Bài viết tập trung phân tích diễn biến của cuộc chiến tranh thương mại này và tác động của nó đến các nước Asean.

2337 Quan hệ kinh tế - thương mại Việt – Trung từ năm 2014 đến nay / Doãn Công Khánh, Đặng Thị Thúy Hà // Nghiên cứu Đông Nam Á .- 2018 .- Số 12 (255) .- Số 12 (255) .- 327

Nhìn lại và đánh giá chuyển biến trong quan hệ thương mại hai nước từ năm 2014 đến nay, nêu lên những vấn đề tồn tại và một vài kiến nghị nhằm gia tăng quan hệ thương mại Việt – Trung trong thời gian tới.

2338 Những điều chỉnh chiến lược ngoại giao của Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay (1978 – 2018) / Lê Văn Mỹ // Nghiên cứu Trung Quốc .- 2018 .- Số 12 (208) .- Tr. 26 – 33 .- 327

Kể từ khi tiến hành cải cách và mở cửa đến nay, trước những thay đổi của tình hình trong nước, tình hình khu vực và thế giới, Trung Quốc đã không ngừng bổ sung, điều chỉnh chiến lược ngoại giao nhằm góp phần đem lại hiệu quả cho công cuộc xây dựng đất nước cũng như nâng cao vai trò và vị trí của Trung Quốc trên trường quốc tế.

2339 Nhân tố Liên Xô trong quan hệ Việt – Trung (1950 – 1979) / Đặng Thúy Hà // Nghiên cứu Trung Quốc .- 2019 .- Số 12 (208) .- Tr.34 – 44 .- 327

Trên cơ sở khái quát chính sách đối ngoại của Liên Xô ở những thời kỳ khác nhau, cùng với sự thay đổi trong quan hệ giữa hai nước lớn trong hệ thống XHCN, bài viết phân tích vai trò ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của Liên Xô tới quan hệ Việt – Trung trong giai đoạn 1950 – 1979.

2340 Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1945 – 1971) / Hoàng Minh Lợi // Nghiên cứu Trung Quốc .- 2018 .- Số 12 (208) .- Tr.45 – 57 .- 327

Sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật Bản bước vào thời hiện đại (1945 – nay), còn tại Trung Quốc, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (1/10/1949) nhưng vì những nguyên nhân khách quan, chủ quan nên giữa hai quốc gia hầu như không có quan hệ từ năm 1945 – 1949. Tuy nhiên, sau đó quan hệ Nhật – Trung từ tình thế đối đầu dần chuyển sang một giai đoạn mới được thể hiện qua các mối quan hệ về lĩnh vực chính trị và lĩnh vực kinh tế. Bước chuyển biến lớn trong quan hệ ngoại giao này đã có tác động tích cực tới tiến trình phát triển của mỗi quốc gia từ đó đến nay.