CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
181 Nghiên cứu từ ghép tiếng Việt ở Trung Quốc và Việt Nam / Lưu Diễm Phân, La Văn Thanh // .- 2025 .- Số 10) .- .- 400

Từ ghép tiếng Việt chiếm phần lớn và có sức sản sinh mạnh trong cấu tạo từ tiếng Việt. Việc nghiên cứu từ ghép tiếng Việt là hết sức cần thiết. Kể từ cuối thế kỷ 20 đến nay, các học giả Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được thành quả nghiên cứu phong phú về từ ghép tiếng Việt. Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tiêu chí phân loại từ ghép, trật tự hình vị của từ ghép cũng như quan hệ nghĩa giữa hình vị và từ ghép. Bài viết này tổng kết thành quả nghiên cứu từ ghép tiếng Việt của học giả Trung Quốc và Việt Nam, nhằm xem xét từ ghép tiếng Việt một cách toàn diện hơn, và chỉ ra những hướng mới cho nghiên cứu từ ghép tiếng Việt trong tương lai

182 Trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Việt / Phạm Anh Tú // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 28-39 .- 400

Bài viết được thực hiện với mục đích hệ thống hóa và phân loại trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Việt nhằm không chỉ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà còn phục vụ hiệu quả cho công tác giảng dạy, biên soạn từ điển, dịch thuật và nghiên cứu liên ngành. Thông qua việc phân tích năm tiểu trường: nguyên liệu, hoạt động và phương thức chế biến, món ăn - đồ uống, thưởng thức, vật dụng ẩm thực liên quan, ta thấy rõ tính hệ thống và tính liên kết ngữ nghĩa bên trong trường từ vựng này.

183 Lịch sử nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt / Phạm Thị Thu Hà // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 40-50 .- 400

Trong lĩnh vực ngữ âm và âm vị học tiếng Việt, ngữ điệu là yếu tố nhận được ít sự quan tâm nhất cho đến thời gian gần đây. Trước năm 1954, mặc dù đã có một số công trình đề cập đến ngữ điệu tiếng Việt, nhưng khái niệm “ngữ điệu” khi đó chưa tương đồng với cách hiểu hiện nay, vốn phân biệt rõ với thanh điệu từ vựng. Sau năm 1954, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt từ cả hai góc độ thực nghiệm và công cụ. Từ đó, ngữ điệu tiếng Việt được mô tả dựa trên cả đặc trưng ngữ âm và phương diện chức năng. Bài viết này tổng quan các nghiên cứu về ngữ điệu tiếng Việt trong khoảng bảy thập kỷ qua, đồng thời nỗ lực lý giải vì sao đến nay vẫn chưa thể xây dựng được một mô hình lý thuyết âm vị học cho ngữ điệu tiếng Việt.

184 Ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ đánh giá vào phân tích ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết For whom the bell tolls của Ernest Hemingway / Hàn Thị Bích Ngọc // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 72-80 .- 400

Tập trung vào phân tích thái độ của nhân vật thể hiện trong đối thoại thông qua hệ thống “Thái độ” của lí thuyết Ngôn ngữ đánh giá do Martin & White (2005) đề xuất. Mô hình này sẽ được áp dụng để phân tích ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết For whom the bell tolls (Chuông nguyện hồn ai), một tác phẩm nổi tiếng về đề tài chiến tranh của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway.

185 Sự tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian trong tiếng Việt: Nghiên cứu trường hợp từ qua / Lê Thị Cẩm Vân // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 48-57 .- 400

Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, quy chiếu và phối cảnh không gian của từ “qua” trong tiếng Việt, trên cơ sở đó phân tích sự chuyển di sang thời gian của từ này. Kết quả phân tích cho thấy có sự chuyển khung từ không gian sang thời gian với từ “qua” trong tiếng Việt, bao gồm trong đó sự đồ chiếu cấu trúc nghĩa biểu hiện, phối cảnh chuyển động. Mặt khác, sự chuyển khung cũng đem đến cho “qua” những khác biệt trong biểu đạt ngữ nghĩa và tri nhận thời gian so với phạm trù không gian.

186 Đặc điểm ngữ pháp điển hình của câu tồn tại tiếng Việt / Nguyễn Thị Mai Anh // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 32-39 .- 400

Bài viết này đi sâu nghiên cứu câu tồn tại trên bình diện kết học, đóng góp cơ sở cho việc nghiên cứu câu trên phương diện nghĩa học và dụng học.

187 Bàn về diễn biến nghĩa của từ Hán Việt giải pháp / Kế Hoa Trần // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 22-31 .- 400

Thu thập, so sánh những cách dùng, cách giải nghĩa của giải pháp trong kho ngữ liệu tiếng Hán và các loại từ điển, trước hết phân tích quá trình diễn biến của ý nghĩa giải pháp trong tiếng Hán, tiếp theo tìm hiểu các giải nghĩa của giải pháp trong từ điển tiếng Việt, từ điển Việt - Hán và Hán - Việt, rồi nêu ra hai nguyên nhân dẫn đến sự ngộ nhận đối với từ nguyên giải pháp, đó là thói quen chiết tự và phương pháp loại suy.

188 Hướng tiếp cận hình thức và hướng tiếp cận nghĩa trong ngôn ngữ học / Nguyễn Hoàng Trung // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 3-9 .- 400

Nghiên cứu và đưa ra một số nhận định mang tính khảo tả, phân tích nhằm góp phần minh định đối tượng và bản chất của các đường hướng tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ.

189 So sánh hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với một số phương ngữ Nùng ở Việt Nam / Phạm Anh Tú // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 10-23 .- 400

Bài viết này được viết với mục đích so sánh hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với một số phương ngữ Nùng ở Việt Nam trên bình diện đồng đại để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt. Kết quả khảo sát về tương ứng đồng nhất và đối ứng giữa hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với 2 phương ngữ Nùng An và Nùng Giang cho thấy sự tương ứng giữa chúng là không cao và không logic trong mối quan hệ giữa các phương ngữ cùng một ngôn ngữ. Điều này một lần nữa đặt ra câu hỏi đã được chúng tôi nêu ra khi so sánh hệ thống âm đầu cũng giữa Nùng Xuồng và Nùng An, Nùng Giang: Liệu các phương ngữ này có thực sự cùng thuộc một tiểu nhóm ngôn ngữ, có quan hệ họ hàng gần gũi hay không?!.

190 Ẩn dụ ý niệm về mèo trong thành ngữ tiếng Việt / Nguyễn Đình Việt // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 33-41 .- 400

Bài viết vận dụng lí thuyết ẩn dụ ý niệm của Ngôn ngữ học tri nhận để tìm hiểu thành ngữ về mèo trong tiếng Việt. Từ 61 thành ngữ về mèo, bài viết đã miêu tả và phân tích những thuộc tính của mèo gồm: hành vi, hoàn cảnh/ tình trạng, dáng vẻ, quan hệ được sử dụng để ánh xạ đến một số ý niệm của con người như hành vi, tâm trạng, quan hệ và hình thành nên những ẩn dụ như hành vi của con người là hành vi của mèo, tâm trạng của con người là dáng vẻ của mèo, mối quan hệ của con người là mối quan hệ giữa chó với mèo. Trong đó, hành vi là thuộc tính nổi trội nhất của mèo và hầu hết sự liên tưởng về mèo trong thành ngữ Việt đều mang ý nghĩa tiêu cực.