CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn
121 Tìm hiểu việc sử dụng tiếng Việt trong một số sản phẩm truyền thông ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp / Võ Thanh Hà, Bùi Thanh Thủy, Đoàn Thị Thúy Hạnh, Xuân Thị Nguyệt Hà // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 38-48 .- 400
Phân tích việc sử dụng tiếng Việt trong một số sản phẩm truyền thông ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Mục tiêu là đánh giá mức độ tuân thủ chuẩn mực ngôn ngữ và hiệu quả truyền đạt, từ đó đề xuất hàm ý cho quản lí nhà nước. Qua đó góp phần hoàn thiện chính sách ngôn ngữ, nâng cao chất lượng truyền thông và hiệu quả quản lí trong bối cảnh hiện đại.
122 Vận dụng quan điểm dị thanh vào phân tích nghĩa tình thái của câu đặc biệt Tiếng Việt / Trịnh Quỳnh Đông Nghi // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 13-21 .- 400
Bài báo tập trung vận dụng quan điểm dị thanh - một hệ hình lí thuyết bắt nguồn từ Mikhail Bakhtin và được P.P.R. White phát triển chuyên sâu trong nghiên cứu tình thái - để phân tích bình diện nghĩa tình thái của câu đặc biệt trong tiếng Việt. Trên cơ sở tổng quan các khuynh hướng tiếp cận câu đặc biệt (ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp chức năng, cú pháp nòng cốt đơn phần) và hệ thống hóa các phương tiện biểu thị tình thái (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng), tác giả tiến hành khảo sát và phân lập các kiểu câu đặc biệt trên văn bản thành hai nhóm: đơn thanh và dị thanh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, các chỉ báo từ vựng đóng vai trò chủ đạo định hình tính dị thanh.
123 Chữ viết tiếng Ve / Bùi Đăng Bình // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 142-152 .- 400
Ve là tên tự gọi (autonym) của một nhóm dân tộc thiểu số sinh sống tại xã miền núi Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng. Dân số của nhóm này có hơn 2.000 người nói bản ngữ, và ngôn ngữ của họ thuộc họ ngôn ngữ Bahnaric. Trong bài báo này, một hệ thống chữ viết cho tiếng Ve được xây dựng dựa trên chữ quốc ngữ tiếng Việt, có bổ sung thêm hai chữ cái j và w. Nghiên cứu trước hết phân tích khái niệm “chữ viết” và mô tả bản chất của các hệ thống chữ viết trên thế giới trong tiến trình lịch sử.
124 Hệ thống thanh điệu tiếng Tống ở Việt Nam / Phan Lương Hùng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 3-9 .- 400
Ở Việt Nam, tiếng Tống là ngôn ngữ duy nhất thuộc tiểu nhánh Kam – Sui, nhánh Kam - Tai, ngữ hệ Tai – Kadai. Ngôn ngữ này có số lượng người nói rất ít và có nguy cơ tiêu vong cao. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cấu trúc tiếng Tống ở Việt Nam. Bài viết này miêu tả thanh điệu tiếng Tống trên bình diện đồng đại và lịch đại, trong đó có sử dụng phần mềm Praat để làm rõ một số đặc điểm âm học của thanh điệu tiếng Tống. Trên bình diện lịch đại, bài viết cũng sử dụng phương pháp so sánh lịch sử để chỉ ra xu hướng biến đổi của hệ thống thanh điệu từ Proto Kam – Sui đến tiếng Tống.
125 “Tiêu điểm” trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình tiếng Việt / Nguyễn Thị Phương // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 10-17 .- 400
Bài viết nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết đánh giá theo trường phái ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Cụ thể, bài viết đi sâu nghiên cứu về “Tiêu điểm” (Focus) trong ngôn ngữ đánh giá ngoại hình trong tiếng Việt – một khía cạnh quan trọng trong tiểu hệ thống Thang độ (Graduation) thuộc Khung thẩm định (Appraisal framework) của Martin và White (2005).
126 Biểu hiện của nhóm từ có ý nghĩa “mức độ” trong những văn bản tiếng Việt cổ đến trung đại / Trần Hương Thục // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 18-27 .- 400
Bài viết khảo sát nhóm từ biểu thị ý nghĩa “mức độ” trong giai đoạn tiếng Việt cổ đến trung đại dựa trên 16 văn bản tiêu biểu. Kết quả cho thấy một số yếu tố có tần suất xuất hiện cao và ổn định, giữ vai trò trung tâm trong hệ thống. Một số yếu tố từng hoạt động mạnh ở giai đoạn trung đại nhưng dần suy giảm và mất chức năng ngữ pháp. Kết quả cũng cho thấy các phó từ chỉ mức độ cao chiếm ưu thế rõ rệt, trong khi các yếu tố biểu thị mức độ thấp và trung bình (hơi, khá) xuất hiện muộn. Sự biến đổi của nhóm từ mức độ phản ánh xu hướng ngữ pháp hoá để bù đắp và hoàn thiện dải thang độ trong diễn ngôn tiếng Việt qua các thời kì.
127 Một số chức năng ngữ dụng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt / Trần Thùy An // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 28-36 .- 400
Lời chỉnh sửa hội thoại là một trong những hiện tượng phổ biến trong tương tác hội thoại và bắt đầu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam trong những năm gần đây. Chức năng chính của lời chỉnh sửa là giải thích, điều chỉnh, làm rõ nhằm khắc phục sự cố nảy sinh trong quá trình tương tác nhằm duy trì tính mạch lạc và liên tục của hội thoại. Ngoài chức năng này, lời chỉnh sửa còn thực hiện một số chức năng ngữ dụng khác. Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi sẽ phân tích một số chức năng ngữ dụng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt.
128 Ngữ âm tiếng Kri Phoọng ở Việt Nam / Tạ Quang Tùng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 46-56 .- 400
Tiếng Kri Phoọng ở Việt Nam thuộc thuộc nhóm Việt (Vietic), chi Môn - Khơ Me (Mon - Khmer) của ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic). Mô hình từ âm vị học: C1vC2C3VC4 + T.Hệ thống thanh điệu tiếng Kri Phoọng gồm 5 thanh: Trong âm tiết vang: [44];[25ʔ];[52ʔ].Trong âm tiết không vang:[13];[35]. Về âm đầu và vần tiếng Kri Phoọng, âm đầu.
129 Vị thế, vai trò của tiếng Phù Lá trong đời sống hiện nay / Phan Hoàng Anh, Phạm Thị Thảo // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 57-67 .- 400
Nghiên cứu chỉ ra đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao gia đình Phù Lá hiện nay là, người Phù Lá sử dụng cả tiếng Phù Lá, tiếng Quan Hoả và tiếng Việt. Trong đó tỉ lệ sử dụng tiếng Quan Hoả là cao nhất. Tiếng Việt có xu hướng được tăng cường học tập và sử dụng đối với trẻ em ở lứa tuổi tiền học đường và tiểu học.
130 Đề xuất cấu trúc vĩ mô kiểu mới cho từ điển thuật ngữ hành chính tiếng Việt / Vũ Thị Sao Chi // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 68-79 .- 400
Bài viết này phân tích cấu trúc vĩ mô của từ điển thuật ngữ hành chính, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nó trong việc đảm bảo tính hệ thống, khả năng truy cập và thân thiện với người dùng. Dựa trên các lí thuyết từ điển học hiện đại, nghiên cứu đề xuất một mô hình cấu trúc vĩ mô mới cho thuật ngữ hành chính tiếng Việt.





