CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
51 Nhận thức về học tập dựa trên mô phỏng trong thực hành các kỹ năng lâm sàng của sinh viên y khoa Trường Y Dược - Đại học Duy Tân / Trương Hoàng Ngọc Quý, Nguyễn Nhật Trường, Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Đình Tùng // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 39-48 .- 610

Các trường đại học Y Dược tại Việt Nam đã thiết lập các trung tâm huấn luyện kỹ năng mô phỏng y khoa để nâng cao kỹ năng lâm sàng cho sinh viên, nhưng hiệu quả vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam về nhận thức của sinh viên ngành y đa khoa về phương pháp học tập này. Nghiên cứu này nhằm đánh giá nhận thức của sinh viên Y khoa, Trường Y Dược - Đại học Duy Tân về học tập dựa trên mô phỏng và các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2024 với 347 sinh viên từ năm 1 đến năm 7. Dữ liệu thu thập qua bộ công cụ tự điền, đánh giá nhận thức về hệ quả, lợi ích và khả năng học tập dựa vào mô phỏng bằng thang đo Likert 5 mức độ. Số liệu được phân tích bằng SPSS 20 với mô hình hồi quy logistic đa biến. Kết quả: 40,3% sinh viên có nhận thức cao và 59,4% có nhận thức trung bình. Sinh viên cho rằng phương pháp mô phỏng trong lớp học có nhận thức cao hơn gấp 2,185 lần so với những sinh không có hoặc không nhớ. Sinh viên chưa thực hành tại bệnh viện và thực hành theo giờ quy định có nhận thức cao hơn lần lượt 3,622 và 3,932 lần so với sinh viên có thực hành ngoài giờ. Kết luận: Đa dạng hóa việc áp dụng mô phỏng trong giáo dục y học, tăng cường các tình huống mô phỏng lâm sàng sẽ giúp tăng nhận thức về học tập dựa trên mô phỏng.

52 Kết quả của phương pháp cắt niêm mạc qua nội soi dưới nước (UEMR) trong điều trị Polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10 - 20 mm / Đặng Thạnh // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 73-78 .- 610

Polyp không cuống đại trực tràng có nguy cơ tiến triển thành ung thư, do đó cần được loại bỏ hiệu quả. Kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi dưới nước (UEMR) là một phương pháp mới được kỳ vọng có hiệu quả và độ an toàn cao hơn so với phương pháp cắt niêm mạc nội soi quy ước (CEMR), tuy nhiên dữ liệu về hiệu quả và độ an toàn của phương pháp này tại Việt Nam vẫn còn chưa nhiều. Mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ cắt và bờ an toàn (R0) của UEMR trong điều trị polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10 - 20 mm, đối chiếu với CEMR. 2. So sánh biến chứng của hai phương pháp điều trị trên. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát hiệu quả điều trị trên 100 polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10 - 20 mm tại Khoa Nội soi, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 11/2023 đến tháng 6/2024; chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: UEMR (n = 50) và CEMR (n = 50). Kết quả: Tỷ lệ cắt trọn khối của UEMR cao hơn CEMR (100% so với 90%, p<0,05). Tỷ lệ bờ an toàn (R0) cũng vượt trội hơn ở nhóm UEMR (96% so với 84%, p < 0,05). UEMR giảm đáng kể biến chứng chảy máu (6,0% so với 24,0%, p < 0,05) so với CEMR, tỷ lệ hội chứng đốt điện sau cắt cũng thấp hơn ở nhóm UEMR (6,0% so với 18,0%) nhưng khác biệt không có ý nghĩa, p > 0,05. Kết luận: UEMR là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị polyp không cuống đại trực tràng kích thước 10-20 mm, cho tỷ lệ cắt trọn khối và bờ an toàn (R0) cao hơn, ít biến chứng hơn so với CEMR.

53 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách / Nguyễn Nguyện, Hồ Mạnh Hùng, Trần Hữu Anh Tú // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 144-151 .- 610

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi mũi xoang điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ở 56 bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách, được phẫu thuật nội soi mũi xoang từ tháng 2/2021 đến tháng 6/2023. Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả, có can thiệp lâm sàng. Kết quả: Nam chiếm tỷ lệ 55,4%, nam 44,6%. Độ tuổi 16 - 45 gặp nhiều nhất, chiếm 59%. Triệu chứng cơ năng: chảy mũi gặp ở mọi trường hợp, nghẹt mũi 91,1%, nhức đầu 83,9%, giảm mất khứu giác 33,9%. Triệu chứng thực thể qua nội soi: tất cả đều có phù nề niêm mạc và bán tắc phức hợp lỗ ngách, dịch xuất tiết 96,4% và polyp mũi 37,5%. Hình thái bất thường phức hợp lỗ ngách chủ yếu là bất thường cuốn giữa 24,1%, tế bào Haller rất hiếm gặp chỉ 2,7%. Đánh giá kết quả chung điều trị sau phẫu thuật 3 tháng: tốt 67,9%, khá 28,5% và 3,6% kém là hai trường hợp có tái phát polyp. Không có trường hợp nào bị biến chứng nặng như tổn thương ống lệ tỵ, chảy dịch não tủy, chảy máu hậu nhãn cầu, song thị hay mù mắt. Kết luận: Phẫu thuật nội soi mũi xoang là phương pháp an toàn và hiệu quả để điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách.

54 Chất lượng giáo dục sức khỏe đối với bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế / Dương Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Mai Lan // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 152-159 .- 610

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính phổ biến, gây nhiều biến chứng nặng và đòi hỏi bệnh nhân có kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc. Giáo dục sức khỏe (GDSK) trước khi xuất viện đóng vai trò quan trọng, trong đó điều dưỡng là lực lượng thực hiện chính. Tuy nhiên, chất lượng GDSK tại bệnh viện còn nhiều hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: (1) Mô tả phản hồi của bệnh nhân ĐTĐ về chất lượng GDSK xuất viện của điều dưỡng; (2) Khảo sát các yếu tố liên quan đến phản hồi này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 110 bệnh nhân ĐTĐ tại Khoa Nội, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Công cụ đánh giá là thang điểm QDTS. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, kiểm định t-test, ANOVA và hồi quy tuyến tính đa biến (p < 0,05). Kết quả: Điểm trung bình toàn thang QDTS là 7,91 ± 0,38. Nội dung cần thiết cao hơn nội dung thực tế nhận được. Ba yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: giới tính, bác sĩ và điều dưỡng là người cung cấp thông tin. Một số yếu tố khác như bệnh kèm, tiền sử gia đình và HbA1c có liên quan bước đầu nhưng không còn ý nghĩa khi phân tích đa biến. Kết luận: Bệnh nhân đánh giá chất lượng GDSK ở mức khá, nhưng vẫn còn chênh lệch giữa mong đợi và nội dung nhận được. Giới tính và người cung cấp thông tin là các yếu tố liên quan đáng kể. Cần tăng cường kỹ năng giao tiếp và cá nhân hóa nội dung GDSK nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sau xuất viện.

55 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh của u lympho tế bào B lớn lan tỏa ở dạ dày - ruột / Nguyễn Duy Thịnh // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 98-104 .- 610

Xác định một số đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, kiểu hình miễn dịch của u lympho tế bào B lớn lan tỏa ở dạ dày - ruột. Đối tượng và phương pháp: 99 bệnh nhân được chẩn đoán xác định u lympho tế bào B lớn lan tỏa ở dạ dày - ruột tại Bệnh viện K (Hà Nội), Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 1/2021 đến tháng 6/2023. Kết quả: Tuổi trung bình 55 ± 16 tuổi, tỉ lệ nam/nữ là 1,15, tỉ lệ biến chứng 21,2%, tỉ lệ có triệu chứng B 15,2%; 30,3% được chẩn đoán ở giai đoạn IIE, IV. Trên mô bệnh học hình thái lan tỏa chiếm 100%, tế bào u có kích thước lớn (77,8%), hỗn hợp dạng nguyên tâm bào và dạng nguyên bào miễn dịch chiếm 72,7%. 86% dưới típ tâm mầm có CD10 dương tính, dưới típ hoạt hóa có 45% Bcl6 âm tính và 45% biểu hiện Bcl6, MUM1 dương tính. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về vị trí u, tỉ lệ biến chứng, tỉ lệ triệu chứng B và giai đoạn giữa u lympho tế bào B lớn lan tỏa dưới típ hoạt hóa và dưới típ tâm mầm. Kết luận U lympho tế bào B lớn lan tỏa thường biểu hiện triệu chứng không đặc hiệu. Đặc trưng trên mô bệnh học bởi hình thái lan tỏa của tế bào kích thước lớn, phần lớn là hỗn hợp của nguyên tâm bào và nguyên bào miễn dịch với 4 loại kiểu hình miễn dịch. Có sự chồng lấp về một số đặc điểm lâm sàng giữa dưới típ hoạt hóa và dưới típ tâm mầm.

56 Khảo sát tình trạng rối loạn cơ xương của bác sĩ răng hàm mặt ở các cơ sở y tế tại thành phố Huế năm 2024 / Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Đậu Thục Diệp, Vy Thị Ngọc Diệu // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 91-97 .- 610

Rối loạn cơ xương (RLCX) là một vấn đề sức khỏe nghề nghiệp quan trọng trong ngành Răng Hàm Mặt (RHM). Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và đánh giá các yếu tố liên quan đến RLCX của bác sĩ RHM ở các cơ sở y tế tại thành phố Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bảng câu hỏi chuẩn hoá Bắc Âu để đánh giá RLCX. Kết quả: Trong 170 bác sĩ được khảo sát, có 81,2% và 33,5% đối tượng lần lượt có biểu hiện RLCX trong 12 tháng qua và 7 ngày qua. Trong 12 tháng qua, tình trạng RLCX chiếm tỷ lệ cao ở cổ (63,5%), vai (42,4%) và thắt lưng (38,2%). Có mối liên quan giữa RLCX với tuổi, số ngày làm việc/tuần, làm việc ở một tư thế/vị trí cố định trong thời gian dài và làm việc ở tư thế khó chịu cúi/ cong/vặn lưng/đầu (p < 0,05). Nhóm 30 - 44 tuổi có nguy cơ mắc RLCX gấp 4,73 lần so với nhóm ≥ 45 tuổi. Làm việc ở một tư thế/vị trí cố định với tần suất hằng ngày và chiếm phần lớn thời gian trong ngày lần lượt có nguy cơ mắc RLCX cao gấp 5,974 và 7,15 lần so với đối tượng không có tình trạng này này. Kết luận: Tỷ lệ RLCX ở bác sĩ RHM tương đối cao, trong đó vị trí chủ yếu là cổ, vai và thắt lưng. Nhóm tuổi 30 - 44 tuổi với tần suất làm việc ở một tư thế cố định kéo dài có nguy cơ RLCX cao.

57 Giá trị tiên lượng của chỉ số ABIC ở bệnh nhân xơ gan do rượu / Phan Trung Nam, Trần Thị Phương Ly // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 120-125 .- 610

Khảo sát chỉ số ABIC và giá trị tiên lượng một số biến chứng và tử vong của chỉ số này ở bệnh nhân xơ gan rượu trong thời gian nằm viện, 1 tháng và 3 tháng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 117 bệnh nhân xơ gan mất bù do rượu nhập viện điều trị, theo dõi tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 5/2021 - 5/2023. Đánh giá chỉ số ABIC khi nhập viện, phân tích diện tích dưới đường cong (AUC) dự đoán biến cố xơ gan của bệnh nhân trong thời gian nằm viện, 1 tháng, 3 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu 52,83 ± 8,10, tỷ lệ nam/nữ: 114/3. Chỉ số ABIC trung bình của bệnh nhân khi nhập viện là 7,16 ± 0,98, tỷ lệ nhóm nguy cơ cao và trung bình theo chỉ số ABIC lần lượt là 2,5% và 66,7%. Giá trị tiên lượng biến chứng gan thận của ABIC theo dõi trong vòng 1 tháng với AUC là 0,780, giá trị dự báo với điểm cắt 7,78 có độ nhạy 80,0% và độ đặc hiệu 77,7% (p = 0,034). Ở ba thời điểm theo dõi biến cố tử vong, chỉ có thời điểm theo dõi trong vòng 3 tháng, chỉ số ABIC có giá trị tiên lượng tử vong với AUC = 0,785, p=0,002, tốt hơn so với thang điểm CTP và MELD. Kết luận: Chỉ số ABIC có giá trị tiên lượng tử vong trong vòng 3 tháng khá tốt. Ngoài ra, chỉ số này có khả năng dự báo hội chứng gan thận trong vòng 1 tháng. Điểm số ABIC càng cao khả năng xảy ra các biến chứng và tử vong càng lớn.

58 Mối liên quan giữa HbA1c với đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An / Ngô Đức Kỷ // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 13 .- Tr. 9-13 .- 610

Tìm hiểu mối liên quan giữa HbA1c với mức độ tổn thương ĐMV ở bệnh nhân NMCT cấp trên hình ảnh chụp ĐMV bằng DSA tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An (BVHNĐKNA). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 bệnh nhân NMCT cấp có chụp mạch vành qua da tại BVHNĐKNA trong thời gian từ tháng 2 năm 2024 đến tháng 05 năm 2024. Kết quả: Yếu tố nguy cơ thường gặp nhất của nhóm đối tượng nghiên cứu là THA (76,7%), tỷ lệ đái tháo đường trong nhóm nghiên cứu là 32,7%. Trung bình HbA1c ở các nhánh động mạch vành trái (LCA), động mạch mũ (LCX), động mạch vành phải (RCA) có mức độ hẹp ≥ 70% cũng cao hơn so với trung bình HbA1c ở các nhánh này có mức độ hẹp < 70% (p < 0,05). Ở bệnh nhân hẹp 3 nhánh động mạch HbA1c trung bình 8,16 ± 2,05% cao hơn bệnh nhân hẹp 2 nhánh và 1 nhánh lần lượt là 6,24 ± 1,8 % và 6,03 ± 1,5% (p < 0,05). Có mối tương quan thuận giữa HbA1c với mức độ hẹp LAD (r = 0,26; p = 0,01). Kết luận: Nồng độ HbA1c tăng cao có liên quan đến mức độ hẹp nặng động mạch vành ở bênh nhân nhồi máu cơ tim cấp ở nhân bị đái tháo đường và không bị đái tháo đường.

59 Khảo sát tình hình bệnh nhân chấn thương hàm mặt điều trị nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế / Hoàng Minh Phương // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 65-72 .- 610

Chấn thương hàm mặt là một trong những loại chấn thương thường gặp và ảnh hưởng trực tiếp đến thẩm mỹ khuôn mặt, chức năng ăn nhai của người bệnh cũng như là chức năng giao tiếp. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến chấn thương hàm mặt và đánh giá kết quả điều trị các tổn thương vùng hàm mặt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 60 bệnh nhân chấn thương hàm mặt tại Khoa Tai Mũi Họng - Mắt - Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2023. Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ: 5,67/1, thường gặp ở nhóm tuổi 18 - 39 tuổi (61,67%). Nguyên nhân chủ yếu là do tai nạn giao thông (85%). Vết thương phần mềm có 58 trường hợp (96,67%) trong đó vết thương đụng dập cao nhất chiếm 39,33%. Gãy xương vùng hàm mặt có 48 trường hợp, chủ yếu là gãy một xương đơn thuần trong đó gãy xương trong đó gãy xương gò má- cung tiếp chiếm tỉ lệ cao nhất 60,41%. Kết luận: Chấn thương hàm mặt thường gặp ở nam giới, nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông và thường phối hợp vừa vết thương phần mềm và gãy xương, đụng dập là vết thương phần mềm thường gặp và gãy xương gò má cung tiếp là loại gãy xương thường gặp nhất.

60 Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân xuất huyết não / Nguyễn Thành Công // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 79-85 .- 610

Xuất huyết não (XHN) là bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Đối với những người còn sống, 70 - 80% gặp phải các di chứng nặng nề ảnh hưởng đến chức năng vận động và nhận thức. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu nghiên cứu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỷ lệ tử vong và xác định các yếu tố tiên lượng liên quan đến tử vong ở bệnh nhân XHN điều trị nội trú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân vào viện được chẩn đoán XHN theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại khoa Lão và khoa Hồi sức tích cực chống độc từ 5/2024 đến 10/2024. Kết quả: Qua nghiên cứu 59 bệnh nhân XHN tuổi trung bình 66 ± 14,6, nam chiếm 71,2%. Tiền sử tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất 64,4%. Khởi phát hôn mê (50,8%), đau đầu (40,7%), liệt khu trú bên trái (50,8%), liệt hai bên (15,3%). CTscan xuất huyết não, não thất chiếm tỷ lệ cao nhất 67,8%. Bệnh nhân tử vong 52,5%, sống ra viện 47,5% trong đó điểm mRS 0-2 chiếm 33,9%. Các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân XHN: Glasgow vào viện < 9 điểm (OR = 32,51 (95% CI: 4,37-241,82), P<0,01), HA tâm thu vào viện ≥ 180 mmHg (OR = 7,22 (95% CI: 1,18-44,16), P = 0,03), CTscan có XHN và não thất (OR = 11,64 (95% CI: 1,36 - 99,44), P = 0,03). Kết luận: Xuất huyết não là một bệnh có tỷ lệ tử vong cao, khởi phát đột ngột với hôn mê, liệt khu trú. Điểm Glasgow vào viện < 9, HA tâm thu vào viện ≥ 180 mmHg, CTscan với xuất huyết não thất là yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân XHN.