CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
51 Đánh giá kết quả thay khớp háng với kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền tại Bệnh viện Quân Y 121 / Trần Mạnh Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 369 - 373 .- 610

Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng sử dụng kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền tại Bệnh viện Quân y 121. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc trên 71 bệnh nhân (75 khớp háng) được thay khớp háng toàn phần hoặc bán phần từ 3/2020 đến 3/2022. Kết quả phục hồi được đánh giá theo thang điểm Harris tại các thời điểm sau mổ 1, 3 và 6 tháng; đồng thời ghi nhận các biến chứng trong và sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình trên 60 chiếm 45,1%, tỷ lệ nam:nữ gần tương đương. Nguyên nhân chủ yếu là gãy cổ xương đùi (45,3%) và hoại tử chỏm xương đùi (32%). Kết quả sau mổ đạt mức tốt và rất tốt ở 88% khớp, khá 9,3%, trung bình 2,7%. Tỷ lệ trật khớp sau mổ thấp (1,3%), lệch chi <1 cm chiếm đa số (57,1%). Các biến chứng khác gồm huyết khối tĩnh mạch sâu 5,33%, tổn thương thần kinh khoeo ngoài 2,67% và nhiễm khuẩn nông 1,3%. Kết luận: Kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền giúp cải thiện rõ rệt chức năng vận động, giảm đau và hạn chế biến chứng sớm sau mổ.

52 Biến đổi giải phẫu mảnh ghép gan phải từ người hiến sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Nguyễn Vũ Quang, Lê Văn Thành, Trần Hiếu Học // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 353 - 357 .- 610

Mô tả biến đổi giải phẫu của mảnh ghép gan phải từ người hiến sống. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả đặc điểm 55 mảnh ghép gan phải từ người hiến sống từ tháng giai đoạn 01/2022 đến tháng- 12/2022 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được mô tả biến đổi giải phẫu của mạch máu và đường mật. Tất cả người bệnh được thực hiện phẫu thuật theo một quy trình thống nhất. Kết quả: Có 55 trường hợp gồm 29 nam và 26 nữ tham gia nghiên cứu. Tỉ lệ người bệnh có biến đổi giải phẫu về tĩnh mạch cửa, đường mật, động mạch gan lần lượt là 5,5%; 10,9%; và 25,5%. Về tĩnh mạch cửa, có 2 trường hợp type B và 1 trường hợp type C. Về đường mật, tỉ lệ type 3a, 3b, 4a, 4b lần lượt là 1,8%; 3,6%; 1,8% và 3,6%. Về động mạch gan, có 4 trường hợp type 3b và 3 trường hợp type 2a. Về tĩnh mạch gan, chủ yếu gặp type 4a và 4b với tỉ lệ lần lượt là 50,9% và 40,0%. Kết luận: Mảnh ghép gan hiến có tỉ lệ cao biến đổi giải phẫu về tĩnh mạch gan, động mạch gan, tỉ lệ thấp về tĩnh mạch cửa và đường mật.

53 Đánh giá tình trạng kháng kháng sinh của Acinetobacter baumannii phân lập tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh / Huỳnh Minh Tuấn, Nguyễn Thị Thiên Kiều, Lương Hồng Loan, Bùi Phi Điệp, Phạm Thị Thanh Tình, Châu Minh Quỳnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 309 - 314 .- 610

A. baumannii là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) phổ biến và nguy hiểm, đặc biệt tại Khoa hồi sức tích cực (ICU), với khả năng kháng đa thuốc cao, nhất là nhóm carbapenem, gây khó khăn trong điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Tại Việt Nam, tình trạng kháng thuốc và tử vong do A. baumannii đặc biệt nghiêm trọng, đòi hỏi nghiên cứu sâu về đặc điểm dịch tễ và đề kháng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và điều trị. Mục tiêu: Xác định đặc điểm dịch tễ và đánh giá tình hình kháng kháng sinh của A. baumannii tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp: Nghiên cứu thực hiện trên 156 chủng A. baumannii phân lập tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Vi khuẩn được định danh và xác định đề kháng kháng sinh bằng hệ thống máy Phoenix M50. Kết quả: A. baumannii chủ yếu được phân lập tại Khoa ICU (51,3%), với nhiễm khuẩn đường hô hấp chiếm ưu thế (78,2%). Tỷ lệ kháng kháng sinh với nhiều nhóm kháng sinh như cephalosporin (68,6–72,3%), carbapenem (70–71%), aminoglycoside (55,2–72,4%) và fluoroquinolone (62,8-64,1%). Minocycline có tỷ lệ kháng thấp (6,5%), 100% chủng có kháng trung gian với colistin. Tỷ lệ cải thiện và xuất viện là 70,5%; tỷ lệ người bệnh diễn tiến nặng hoặc tử vong là 26,9%. Kết luận: A. baumannii là tác nhân chính gây NKBV tại Khoa ICU với mức độ kháng kháng sinh cao, đặc biệt đối với carbapenem và nhiều nhóm thuốc khác. Nghiên cứu nhấn mạnh cần tiếp tục giám sát kháng sinh, áp dụng chiến lược quản lý kháng sinh hợp lý và kiểm soát sự lan truyền vi khuẩn đa kháng trong Bệnh viện.

54 Tỷ lệ viêm phúc mạc do viêm túi mật và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau giai đoạn 2023–2024 / Huỳnh Ngọc Linh, Nguyễn Thể Tần, Phù Văn Thùy, Nguyễn Văn Hải // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 292 - 296 .- 610

Viêm phúc mạc là biến chứng nguy hiểm của viêm túi mật cấp, có thể dẫn đến tử vong nếu không can thiệp kịp thời. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm phúc mạc do viêm túi mật và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau giai đoạn 2023- 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 643 bệnh nhân chẩn đoán viêm túi mật, thu thập 01/2023–12/2024. Phân tích bằng phần mếm stata 18.0 và phân tích hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Tỷ lệ viêm phúc mạc là 23,79% (153/643). Kết quả nghiên cứu với 65,94% người bệnh cư trú nông thôn; nữ 67,97%; tuổi ≥60 là 43,23%; thời gian từ khởi phát đến nhập viện ≥72 giờ 30,64%; bạch cầu ≥15 G/L 74,80%; CRP >10 mg/L 72,78%. Phân tích hồi quy logistic cho thấy các yếu tố liên quan gồm: cư trú nông thôn (OR hiệu chỉnh=1,53; KTC95%: 1,03– 2,56; p=0,01), tuổi ≥60 (1,94; 1,12–2,83; p=0,003), khởi phát >72 giờ (2,35; 1,15–3,58; p<0,0001), có bệnh mắc kèm (1,64; 1,31–2,93; p=0,002), bạch cầu >15 G/L (1,48; 1,11–3,43; p=0,009) và CRP >50 mg/L (1,39; 1,14–2,68; p=0,03). Kết luận: Viêm phúc mạc do viêm túi mật chiếm tỷ lệ đáng kể. Cần nhấn mạnh chẩn đoán sớm, nhập viện trong <72 giờ, quản lý bệnh nền và theo dõi chỉ số viêm để giảm biến chứng và cải thiện kết cục.

55 Sử dụng sụn vành tai tái cấu trúc đầu mũi trên bệnh nhân di chứng khe hở môi một bên / Nguyễn Hồng Nhung, Chu Minh Quang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 289 - 292 .- 610

Đánh giá kết quả tạo hình đầu mũi bằng sụn vành tai tự thân trên bệnh nhân di chứng khe hở môi vòm miệng 1 bên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 52 bệnh nhân di chứng khe hở môi 1 bên được tạo hình đầu mũi và trụ mũi bằng sụn vành tai tự thân. Kết quả: Đặc điểm di chứng mũi của các bệnh nhân khe hở môi 1 bên có trụ mũi ngắn, cánh mũi xẹp bè ngang, lỗ mũi 2 bên không đều, vách mũi nghiêng, đầu mũi rủ. Sau phẫu thuật độ cao đầu mũi nhô cao hơn mũi trước phẫu thuật trung bình 2,70 ± 2.04 mm. Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân với kết quả phẫu thuật có 43 bệnh nhân (82,63%) rất hài lòng, 9 bệnh nhân (17,37%) hài lòng và không có bệnh nhân nào không hài lòng. Kết luận: sụn vành tai là chất liệu phù hợp để tăng độ cao đầu mũi, cải thiện sự cong vẹo của trụ mũi và tái tạo hình thể cánh mũi trên các bệnh nhân di chứng khe hở môi 1 bên.

56 Đặt stent động mạch nội sọ trong can thiệp điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp / Phạm Đình Đài, Đặng Minh Đức // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2026 .- Số 1 .- Tr. 357 - 361 .- 610

Hẹp động mạch nội sọ là thách thức trong điều trị tái thông mạch do tỉ lệ tái tắc mạch cao, tỉ lệ tái thông tốt thấp. Mục tiêu: Đánh giá kết quả, an toàn của đặt stent điều trị hẹp động mạch nội sọ trong can thiệp nhồi máu não do tắc mạch lớn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát, hồi cứu, các trường hợp nhồi máu não do tắc mạch lớn được điều trị can thiệp và có đặt stent nội sọ trong thời gian từ tháng 1/2024 tới tháng 4/2025 tại Bệnh viện Quân y 103. Kết quả: Tuổi trung bình 61,4 ± 12,7, nam giới 70,6%. Các yếu tố nguy cơ của ICAD: tăng huyết áp 73,5%, hút thuốc 64,7%, rối loạn lipid máu 47,1%, đái tháo đường 26,5%. Vị trí hẹp: động mạch cảnh trong 10,9%, động mạch não giữa (MCA) đoạn M1 65,9%, MCA đoạn M2 23,1%. Trước đặt stent, tỉ lệ tái thông tốt 8,8% sau đặt stent 68,5% (p<0,05). Tỉ lệ hồi phục lâm sàng tốt (mRS 0 – 2) 58,9%. Lóc tách động mạch 2,9%, nhồi máu não chuyển thể chảy máu 26,5%, chảy máu dưới nhện 8,8%. Kết luận: Đặt stent trong điều trị cấp cứu tái thông mạch đối với các trường hợp nhồi máu não do ICAD là kỹ thuật an toàn, tăng tỉ lệ tái thông tốt và hồi phục lâm sàng cho người bệnh.

57 Sử dụng chỉ số lâm sàng, biomarker để chỉ định kháng sinh hợp lý cho trẻ sơ sinh dưới 34 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương / Lại Thị Hồng Nhung, Lê Minh Trác, Nguyễn Đắc Trung, Trần Đức Tú // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 285 - 289 .- 610

Đánh giá chỉ số lâm sàng, biomarker để chỉ định kháng sinh hợp lý cho trẻ sơ sinh dưới 34 tuần nghi ngờ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm có sử dụng kháng sinh ngay sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 192 trẻ sơ sinh dưới 34 tuần nghi ngờ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm theo NICE 2021 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kết quả: Tuổi thai trung bình 30,3 tuần, phần lớn rất non và cực non, cân nặng < 1500 gram, có 56,3% nam và 43,8% nữ. Các triệu chứng lâm sàng tại thời điểm ngay sau đẻ thường gặp là các triệu chứng về hô hấp, tiêu hóa và thần kinh bao gồm thở nhanh (94,3%), rút lõm lồng ngực (94,8%), bú kém (100%), giảm trương lực cơ (50%). Đặc điểm cận lâm sàng ngay sau đẻ không đặc hiệu bao gồm bạch cầu tăng (2,1%), bạch cầu giảm (6,3%), tiểu cầu giảm (1,6%), CRP ≥ 10 mg/L (1%), PH toan (89,1%). Cấy máu dương tính (chiếm 0,5%). Tỷ lệ cắt kháng sinh trong vòng 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày lần lượt là 54,2%; 76,6% và 92,9%. Liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm ban đầu là Ampicillin và Aminoglycoside chiếm 100%. Có mối liên quan chặt chẽ giữa diễn biến lâm sàng, CRP và cấy máu với khả năng cắt kháng sinh sớm. Nhóm lâm sàng tốt, CRP âm tính, cấy máu âm tính có tỷ lệ cắt kháng sinh sớm rất cao (97,5%). Kết luận: Đặc điểm triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng ngay sau đẻ không đặc hiệu cho NKSSS. Kết hợp đánh giá lâm sàng, CRP và cấy máu giúp quyết định cắt kháng sinh an toàn cho trẻ sơ sinh dưới 34 tuần nghi ngờ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm.

58 So sánh hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi của Bupivacain phối hợp Dexamethason so với Bupivacain đơn thuần trong gây tê cơ dựng sống dưới hướng dẫn siêu âm / Nguyễn Thị Hương, Phạm Quang Minh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 95 - 100 .- 610

So sánh hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi của gây tê cơ dựng sống dưới hướng dẫn siêu âm bằng bupivacaine 0,25% đơn thuần với bupivacaine 0,25% phối hợp dexamthason 4mg. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên có đối chứng. Tiến hành gây tê cơ dựng sống để giảm đau sau phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi cho 70 bệnh nhân, chia làm hai nhóm: gây tê bằng 30ml bupivacain 0,25% (nhóm I) và gây tê bằng 30 ml bupivacain 0,25% phối hợp dexamethason 4mg (nhóm II). Đánh giá hiệu quả giảm đau thông qua các chỉ số điểm đau VAS khi nghỉ ngơi/vận động, liều lượng morphin tiêu thụ. Kết quả: Điểm VAS trung bình khi nghỉ ngơi/vận động của nhóm II tại các thời điểm từ 12 đến 20 giờ sau gây tê ESP thấp hơn nhóm I, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Thời gian yêu cầu liều morphin đầu tiên của các bệnh nhân nhóm I ngắn hơn nhóm II: 10,21 ± 1,17 so với 14,44 ± 2,01 giờ; p < 0,01. Tổng liều morphin sử dụng trong 24 và 48 giờ đầu của các bệnh nhân nhóm I nhiều hơn nhóm II: 21,54 ± 4,02 mg/ 36,67 ± 4,14 mg so với 13,26 ± 2,64 mg/22,36 ± 5,62 mg; p < 0,01. Kết luận: Gây tê ESP bằng bupivacain phối hợp dexamethason có hiệu quả giảm đau kéo dài và tốt hơn gây tê ESP bằng bupivacain đơn thuần trong phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi.

59 Nghiên cứu sự phân bố các chủng human papillomavirus HPV trên người bệnh ung thư biểu mô vảy amidan trong giai đoạn 2018 - 2022 / Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hoàng Việt, Nguyễn Quang Trung // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 91 - 95 .- 610

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các chủng và tỷ lệ nhiễm HPV trên người bệnh mắc ung thư biểu mô vảy (UTBMV) Amidan. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 167 mẫu mô sinh thiết của các người bệnh đã được chẩn đoán UTBMV Amidan tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ 2018-2022 bằng kỹ thuật Nested-PCR và phương pháp giải trình tự gen Sanger. Kết quả: 83/167 mẫu bệnh phẩm được xác định có HPV+ chiếm tỉ lệ 49,7%. Phát hiện 5 chủng HPV: 65/83 (78,3%) trường hợp HPV16, 2 trường hợp HPV58 và 1 trường hợp HPV18 (đều là HPV nguy cơ cao) và 14/83 (16,9%) trường hợp HPV44, 1 trường hợp HPV26 (đều là HPV nguy cơ thấp). Tỷ lệ bệnh nhân nữ mắc UTBMV Amidan có HPV+ (88,9%) lớn hơn bệnh nhân nam (45%) có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ HPV+ cao nhất ở giai đoạn III (64,7%) và giảm đi ở giai đoạn IV, với số lượng HPV- nhiều nhất (48/81) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố giai đoạn bệnh giữa nhóm HPV+ và HPV-. Kết luận: qua nghiên cứu 167 bệnh nhân ung thư biểu mô vảy amidan chúng tôi đã phát hiện 83 trường hợp dương tính với HPV chiếm tỉ lệ 49,7%. Giải trình tự gen phát hiện năm chủng HR - HPV16, 18, 58 và LR – HPV44, 26 chiếm tỉ lệ lần lượt là 78,3%, 2,4%, 1,2% và 16,9%, 1,2%. Tỷ lệ bệnh nhân nữ mắc UTBMV Amidan có HPV+ (88,9%) lớn hơn bệnh nhân nam (45%) có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tỷ lệ HPV+ cao nhất ở giai đoạn III (64,7%) và giảm đi ở giai đoạn IV, với số lượng HPV- nhiều nhất (59,3%) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

60 Nghiên cứu một số đặc điểm của động mạch vị trái trên cắt lớp vi tính 64 dãy / Hồ Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đình Luân, Nguyễn Chí Phong, Đỗ Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 87 - 91 .- 610

Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu động mạch (ĐM) vị trái trên cắt lớp vi tính (CLVT) 64 dãy. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 385 trường hợp được chụp CLVT 64 dãy ổ bụng tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bình Dân từ tháng 9/2024 đến tháng 4/2025. Kết quả: Trong số 385 mẫu nghiên cứu, nguyên ủy của động mạch vị trái (ĐMVT) xuất phát từ ĐM thân tạng chiếm 91,9% trường hợp, hơn 61% nguyên ủy ĐMVT dao động từ 1/3 dưới đốt sống ngực 12 (D12) đến 1/3 trên đốt sống thắt lưng 1 (L1). Đường kính ĐMVT là 2,66 ± 0,31mm, chiều dài ĐMVT là 30,33 ± 9,25mm. Ghi nhận 77,1% trường hợp quan sát thấy nhánh của ĐMVT chủ yếu là nhánh dạng I. Khoảng cách từ ĐM chủ bụng đến ĐMVT là 19,65 ± 6,06mm. Kết luận: Nghiên cứu cung cấp những thông tin cần thiết giúp phẫu thuật viên xác định các mốc giải phẫu thích hợp khi tiến hành nhận diện vùng bóc tách, kẹp – cắt mạch đúng chỗ trong những trường hợp phẫu thuật dạ dày hoặc can thiệp nội mạch tại ĐMVT hoặc đi đường thông qua ĐMVT có thể chọn được cathete phù hợp.