CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
51 Kết quả hóa xạ trị đồng thời triệt căn ung thư thực quản bằng phác đồ CAPOX tại Bệnh viện K / Nguyễn Hồng Trường, Vũ Quang Toản, Vi Trần Doanh, Nguyễn Thị Thùy Trang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 65 - 69 .- 610

Đánh giá đáp ứng điều trị và tác dụng không mong muốn ở người bệnh ung thư thực quản được hóa xạ trị đồng thời triệt căn bằng phác đồ CAPOX tại Bệnh viện K. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 102 người bệnh ung thư thực quản không mổ được điều trị tại bệnh viện K từ 7/2022 đến 12/2024. Kết quả: Tuổi trung bình là 61,7 ± 7,9. Tỉ lệ nam/nữ: 50/1. Vị trí u 1/3 giữa chiếm tỉ lệ cao nhất (44,2%). Giai đoạn II, III, IVA lần lượt là 33,3% và 62,7% và 3,9%. Liều hóa chất trung bình là 95,0 ± 1,5%. Tỉ lệ gián đoạn xạ trị < 7 ngày và ≥ 7 ngày lần lượt là 53,9% và 46,1%. Tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là 31,4%; 58,8%; 6,9%; 2,9%. Tỉ lệ đáp ứng cao hơn khi u ở giai đoạn sớm, chưa có di căn hạch vùng (p < 0,05). Các tác dụng không mong muốn chủ yếu trên hệ tạo huyết: giảm hồng cầu (43,1%), bạch cầu (32,3%), tiểu cầu (36,3%). Biến chứng sớm do xạ trị: viêm thực quản (52,0%), viêm da (48,1%), viêm phổi (12,8%), rò thực quản (1,0%). Kết luận: Phác đồ cho kết quả đáp ứng tốt và tác dụng không mong muốn ở mức độ chấp nhận được.

52 Đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và kiểu gen của bệnh động kinh ở trẻ dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 / Nguyễn Phạm Hoàng Long, Trần Thị Kim Vân, Nguyễn Thụy Minh Thư, Nguyễn Lê Trung Hiếu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 69 - 73 .- 610.0012

Động kinh ở trẻ dưới 6 tuổi có nhiều hội chứng điện-lâm sàng đặc trưng và liên quan mật thiết đến các đột biến gen. Tại Việt Nam, việc phân tích gen trong chẩn đoán động kinh đang ngày càng phổ biến. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và kiểu gen ở trẻ dưới 6 tuổi mắc động kinh điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 130 bệnh nhi từ 01/2021–10/2023. Tất cả đều được xét nghiệm di truyền bằng giải trình tự gen thế hệ mới trên bộ 220 hoặc 4503 gen. Kết quả: Phát hiện 53/130 (40,8%) trẻ có động kinh do đột biến gen, chủ yếu là SCN1A (32,1%) và PRRT2 (11,3%). Kiểu cơn động kinh phổ biến là co cứng-co giật toàn thể. Đa số trẻ khởi phát bệnh trong năm đầu đời (84,3%) và có biểu hiện phát triển bất thường. Hoạt động điện não bất thường ghi nhận ở 78,7%. Một số biến thể chưa từng được báo cáo trên cơ sở dữ liệu Clinvar. Kết luận: Giải trình tự gen thế hệ mới cho hiệu quả chẩn đoán di truyền cao trong nhóm trẻ động kinh dưới 6 tuổi. Phát hiện gen gây bệnh góp phần định hướng chẩn đoán hội chứng, điều trị và tiên lượng.

53 Biến chứng và kết quả điều trị bệnh cúm mùa tại khoa bệnh nhiệt đới tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An / Hồ Thị Lan, Trần Thái Phong, Phạm Thị Kiều Lê, Nguyễn Thị Mai Hoàn, Đặng Thị Hồng Khánh, Trương Mạnh Tú, Ngô Anh Vinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 78 - 82 .- 610

Mô tả biến chứng và kết quả quả điều trị ở bệnh nhi mắc cúm tại khoa Bệnh nhiệt đới tại Bệnh viện Sản nhi Nghệ An. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 210 bệnh nhi mắc cúm từ 9/2023 đến tháng 9/2024. Kết quả: Biến chứng thường gặp nhất là viêm phế quản phổi (47,6%) gặp nhiều hơn ở trẻ sinh non (75%) so với trẻ đủ tháng (p<0,05). Hầu hết bệnh nhân có sử dụng kháng sinh. Thời gian nằm viện trung bình là 4,9 ± 2,2 ngày; ngắn hơn ở nhóm dùng thuốc kháng virus sớm (<48 giờ). Thời gian sốt cũng ngắn hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm dùng thuốc kháng virus sớm (1,8 ± 1,3 ngày so với 2,5 ± 1,8 ngày; p<0,05). Kết luận: Viêm phế quản phổi là biến chứng phổ biến, đặc biệt ở trẻ sinh non. Sử dụng thuốc kháng virus sớm giúp rút ngắn thời gian sốt. Không có trường hợp tử vong hoặc chuyển viện.

54 Đặc điểm biểu hiện của CDX2 ở bệnh nhân carcinoma tuyến đại-trực tràng tại Việt Nam / Lê Minh Huy, Lưu Thị Thu Thảo, Lý Thanh Thiện, Lê Hồ Ngọc Trâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 161 - 165 .- 610

Đánh giá mối liên quan của CDX2 với các đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh trong carcinôm tuyến đại-trực tràng. Đối tượng, phương pháp: NC cắt ngang trên 356 trường hợp. Đánh giá CDX2 theo ngưỡng cắt tỷ lệ dương tính ≥25%. Kết quả: Tỷ lệ CDX2 dương tính chiếm 95,8%, không khác biệt đáng kể theo giới, tuổi, vị trí, tình trạng di căn hạch hay mô bệnh học. Song song đó, giai đoạn T1–3 cho thấy tỷ lệ CDX2 dương tính vượt trội so với giai đoạn tiến xa T4a-T4b (OR=4,53; p<0,005), khẳng định mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ xâm lấn và sự mất biểu hiện CDX2. Đồng thời, kết quả cũng cho thấy xu hướng nguy cơ mất CDX2 cao hơn ở nhóm biệt hóa kém so với nhóm biệt hóa vừa (OR=1,63; CI95%: 0,2–13,6), nhấn mạnh khả năng CDX2 có thể là một dấu ấn quan trọng phản ánh cả mức độ ác tính và tiên lượng bệnh. Kết luận: CDX2 được biểu hiện ở tỷ lệ rất cao trong ung thư đại trực tràng, nhưng sự suy giảm rõ rệt ở nhóm giai đoạn T4 đã nhấn mạnh vai trò của nó như một chỉ dấu then chốt phản ánh mức độ xâm lấn và tiên lượng bệnh.

55 Đánh giá kết quả nhận định nguy cơ tổn thương da do áp lực theo thang điểm Braden của điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Hồng Minh, Võ Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Thị Phương Thả // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 156 - 160 .- 610

Đánh giá kết quả nhận định nguy cơ TTDDAL theo thang điểm Braden của điều dưỡng chăm sóc so với chuẩn vàng là điều dưỡng chuyên gia CSVT tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành từ 02/2025 đến 06/2025 trên 139 điều dưỡng thuộc các khối Nội, Ngoại và Hồi sức đã được tập huấn quy trình đánh giá TTDDAL. Mỗi điều dưỡng thực hiện một lượt đánh giá nguy cơ bằng thang Braden, so sánh với đánh giá độc lập của điều dưỡng chuyên gia chăm sóc vết thương (CSVT). Phân tích độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương/âm và hệ số Kappa được sử dụng. Kết quả: Độ tuổi trung bình của điều dưỡng là 33,8 ± 6,4; nữ giới chiếm 88,9%. Tỷ lệ đánh giá đúng so với chuyên gia đạt 94,2% (KTC 95%: 89,1–97,1). Độ nhạy 95,9% (KTC 95%: 88,7–98,6), độ đặc hiệu 92,3% (KTC 95%: 83,2–96,7), giá trị tiên đoán dương 93,4% (KTC 95%: 85,5–97,2), giá trị tiên đoán âm 95,2% (KTC 95%: 86,9–98,4). Hệ số Kappa đạt 0,884 (KTC 95%: 0,806–0,962), p < 0,001, phản ánh mức độ đồng thuận rất cao. Các yếu tố vận động và ma sát/trượt có độ chính xác cao nhất (≥ 96%), trong khi yếu tố dinh dưỡng có tỷ lệ sai nhiều nhất (12,2%). Kết luận: Điều dưỡng chăm sóc tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM có độ chính xác cao trong đánh giá nguy cơ TTDDAL bằng thang Braden so với điều dưỡng chuyên gia CSVT. Nghiên cứu gợi ý cần tăng cường đào tạo và giám sát đối với các yếu tố dễ sai sót, đặc biệt là dinh dưỡng, đồng thời tiếp tục chuẩn hóa quy trình đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa TTDDAL.

56 Thực trạng phòng nhiễm khuẩn bệnh viện của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2025 / Vũ Văn Đẩu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 147 - 152 .- 610

Đánh giá kiến thức và thái độ của nhân viên y tế về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thời gian từ tháng 2- tháng 7 năm 2025 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định. Kết quả: Trong số 300 nhân viên y tế được khảo sát 21,7% có kiến thức chung về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện ở mức tốt, 49,7% trung bình và 28,7% kém. Nội dung tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn có tỷ lệ kiến thức kém thấp nhất (15,7%), trong khi vệ sinh môi trường, xử lý dụng cụ và quản lý chất thải có tỷ lệ kiến thức kém cao nhất (54,7%). Về thái độ, 49,3% nhân viên y tế đạt mức tốt và 50,7% ở mức trung bình. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy kiến thức và thái độ về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định còn hạn chế, với gần 1/3 có kiến thức kém và khoảng một nửa chỉ đạt mức thái độ trung bình. Do đó, cần tăng cường đào tạo định kỳ, giám sát thực hành và xây dựng chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện.

57 Khảo sát đặc điểm giải phẫu bệnh tân sinh biểu mô gai bề mặt nhãn cầu / Hồ Anh Thi, Nguyễn Thị Hoàng Lộc, Lý Thanh Thiện, Lưu Thị Thu Thảo, Vũ Thị Việt Thu, Ngô Quốc Đạt, Phạm Quốc Thắng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Y học Việt Nam (Điện tử) .- Tr. 139 - 143 .- 610

Mô tả đặc điểm mô bệnh học và xác định tỷ lệ, phân loại hình thái tổn thương tân sinh biểu mô gai bề mặt nhãn cầu (OSSN) tại Khoa Xét Nghiệm, Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu kết hợp mô tả cắt ngang trên các mẫu sinh thiết được chẩn đoán là các phân nhóm của OSSN tại Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2024. Kết quả: Nghiên cứu 188 trường hợp OSSN ghi nhận: Độ tuổi trung bình là 52,9 ± 15,4, với nam giới chiếm đa số (64,9%). Về vị trí, ghi nhận có sự phân bố đồng đều giữa mắt phải và mắt trái với 93 ca (49,5%) mỗi bên. Ngoài ra có 2 trường hợp ghi nhận gặp ở cả hai bên mắt (1,0%). Về phân nhóm mô học, CIN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (58,0%), trong khi CIN 3, CIN 1 và SCC lần lượt chiếm 17,0%, 15,4% và 9,6%. Các đặc điểm mô học như mức độ dị dạng nhân, số lượng phân bào bất thường và tình trạng thấm nhập tế bào viêm thường gặp ở các phân nhóm CIN 3 và SCC (p < 0,05). Tình trạng tăng/dày sừng do ánh nắng ghi nhận liên quan với mức độ nghịch sản nặng dần và chiếm tỷ lệ cao nhất ở SCC (p < 0,05). Kết luận: Giải phẫu bệnh đóng vai trò thiết yếu trong chẩn đoán xác định OSSN. Đồng thời ghi nhận mối liên hệ giữa hiện tượng tăng/dày sừng do ánh nắng và mức độ ác tính mô học, gợi ý giá trị tiên lượng của đặc điểm này trong đánh giá tổn thương OSSN.

58 Vai trò của trắc nghiệm đánh giá nhận thức MoCA trong tầm soát sa sút trí tuệ mạch máu / Đinh Thị Tuyết Thanh, Nguyễn Trọng Hưng, Chu Văn Thăng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 135 - 139 .- 610

Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò trắc nghiệm đánh giá nhận thức MoCA trong sàng lọc sa sút trí tuệ mạch máu. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 152 bệnh nhân có bệnh lý mạch máu não tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương được thực hiện thang điểm MoCA và chẩn đoán SSTT mạch máu theo tiêu chuẩn DSM-5 từ tháng 10/2024 đến tháng 7/2025. Kết quả: Nghiên cứu được thực hiện trên 152 bệnh nhân có bệnh mạch máu não tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 73.41 ± 8.09, trong đó 21,7% được xác định có sa sút trí tuệ (SSTT), 78.3% không bị sa sút trí tuệ. Điểm trung bình thang MoCA ở nhóm sa sút trí tuệ là 13.82 ± 1.86, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không sa sút trí tuệ (22.61 ± 3.40, p < 0.01). Tất cả các lĩnh vực nhận thức được đánh giá bởi thang điểm MoCA bao gồm thị giác không gian/điều hành, gọi tên, sự chú ý, ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, trí nhớ và khả năng định hướng đều khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. Phân tích ROC cho thấy thang điểm MoCA có khả năng phân biệt rất tốt giữa nhóm có và không có sa sút trí tuệ, với diện tích dưới đường cong (AUC) đạt 0.994 (CI 95%: 0.985 – 1.000, p < 0.001). Điểm cắt tối ưu được xác định là 16/17, với chỉ số Youden là 0.944. Tại ngưỡng này, thang MoCA đạt độ nhạy 96.7%, độ đặc hiệu 97.5%, giá trị tiên đoán dương 91.4% và giá trị tiên đoán âm 99.1%. Kết luận: Thang điểm MoCA là công cụ tầm soát nhận thức hữu ích với độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong tầm soát sa sút trí tuệ mạch máu.

59 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Hải Dương / Vũ Thị Hoàng Anh, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thị Thu Hiền, Bùi Thị Thu Thủy, Chu Văn Tuyên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 131 - 135 .- 610

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2024 – 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhi từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi điều trị nội trú tại khoa Hô hấp và khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện Nhi Hải Dương từ 01/12/2024 đến 28/02/2025. Kết quả: Có 396 trẻ tham gia nghiên cứu, trong đó có 107 trẻ viêm phổi nặng và 289 trẻ viêm phổi. Tỷ lệ nam/nữ là 1,2/1 với 47% trẻ bị viêm phổi thuộc nhóm tuổi dưới 12 tháng. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho (98,7%), khò khè (81,1%), sốt (61,9%), ran ẩm (99,2%), thở nhanh (84,8%). Trên bệnh nhân viêm phổi các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân chiếm tỷ lệ thấp. Cận lâm sàng: tổn thương nốt mờ rải rác trên phim X-quang tim phổi là 79,5%. Giá trị trung bình của số lượng bạch cầu là 12,5 ± 5,2 G/l và CRP là 11,1 ± 20,5 mg/l. Kết luận: Viêm phổi vẫn là bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ với các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng điển hình

60 Tỷ lệ và một số chỉ định mổ lấy thai theo phân loại Robson tại Bệnh viện Phú Bình - Thái Nguyên / Đồng Văn Thành, Nguyễn Thị Hồng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 127 - 131 .- 610

Nghiên cứu 589 thai phụ đến sinh tại bệnh viện Phú Bình Thái Nguyên từ 1/2024 đến tháng 12/2024. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ mổ lấy thai, phân loại mổ lấy thai theo phân loại Robson và nhận xét một số chỉ định. Kết quả: Tỷ lệ mổ lấy thai 53,1%, đóng góp tỉ lệ mổ lấy thai cao nhất là nhóm 5, 1, 3 với tỉ lệ lần lượt 29,68%, 14,84%, 11, 13%. Mẹ có vết mổ cũ và bà mẹ thiếu máu mổ lấy thai nhiều nhất là 48,9% và 8,8%. Các chỉ định về phía con nhiều nhất là thai to và thai suy chiếm tỷ lệ lần lượt là 13,4% và 14,4%. Các chỉ định khác nhiều nhất là cổ tử cung không tiến triển chiếm tỷ lệ 19,2%.