CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
61 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh dại và một số yếu tố liên quan của người dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng / Đặng Thị Anh Thư // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 134-143 .- 610

Bệnh dại là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, khi đã phát bệnh cả người và động vật truyền bềnh đều tử vong. Tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh dại (PCBD) góp phần xây dựng thành công vùng an toàn dịch bệnh trên địa bàn huyện Hoà Vang và duy trì vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh dại trên địa bàn 6 quận của thành phố Đà Nẵng, góp phần bảo vệ sức khỏe người dân và cộng đồng. Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh dại của người dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng năm 2022 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh dại ở đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2022 trên 400 người dân có nuôi chó mèo trên địa bàn huyện Hòa Vang trên bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. Kết quả: 65,5% người dân có kiến thức đạt; 69,3% có thái độ tốt; 70,5% có thực hành đạt. Sau khi áp dụng mô hình hồi quy đa biến: có mối liên quan giữa kiến thức về PCBD với số lượng chó mèo nuôi trong nhà, tiền sử bị chó mèo cắn, số lượng nguồn thông tin được tiếp nhận (p < 0,05); có mối liên quan giữa thái độ về PCBD và yếu tố dân tộc, nhóm tuổi và số lượng nguồn thông tin được tiếp nhận (p < 0,05); có mối liên quan giữa thực hành về PCBD với yếu tố dân tộc, tiền sử bị chó mèo cắn, kiến thức và thái độ về PCBD (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống bệnh dại còn chưa cao. Để kiểm soát được bệnh cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của chính quyền, sự hưởng ứng của cộng đồng và đặc biệt cần đến sự phối hợp liên ngành, đa ngành theo hướng tiếp cận Một sức khỏe; cần tích cực truyền thông trên các kênh khác nhau để nâng cao nhận thức và sự chủ động của người dân trong PCBD.

62 Đánh giá chức năng tiền đình của người bệnh đái tháo đường type 2 bằng hệ thống ghi hình kiểm tra lắc đầu (video Head Impulse Test – vHIT) / Nguyễn Minh Đức, Hoàng Tiến Trọng Nghĩa, Đoàn Văn Anh Vũ, Huỳnh Đăng Lộc, Huỳnh Thị Như Ý, Phan Xuân Uy Hùng, Nguyễn Lê Trung Hiếu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 344 - 348 .- 610

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy đái tháo đường có thể gây suy giảm chức năng tiền đình. Tuy nhiên, kết quả từ các nghiên cứu ở người sử dụng video Head Impulse Test (vHIT) vẫn chưa rõ ràng. Nghiên cứu này nhằm so sánh chức năng tiền đình giữa bệnh nhân đái tháo đường type 2 (ĐTĐ2) và người khỏe mạnh, với giả thuyết rằng bệnh nhân ĐTĐ2 sẽ có h-gain thấp hơn. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tại Bệnh viện Quân y 175 (04–08/2024), gồm bệnh nhân ĐTĐ2 không triệu chứng tiền đình và nhóm chứng khỏe mạnh. Tất cả được thực hiện vHITs, loại bỏ tín hiệu nhiễu. So sánh giữa hai nhóm gồm: (1) giá trị h-gain tuyệt đối sau lọc nhiễu và (2) tỷ lệ có h-gain bất thường (<0,8) trên dữ liệu thô. Kết quả: Tổng cộng 42 đối tượng (21 ĐTĐ2, 21 chứng). Nhóm ĐTĐ2 có h-gain trung bình thấp hơn (trái: 1,03 vs 1,08; phải: 1,02 vs 1,08), nhưng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,14). Có 2 bệnh nhân ĐTĐ2 giảm gain (<0,8), không có trường hợp nào ở nhóm chứng. Kết luận: Dù không có sự khác biệt đáng kể trên vHIT, vẫn có khả năng rối loạn tiền đình ở bệnh nhân ĐTĐ2, do vHIT có thể không phát hiện được các rối loạn ở tần số thấp hơn.

63 Hiệu quả giảm đau của gây tê ống cơ khép kết hợp Dexamethason tĩnh mạch so với Morphin khoang dưới nhện sau phẫu thuật nội soi khớp gối / Vũ Đình Quân // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 105-111 .- 610

So sánh hiệu quả giảm đau của phương pháp gây tê ống cơ khép kết hợp với dexamethason tĩnh mạch so với morphin khoang dưới nhện, cũng như tác dụng không mong muốn của hai phương pháp. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên có so sánh. Chín mươi hai bệnh nhân trên 18 tuổi, ASA I đến III, có chỉ định phẫu thuật nội soi khớp gối được phân bổ ngẫu nhiên vào hai nhóm. Tất cả bệnh nhân đều được gây tê tủy sống bằng bupivacain ưu trọng và fentanyl, truyền tĩnh mạch paracetamol 1 g mỗi 8 giờ sau phẫu thuật. Một nhóm được tiêm 100 mcg morphin vào khoang dưới nhện (nhóm M) và nhóm còn lại được gây tê ống cơ khép bằng levobupivacain 0,25% 20 mL và dexamethason 8 mg tiêm tĩnh mạch (nhóm S). Điểm số đau sau phẫu thuật khi nghỉ ngơi và vận động được đánh giá bằng thang điểm nhìn (VAS), tỷ lệ và thời điểm yêu cầu giải cứu đau đầu tiên, tác dụng không mong muốn, sự hài lòng của bệnh nhân, chất lượng hồi phục sau phẫu thuật cũng được đánh giá. Kết quả: Điểm VAS trung vị của cả hai nhóm đều nhỏ hơn hoặc bằng 3 tại các thời điểm nghiên cứu. Tỷ lệ yêu cầu giải cứu đau ở nhóm S (8,7%) và nhóm M (6,5%, p > 0,05). Thời gian trung bình đến khi yêu cầu lần giải cứu đầu tiên ở nhóm S (11,4 ± 3,5 giờ) và nhóm M (16,6 ± 2,6 giờ, p > 0,05). Có 39,1% bệnh bị buồn nôn và nôn, 37,0% bệnh nhân bị ngứa trong nhóm M, tỷ lệ này ở nhóm S không đáng kể lần lượt là 0% và 4,3%, p < 0,05. Tỷ lệ bí tiểu ở nhóm M và S lần lượt là 10,9% và 4,3%, p > 0,05. Không có trường hợp nào bị ức chế hô hấp ở cả hai nhóm. Mức độ hài lòng thấp hơn đáng kể ở nhóm M (34,8% rất hài lòng) khi so sánh với nhóm S (69,6% rất hài lòng, p < 0,05). Điểm QoR-15 ở nhóm S cao hơn nhóm M ở cả hai thời điểm 12 giờ và 24 giờ, p < 0,05. Kết luận: Cả hai phương pháp đều mang lại hiệu quả giảm đau tốt sau phẫu thuật nội soi khớp gối. Gây tê ống cơ khép kết hợp với dexamethason tĩnh mạch vượt trội hơn so với morphin khoang dưới nhện về tỷ lệ tác dụng không mong muốn, sự hài lòng của bệnh nhân và chất lượng hồi phục sau phẫu thuật.

64 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân được điều trị sỏi đường mật bằng phẫu thuật nội soi / Cao Minh Tiệp, Phùng Thế Khang, Đặng Ngọc Giao, Lê Văn Lợi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 184 - 189 .- 610

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân sỏi đường mật điều trị bằng phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 01/2022 đến 06/2023. Đối tượng và phương pháp: Đối tượng gồm 39 được chẩn đoán sỏi đường mật. Phương pháp nghiên cứu mô tả kết hợp hồi cứu và tiến cứu. Kết quả: Bệnh gặp ở người có tuổi trung bình là 57,33 ± 15,51 tuổi (nhỏ nhất 19 và lớn nhất 82 tuổi), nhóm 60-79 tuổi chiếm tỷ lệ 41,0%, giới nữ chiếm tỷ lệ 59%, tỷ lệ nam/nữ: là 0,7/1. Đau hạ sườn phải gặp ở 100 % trường hợp, sốt gặp ở 35,9% trường hợp, vàng da gặp ở 30,8% trường hợp và tam chứng C-harcot gặp ở 30,8% trường hợp. Bạch cầu tăng ở 35,9% trường hợp, Neutrophil tăng ở 38,5% trường hợp. Billirubin toàn phần tăng ở 53,85% trường hợp, men SGOT tăng ở 64,1% trường hợp, SGPT tăng ở 66,7% trường hợp. Kích thước ống mật chủ trên siêu âm và CLVT/CHT tương đương nhau. Kết luận. Sỏi đường mật gặp nhiều ở nữ, lứa tuổi 60-79 tuổi. Lâm sàng gồm đau hạ sườn, sốt và vàng da. Xét nghiệm thấy tăng bạch cầu, enzym gan và bilirubin toàn phần.

65 Đánh giá tính an toàn và kết quả điều trị polyp đại trực tràng kích thước trên 10mm bằng phương pháp cắt polyp dưới nước tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024 - 2025 / Phan Bá Danh, Nguyễn Công Long, Vũ Hải Hậu, Lê Hữu Nhượng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 204 - 208 .- 610

Đánh giá tính an toàn và kết quả điều trị polyp đại trực tràng kích thước trên 10mm bằng phương pháp cắt polyp dưới nước tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024 – 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 42 bệnh nhân với 72 tổn thương polyp đại trực tràng kích thước trên 10mm từ tháng 11/2024 đến tháng 07/2025 tại Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả: Vị trí polyp: gặp nhiều nhất ở đại tràng sigma (43,1%). Kích thước polyp chủ yếu từ 11-19mm (68,1%). Phân loại Paris chủ yếu típ O-Isp (55,6%), phân loại Jnet 2A chiếm 62,5%. Triệu chứng sau can thiệp hay gặp đau bụng nhẹ (điểm VAS 1 -2 điểm). Biến chứng chảy máu trong can thiệp chiếm 8,3%, không ghi nhận biến chứng thủng, chảy máu sau can thiệp và hội chứng sau cắt. Tỷ lệ cắt trọn nguyên khối chiếm 91,7%. Kết quả cắt polyp tốt chiếm 90,28%, kết quả đạt: 9,72%. Kết luận: Phương pháp cắt polyp dưới nước là kỹ thuật an toàn và hiệu quả đối với polyp kích thước trên 10mm.

66 Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2024: Một tổng quan tường thuật / Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thành Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 200 - 204 .- 610

Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam được báo cáo rất khác nhau trong những năm qua, phản ánh sự không đồng nhất trong năng lực chăm sóc và điều trị giữa các cơ sở y tế. Mục tiêu: Tổng hợp các dữ liệu hiện có về tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam giai đoạn 2020–2024, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan và định hướng cho các chiến lược cải thiện. Đối tượng và phương pháp: Bài viết là một tổng quan tường thuật, lựa chọn các nghiên cứu được công bố trên các tạp chí y khoa có bình duyệt trong giai đoạn 2020– 2024, tập trung vào báo cáo tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam. Kết quả: Tỷ lệ tử vong được báo cáo dao động trong khoảng 40– 70%, có sự khác biệt giữa các tuyến bệnh viện. Một số nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tử vong thấp hơn tại các bệnh viện hạng đặc biệt so với bệnh viện tuyến dưới, tuy nhiên chưa ghi nhận sự khác biệt rõ ràng theo khu vực địa lý. Kết luận: Tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn tại Việt Nam vẫn ở mức cao. Cần tăng cường phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, cơ sở điều trị và cơ quan quản lý y tế để cải thiện chất lượng chăm sóc và kết cục của bệnh nhân.

67 Khảo sát tình hình tăng huyết áp khó kiểm soát và tăng huyết áp kháng trị tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ / Trần Kim Sơn, Nguyễn Quan Đức Minh // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 208 - 212 .- 610

Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp khó kiểm soát và tăng huyết áp kháng trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 247 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả: Nghiên cứu trên 247 bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy tuổi trung bình 62,3 ± 12,7, đa số là nữ (60,7%) và có tỷ lệ cao bệnh đồng mắc như đái tháo đường (41,3%) và rối loạn lipid máu (60,7%). Tỷ lệ tăng huyết áp khó kiểm soát là 55%, trong khi tăng huyết áp kháng trị chiếm 9,3% tổng số mẫu và 16,9% trong nhóm khó kiểm soát. Trong nhóm khó kiểm soát, đa số bệnh nhân sử dụng 2–3 thuốc hạ áp nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu, và khoảng 20% chỉ điều trị đơn trị liệu. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng huyết áp khó kiểm soát/kháng trị với các bệnh đồng mắc (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ tăng huyết áp khó kiểm soát tại bệnh viện tuyến cuối còn cao, trong khi tăng huyết áp kháng trị chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn là nhóm nguy cơ cao. Việc chưa tối ưu hóa phác đồ điều trị và kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể góp phần làm giảm hiệu quả kiểm soát huyết áp. Cần tăng cường chiến lược điều trị đa thuốc, cải thiện tuân thủ, và thực hiện các nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định rõ các yếu tố nguy cơ liên quan.

68 Đặc điểm lâm sàng, Xquang của bệnh nhân cấy ghép implant có thiết kế rãnh xoắn nhỏ vùng cổ tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2023 - 2024 / Đàm Văn Việt, Nguyễn Thành Lâm, Trịnh Hải Anh, Trần Thị Mỹ Hạnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 212 - 216 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang của bệnh nhân cấy ghép implant có thiết kế rãnh xoắn nhỏ vùng cổ tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội năm 2023 - 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh được thực hiện ở 26 bệnh nhân trên 18 tuổi mất răng từng phần với 34 vị trí cấy ghép trụ implant ETK (Pháp) tại Khoa Cấy ghép Implant, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Các đặc điểm lâm sàng, Xquang bao gồm giới tính, tuổi, vị trí răng mất, nguyên nhân và thời gian mất răng; chiều rộng và chiều dài xương có ích; mật độ xương; chiều dày niêm mạc sừng hóa. Kết quả: Tổng đối tượng tham gia nghiên cứu là 26 bệnh nhân, trong đó nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn (53,8%). Tuổi trung bình là 45,6±9,6 (28 - 66), độ tuổi từ 35 - 50 tuổi (57,1%) chiếm phần lớn. Nghiên cứu trên 34 vị trí mất răng có chỉ định cấy ghép trụ implant ETK có kết quả: Nguyên nhân mất răng chủ yếu do sâu răng/bệnh lý tủy (97,1%), viêm quanh răng chỉ chiếm 2,9%, không có trường hợp nào mất răng do chấn thương hay bẩm sinh. Thời gian mất răng 6-12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (41,2%). Chiều rộng xương có ích đều >6mm, trong đó 6-9mm chiếm tỉ lệ cao nhất 61,8%. Chiều cao xương có ích 12-14mm chiếm tỷ lệ cao nhất (38,2%), tiếp theo là > 14mm (35,3%). Mật độ xương chủ yếu là xương D2 (61,8%); tiếp theo là xương D3 (38,2%) với hàm trên chủ yếu là D3 (88,9%), hàm dưới chủ yếu là D2 (80%). Chiều dày niêm mạc sừng hoá đa phần ≥ 2mm (94,1%). Kết luận: Các đặc điểm về lâm sàng và X-quang vùng mất răng của nhóm đối tượng nghiên cứu thuận lợi cho việc cấy ghép trụ implant ETK có thiết kế rãnh xoẵn nhỏ vùng cổ, thể hiện qua kích thước xương đầy đủ (chiều rộng >6 mm, chiều cao >10 mm) và chất lượng xương tốt (chủ yếu loại D2 và D3), chiều dày niêm mạc sừng hoá ≥ 2mm ở hầu hết các trường hợp. X-quang là công cụ quan trọng trong cấy ghép implant.

69 Dấu hiệu 'spot' và 'vệ tinh' ở bệnh nhân chảy máu não nguyên phát: Đặc điểm hình ảnh và liên quan đến gia tăng khối máu tụ / Trần Thị Ngọc Trường, Nguyễn Thị Thanh Bé, Luyện Trung Kiên, Đồng Thị Thu Trang, Phạm Đình Đài // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 216 - 220 .- 610

Mô tả đặc điểm hình ảnh của dấu hiệu (DH) “spot” trên chụp cắt lớp vi tính mạch não (CTA), DH “vệ tinh” trên chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não và đánh giá mối liên quan giữa hai DH này với nguy cơ gia tăng khối máu tụ (KMT) ở bệnh nhân (BN) đột quỵ chảy máu não (CMN) nguyên phát. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 116 BN CMN nguyên phát được chụp CTA trong vòng 6 giờ kể từ khi khởi phát. Đánh giá sự hiện diện của DH “spot”, “vệ tinh”, và các đặc điểm thuộc thang điểm Spot Sign Score (SSS), sau đó so sánh giữa hai nhóm có và không tăng KMT (HE và Non-HE). Kết quả: Tỷ lệ DH “spot” là 39,66%, trong đó nhóm HE chiếm 68,75%, cao gấp 2,4 lần so với nhóm Non- HE (28,57%), p<0,001. DH “vệ tinh” xuất hiện ở 18,10% BN, cao hơn đáng kể ở nhóm HE (34,38% so với 11,90%; p = 0,005). Đồng thời xuất hiện cả hai DH ở nhóm HE cao gấp 3 lần nhóm Non-HE (25,00% so với 8,33%; p = 0,017). Về thang điểm “spot”, các đặc điểm có ý nghĩa gồm: đường kính ngang lớn nhất của “spot” ≥ 5 mm (86,36% ở nhóm HE so với 33,33%; p<0,001) và SSS ≥ 2 (86,36% so với 45,83%; p=0,015). Kết luận: DH “spot”, “vệ tinh”, và thang điểm “spot” có giá trị tiên lượng cao trong dự đoán nguy cơ gia tăng KMT ở BN CMN nguyên phát. Việc kết hợp các DH này giúp tăng độ chính xác trong phân tầng nguy cơ, hỗ trợ ra quyết định điều trị phù hợp.

70 Đánh giá tiên lượng tử vong bằng thang điểm SNAP-II tại khoa Hồi sức Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 / Huỳnh Hoàng Duy, Phạm Thị Thanh Tâm, Nguyễn Đức Toàn // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 221 - 225 .- 610

Xác định tỷ lệ phần trăm các yếu tố liên quan đến tử vong và giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm SNAP-II ở trẻ sơ sinh tại Khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: cắt ngang từ 01/01/2025 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Đánh giá thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 (lúc nhập khoa) và T24 (giờ 24 sau nhập khoa). Kết quả: Có 182 trường hợp trẻ sơ sinh được đánh giá trong thời gian nghiên cứu. Tuổi thai có trung vị 36,6 tuần (34,0 – 38,0 tuần), cân nặng lúc sinh có trung vị 2455g (1800 – 3000g), tỷ lệ trẻ sơ sinh cực non là 3,9%. Các chẩn đoán thường gặp bao gồm non tháng (50,0%), nhiễm khuẩn huyết (39,0%), tim bẩm sinh (29,1%), viêm phổi (23,0%). Các điều trị chính bao gồm dùng thuốc kháng sinh (98,9%), thở máy (84,1%), thở NCPAP (48,4%), dùng thuốc vận mạch (29,7%). Tỷ lệ tử vong là 11,0%. Điểm số thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 là 15 (8 – 22). Giá trị các yếu tố liên quan tử vong của dân số chung trong thang điểm SNAP-II được ghi nhận theo tỷ lệ bệnh nhi có chỉ số bất thường ở thời điểm T0 là: lượng nước tiểu (63,2%), thân nhiệt (52,7%), tỷ lệ PO₂/FiO₂ (49,5%), pH máu thấp nhất (13,7%), huyết áp trung bình (2,7%) và co giật nhiều lần (1,0%). Điểm số thang điểm SNAP-II ở thời điểm T24 là 5 (0 – 7). Giá trị các yếu tố liên quan tử vong của dân số chung trong thang điểm SNAP-II được ghi nhận theo tỷ lệ bệnh nhi có chỉ số bất thường ở thời điểm T24 là: tỷ lệ PO₂/FiO₂ (43,4%), pH máu thấp nhất (18,7%), lượng nước tiểu (15,9%), huyết áp trung bình (3,3%), thân nhiệt (1,5%) và co giật nhiều lần (0,5%). Kết luận: Tỷ lệ tử vong là 11,0%. Điểm số thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 là 15 (8 – 22) và T24 là 5 (0 – 7). Giá trị các yếu tố liên quan tử vong của dân số chung trong thang điểm SNAP-II được ghi nhận theo tỷ lệ bệnh nhi có chỉ số bất thường ở thời điểm T0 là lượng nước tiểu (63,2%), thân nhiệt (52,7%) và T24 là tỷ lệ PO₂/FiO₂ (43,4%), pH máu thấp nhất (18,7%).