CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
61 Cost analysis of outpatient antihypertensive drug treatment at 331 Hospital (Gia Lai province), 2024: data from the VNPT–HIS software = Phân tích chi phí thuốc điều trị tăng huyết áp ngoại trú tại Bệnh viện 331 (tỉnh Gia Lai), năm 2024: dữ liệu từ phần mề / Le Dao Bich Van, Nguyen Trang Thuy // .- 2025 .- No. 05(72) .- P. 113-122 .- 610
The study utilized 1,057 outpatient prescriptions from 212 patients diagnosed with hypertension who received treatment at 331 Hospital between January and December 2024.
62 Đánh giá biểu hiện dấu ấn SATB2 trên u nguyên phát và hạch di căn tương ứng của carcinôm tuyến đại tràng / Lê Minh Huy, Lý Thanh Thiện, Lưu Thị Thu Thảo, Phạm Văn Hùng, Giang Mỹ Ngọc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 123 - 127 .- 610
SATB2 là dấu ấn mô miễn dịch có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho carcinôm tuyến đại– trực tràng. Trong chẩn đoán các ổ di căn chưa rõ nguồn gốc, SATB2 có giá trị cao trong thực hành. Tuy nhiên, dữ liệu về sự tương đồng biểu hiện SATB2 giữa u nguyên phát và hạch di căn vùng vẫn còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá biểu hiện SATB2 trên u nguyên phát và hạch di căn tương ứng của carcinôm tuyến đại–trực tràng, đồng thời khảo sát mức độ tương đồng giữa hai nhóm. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 197 ca carcinôm tuyến đại tràng có di căn hạch vùng được phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2023. Biểu hiện SATB2 được đánh giá trên mẫu TMA, đánh giá biểu hiện kiểu bán định lượng và đọc độc lập bởi hai bác sĩ giải phẫu bệnh. Kết quả: SATB2 dương tính ở 181/197 (91,9%) u nguyên phát và 185/197 (93,9%) hạch di căn. Tương đồng giữa u và hạch ghi nhận ở 185/197 trường hợp (93,9%). Nghiên cứu ghi nhận có 12/197 ca (6,1%) không tương đồng (4 ca u dương tính nhưng hạch âm tính, 8 ca ngược lại; p < 0,001). Kết luận: SATB2 có tỷ lệ biểu hiện dương tính cao và sự tương đồng cao giữa u nguyên phát và hạch di căn của ung thư đại–trực tràng, cho thấy SATB2 có giá trị cao trong chẩn đoán nguồn gốc đại–trực tràng ở các trường hợp di căn.
63 Kết quả hướng dẫn sử dụng bình xịt định liều có buồng đệm bằng video cho người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc hen phế quản / Dương Thị Thuý, Lê Nguyễn Thanh Nhàn, Trần Thuỵ Khánh Linh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 117 - 123 .- 610
So sánh kiến thức và thực hành của NCS trước và sau một tháng tham gia chương trình hướng dẫn qua video về sử dụng BXĐLBĐ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lượng giá trước sau trên NCS trẻ HPQ dưới 5 tuổi đến khám tại phòng khám hen - Bệnh viện Nhi đồng 2 từ 11/2024 đến 05/2025, thỏa các tiêu chí chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu. Kết quả: Có 80 NCS tham gia, tuổi trung bình 32,5±5,3; đa số là nữ (82,5%) và mẹ của trẻ (78,8%). Trước can thiệp, 47,5% đã từng sử dụng BXĐL-BĐ, chủ yếu được hướng dẫn bởi nhân viên y tế. Sau một tháng, điểm kiến thức trung bình tăng từ 12,3 lên 21,1 (p<0,001), tỷ lệ đạt kiến thức tốt tăng từ 11,3% lên 93,8%. Tỷ lệ thực hành đúng tăng từ 25,0% lên 70,0% (p < 0,001). Kết luận: Hướng dẫn bằng video là phương tiện hiệu quả giúp cải thiện kiến thức và thực hành sử dụng BXĐL-BĐ ở NCS trẻ dưới 5 tuổi mắc HPQ, cần được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục sức khỏe.
64 Hiệu quả giảm đau sau mổ của phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám trong phẫu thuật cắt phổi có nội soi hỗ trợ / Phạm Việt Anh, Nguyễn Quốc Kính // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 113 - 117 .- 610
Đánh giá hiệu quả giảm đau sau mổ cắt phổi có nội soi hỗ trợ bằng phương pháp phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám với Levobupivacain 0,25% 20ml. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được thực hiện trên 60 bệnh nhân có chỉ định cắt thùy phổi/phân thùy phổi có nội soi hỗ trợ từ tháng 12/2024 đến 7/2025 tại Bệnh viện K. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm 1 (có phong bế RIPB và sử dụng IV-PCA) và nhóm 2 (IV-PCA đơn thuần). Các chỉ số theo dõi gồm VAS khi nghỉ, vận động, ho và nhu cầu sử dụng morphin sau phẫu thuật. Kết quả: Hiệu quả giảm đau ở Nhóm 1 tốt hơn đáng kể: Điểm VAS ở Nhóm 1 thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các thời điểm đánh giá khi nghỉ, vận động và ho (p < 0.05). Tổng liều morphin tiêu thụ Nhóm 1 sau phẫu thuật thấp hơn đáng kể trong 24 giờ (4.0 ± 2.4 mg vs 23.7 ± 9.2 mg, p < 0.001) và 48 giờ (13.6 ± 3.8 mg vs 36.8 ± 11.7 mg, p < 0.001). Thời gian đến khi cần liều morphin cứu hộ đầu tiên ở Nhóm 1 lâu hơn rất nhiều (12.2 ± 5.5 giờ vs 0.3 ± 0.2 giờ, p < 0.001). Kết luận: Phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám là một kỹ thuật giảm đau hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân cắt phổi có nội soi hỗ trợ. Kỹ thuật này giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ morphin, cải thiện chất lượng giảm đau và an toàn, ít tác dụng phụ. Phương pháp này đem tới cho các bác sĩ gây mê một lựa chọn bổ sung trong giảm đau đa mô thức chu phẫu.
65 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và bước đầu kết quả triệt đốt điện sinh lý tim ở bệnh nhân hội chứng Wolff-Parkinson-White tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2024-2025 / Thân Hoàng Minh, Nguyễn Tri Thức, Trần Kim Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 109 - 113 .- 610
Hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW) là bất thường bẩm sinh gây ra bởi sự tồn tại đường dẫn truyền phụ nối nhĩ và thất, với tỷ lệ người mắc trong cộng đồng 0,1-0,5%. Hội chứng WPW có thể gặp ở mọi lứa tuổi, biểu hiện lâm sàng đa dạng từ không có triệu chứng đến hồi hộp đánh trống ngực, ngất, suy tim và đột tử. Thăm dò và triệt đốt điện sinh lý tim là cuộc cách mạng trong chẩn đoán và điều trị các rối loạn nhịp tim nói chung, hội chứng WPW nói riêng. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả thăm dò điện sinh lý và điều trị hội chứng WPW bằng năng lượng sóng có tần số radio (RF) qua đường ống thông. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang tiến cứu 46 bệnh nhân hội chứng WPW được thăm dò và triệt đốt đường dẫn truyền phụ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 08/2024 đến tháng 08/2025. Kết quả: Tuổi trung bình 51.3 ± 15.9, nam chiếm 41%. Hội chứng WPW type A chiếm tỉ lệ 65%, type B 35%. Tỷ lệ thành công của phương pháp cắt đốt là 97,8%, với tỷ lệ tái phát là 4,4%. Thời gian thực hiện thủ thuật trung bình là 72,8 ± 14,1 phút, với thời gian chụp X-quang là 12,8 ± 5,6 phút. Mức năng lượng được áp dụng là 40,7 ± 10,1 W, nhiệt độ 55,5°C và trở kháng 95,2 ± 5,8 Ω. biến chứng thủ thuật chiếm tỉ lệ 7% xử lý ổn định. Kết luận: Thăm dò điện sinh lý giúp chẩn đoán chính xác vị trí đường dẫn truyền phụ trong hội chứng WPW. Triệt đốt đường dẫn truyền phụ bằng bằng năng lượng sóng có tần số radio có tỷ lệ thành công cao, tái phát và biến chứng thấp.
66 Nghiên cứu tình trạng nhiễm trùng sau ghép gan / Nguyễn Xuân Hà, Trần Ngọc Ánh, Lê Văn Thành // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 100 - 104 .- 610
Ghép gan là biện pháp điều trị triệt căn với các bệnh nhân có bệnh gan mạn tính ở các nước phát triển và ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt nam. Ức chế miễn dịch toàn thân khiến người nhận gan dễ bị nhiễm trùng mới cũng như tái hoạt các nhiễm trùng tiềm ẩn đã có từ trước. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tính trạng nhiễm trùng sau ghép gan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu được thực hiện trên 205 bệnh nhân được ghép gan tại Bệnh viện TWQĐ 108 từ năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Tiêu chí xác định nhiễm trùng dựa theo khuyến cáo EASL 2013. Chẩn đoán cụ thể các loại nhiễm trùng thường gặp (viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng ổ bụng, nhiễm trùng huyết, v.v.) được xác định theo tiêu chuẩn Bộ Y tế và hướng dẫn quốc tế. Kết quả: Tuổi trung bình: ≈57,6 ± 11,4, Tỷ lệ nam giới: ≈85,4%. Các chỉ định ghép gan phổ biến: Suy gan cấp trên nền bệnh gan mạn tính. ACLF (35%), Ung thư biểu mô tế bào gan (30%), Xơ gan (25%). Tỷ lệ nhiễm trùng sau ghép gan là 94.6%. Trong đó: Viêm phổi (38%) và nhiễm trùng khác (54%) là các dạng nhiễm trùng phổ biến nhất. Tử vong do nhiễm trùng chiếm 7.7%. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm trùng và các yếu tố: giới, tuổi, điểm MELD và Child-Pugh (p > 0.05). Kết luận: Nhiễm trùng là biến chứng phổ biến và đáng lưu ý sau ghép gan, trong đó viêm phổi và nhiễm trùng huyết chiếm tỷ lệ cao. Cho thấy cần theo dõi sát và kiểm soát nhiễm trùng bằng các biện pháp chăm sóc tích cực ngay sau phẫu thuật.
67 Đánh giá độ chính xác của siêu âm tim qua thành ngực trong chẩn đoán tứ chứng Fallot / Hồ Xuân Tuấn, Ngô Hà Tú Nhi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 82 - 87 .- 610
Tứ chứng Fallot là một trong những bệnh tim bẩm sinh phức tạp và phổ biến nhất ở trẻ em. Trong số các phương tiện chẩn đoán, siêu âm tim qua thành ngực giữ vai trò nền tảng nhờ ưu điểm không xâm lấn, dễ thực hiện, sẵn có ở hầu hết cơ sở y tế và đặc biệt có khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết về cấu trúc tim. Mục tiêu: Đánh giá độ chính xác của siêu âm tim qua thành ngực trong chẩn đoán tứ chứng Fallot. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu có phân tích trên 61 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân TOF tại Bệnh viện Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2022. Kết quả: Các dị tật TLT, hẹp đường ra thất phải, ĐMC cưỡi ngựa đều tương thích về mặt số lượng trường hợp giữa SAT qua thành ngực và phẫu thuật/can thiệp. Vị trí TLT (bao gồm kích thước lỗ thông) và vị trí hẹp đường ra thất phải trên SAT trước mổ và trong lúc phẫu thuật có mức tương đồng cao. Ngoài ra, đánh giá các tổn thương tim phối hợp có độ nhạy, độ đặc hiệu, NPV và độ chính xác khá cao, tuy nhiên PPV thấp. Kết luận: Siêu âm tim qua thành ngực cho thấy độ chính xác cao trong chẩn đoán tổn thương điển hình của TOF cũng như các tổn thương phối hợp, góp phần định hướng điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.
68 Khảo sát sự hài lòng của bà mẹ có con dưới 1 tuổi về Chương trình Tiêm chủng mở rộng tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam năm 2024 / Đinh Đạo, Võ Văn Cường, Võ Thị Thúy Anh // .- 2025 .- Số 04(71) .- Tr. 178-187 .- 610
Đánh giá mức độ hài lòng của bà mẹ có con dưới 1 tuổi về Chương trình TCMR tại huyện Hiệp Đức năm 2024; Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của bà mẹ về Chương trình TCMR tại địa điểm nghiên cứu.
69 Khảo sát trình trạng dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp trên CT scan ứng dụng trong phẫu thuật điều trị xốp xơ tai / Lê Quang, Huỳnh Lê Hoàng Kim, Dương Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 280 - 284 .- 610
Xốp xơ tai là bệnh lý do rối loạn chuyển hóa xương mê nhĩ, gây cố định xương bàn đạp và dẫn đến giảm thính lực, với điều trị chủ yếu là phẫu thuật thay thế xương bàn đạp. Một trong những biến chứng quan trọng là liệt mặt do nguy cơ thần kinh mặt nằm bất thường, và có thể được phát hiện trước mổ nhờ chụp CT scan xương thái dương. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ và đặc điểm hình ảnh học của tình trạng dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp trên CT scan xương thái dương. Phương pháp: nghiên cứu mô tả thực hiện trên 70 bệnh nhân được phẫu thuật điều trị xốp xơ tai tại bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian khảo sát. Kết quả: Trong 70 tai được phẫu thuật, có 17 trường hợp (24,3%) dây thần kinh mặt che khuất một phần đế xương bàn đạp. Các chỉ số đo khoảng cách từ dây thần kinh mặt đến cành trước (dAC), chỏm (dS) và cành sau xương bàn đạp (dPC) ở nhóm có che khuất đều nhỏ hơn có ý nghĩa so với nhóm không che khuất (p < 0,05). Trong phân tích hồi quy logistic, dPC là yếu tố dự báo mạnh nhất tình trạng che khuất, với AUC = 0,834, độ nhạy 76,5% và độ đặc hiệu 83,0%. Không ghi nhận trường hợp nào liệt mặt sau mổ. Kết luận: Dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp là yếu tố giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật xốp xơ tai. Khoảng cách dPC là chỉ số dự báo đáng tin cậy trên CT Scan, giúp phẫu thuật viên nhận diện trước phẫu thuật và giảm nguy cơ biến chứng.
70 Đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục trong điều trị suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn tại khoa Hồi sức Tích cực Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh / Lê Văn Dũng, Nguyễn Viết Hải, Trần Thanh Uyên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 272 - 276 .- 610
Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục trong điều trị suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn. Đối tượng: 46 bệnh nhân được chẩn đoán suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn được lọc máu liên tục tại khoa HSTC bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 9 năm 2024. Kết quả: Tuổi trung bình: 66,1 ± 15,9. Tiền sử bệnh tim mạch 37%, COPD 30,4%. Đường vào hô hấp 54,6%, tiêu hoá 30,4%. Trước LMLT: APACHE II 25,3 ± 3,4 điểm, SOFA 11,15 ± 2 điểm, số tạng suy 2,4 ± 0,4 tạng; tỷ lệ suy 2 tạng 58,7%, suy 3 tạng 41,3%. Sau LMLT số tạng suy ở nhóm sống giảm từ 2,2 ± 0,41 xuống 0,8 ± 0,74 (p< 0,05), nhóm tử vong giảm từ 2,58 ± 0,5 xuống 2,31 ± 0,67 (p > 0,05). Điểm SOFA ở nhóm sống giảm từ 11,1 ± 1,7 điểm xuống 6,15 ± 2,1 điểm (p < 0,05), nhóm tử vong từ 11.19 1,5 điểm xuống 10,31 2,2 điểm (p> 0,05). Mạch từ 119 ± 27 lần/phút giảm xuống 90 ± 16 lần/phút nhóm sống, tăng từ 100 ± 21 lần/phút lên 115 ± 18 lần/phút ở nhóm tử vong. Nước tiểu nhóm sống từ 190 ± 198 ml/24h lên 990 ± 382 ml/24h, nhóm tử vong là từ 192,3 ± 224 ml/24h lên 807 ± 314 ml/24h. pH máu: 6,15 ± 2,1 lên 7,22 ± 0,17 ở nhóm sống; 7,12 ± 0,1 lên 7,2 ± 0,1 nhóm tử vong. Lactat giảm 4,8 1,8 xuống 2,1 0,8 ở nhóm sống; giảm từ 6,0 ± 2,7 xuống 3,9 ± 2,1 ở nhóm tử vong. Thời gian thoát sốc 38,95 ± 57,7 giờ; tỷ lệ thoát sốc 48,8%; tỷ lệ tử vong là 52,2%. LMLT trước 24 giờ tỷ lệ sống 57,1%; LMLT sau 24 giờ tử vong 100%; 39,1% lọc máu 1 lần; 39,1% lọc máu 2 lần. Kết luận: Lọc máu liên tục là điều trị quan trọng đem lại hiệu quả cao trong phác đồ điều trị toàn diện suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn.





