CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
71 Tổng quan về kết quả phẫu thuật cắt amidan trong bao ở trẻ em / Hoàng Văn Cường, Nguyễn Quang Trung // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 423-432 .- 610

Phẫu thuật cắt amidan trong bao ngày càng được quan tâm như một lựa chọn thay thế cho cắt amidan toàn phần ở trẻ em, nhằm giảm đau và biến chứng hậu phẫu. Nghiên cứu thực hiện tổng quan luận điểm theo hướng dẫn PRISMA-ScR trên PubMed, Cochrane Library và Google Scholar nhằm tổng hợp các bằng chứng về kết quả lâm sàng của kỹ thuật này ở bệnh nhi 0 - 18 tuổi. Phân tích 16 nghiên cứu cho thấy cắt amidan trong bao có xu hướng giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian hồi phục và giảm tỷ lệ chảy máu thứ phát so với cắt ngoài bao. Một số nghiên cứu ghi nhận hiệu quả cải thiện OSA/SDB không khác biệt đáng kể so với cắt ngoài bao, với tỷ lệ phẫu thuật lại thấp. Nguy cơ phẫu thuật lại cao hơn ở trẻ nhỏ và nhóm có bệnh lý nền phức tạp. Phẫu thuật cắt amidan trong bao có ưu thế về hồi phục hậu phẫu và giảm biến chứng chảy máu ở nhóm bệnh nhi phù hợp.

72 Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất từ 2022 – 2025 / Trương Hoàng Việt, Phan Thị Ngọc Linh, Hoàng Văn Phước, Trần Minh Trường, Nguyễn Lê Vĩnh Thuận // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 433-439 .- 610

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị ung thư thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2025. Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca trên 22 người bệnh ung thư thanh quản (100% nam, tuổi trung bình 62,5 ± 8) được phẫu thuật cắt thanh quản bán phần hoặc toàn phần. Kết quả cho thấy 100% người bệnh có triệu chứng khàn tiếng, 100% tổn thương xuất phát từ thanh môn, 100% carcinoma tế bào gai biệt hóa cao. Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần chiếm 68,2%, cắt toàn phần chiếm 31,8%. Bờ cắt âm tính đạt 100%. Tỷ lệ biến chứng sau mổ là 31,8%. Tỷ lệ sống còn toàn bộ đạt 95,4%. Kết quả cho thấy phẫu thuật cắt thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất đạt hiệu quả, tương đương các trung tâm chuyên khoa trong và ngoài nước.

73 Mối liên quan của thang điểm CRISTEN và công thức máu với mức độ nặng trong hội chứng Stevens – Johnson/hoại tử thượng bì nhiễm độc / Bùi Văn Dân, Nguyễn Hoàng Phương, Nguyễn Minh Hoàng, Nguyễn Mạnh Hùng, Đinh Anh Duy, Trần Thị Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 449-456 .- 610

Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) là những phản ứng da - niêm mạc nặng với tỉ lệ tử vong cao. Thang điểm tiên lượng CRISTEN, đánh giá dựa trên 10 tiêu chí lâm sàng, và các chỉ số công thức máu có thể là giải pháp tối ưu chi phí trong việc theo dõi người bệnh. Nghiên cứu hồi cứu này được thực hiện dựa trên hồ sơ bệnh án 76 bệnh nhân SJS/TEN (32 SJS và 44 TEN) tại Bệnh viện Da liễu Trung ương và Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai trong 3 năm (2017 - 2019) nhằm khảo sát giá trị của thang điểm CRISTEN và công thức máu trong tiên lượng SJS/TEN. Kết quả cho thấy, nhóm TEN có số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính thấp hơn so với nhóm SJS (p = 0,003 và p = 0,019, tương ứng). Thang điểm SCORTEN và CRISTEN cho thấy khả năng dự đoán tình trạng nặng tốt (AUC = 0,857 và AUC = 0,815, tương ứng) và khả năng dự đoán thời gian nằm viện kéo dài khi kết hợp với chỉ số bạch cầu lympho và tiểu cầu (R2 = 0,199, p = 0,002 và R2 = 0,173, p = 0,006, tương ứng) trong phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Ứng dụng thang điểm SCORTEN, CRISTEN và kết quả công thức máu ngày đầu nhập viện có thể hỗ trợ đánh giá nguy cơ tình trạng nặng, thời gian nằm viện kéo dài trong SJS/TEN.

74 Mối liên quan giữa các phân nhóm của đột biến gen EGFR và di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ / Phạm Văn Luận, Nguyễn Minh Hải, Nguyễn Đình Tiến, Thi Thị Duyên, Bùi Thị Thanh, Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Sơn, Đào Duy Tuyên, Lê Thị Hoài Phương // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 440-448 .- 610

Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa các phân nhóm của đột biến gen EGFR đến tình trạng di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. Nghiên cứu hồi cứu 1015 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn xa vào thời điểm chẩn đoán và được xét nghiệm đột biến gen EGFR từ tháng 01/2015 đến tháng 01/2025. Xác định mối liên quan của các phân nhóm đột biến gen EGFR với di căn xương bằng phương trình hồi quy logistic. Tỉ lệ di căn xương là 45,8%. Tỉ lệ bệnh nhân mang đột biến gen EGFR có di căn xương là 46,7% cao hơn ở bệnh nhân không di căn xương (37,1%), p = 0,002. Đột biến xóa đoạn exon 19 và đột biến điểm L858R liên quan độc lập đến di căn xương với OR = 1,52, (CI 95%: 1,1 – 2,08), p = 0,01 và OR = 1,96 (CI 95%: 1,31 – 2,9), p = 0,001, theo lần lượt. Đột biến gen EGFR loại xóa đoạn exon 19 và đột biến điểm L858R là các yếu tố liên quan độc lập đến di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ.

75 Rối loạn cương dương sau phẫu thuật ung thư trực tràng tại Bệnh viện K / Đoàn Trọng Tú, Lương Công Chánh, Nguyễn Văn Cương, Khổng Văn Quang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 6 .- Tr. 183-191 .- 610

Rối loạn cương dương là rối loạn chức năng tình dục hay gặp ở bệnh nhân nam giới sau phẫu thuật ung thư trực tràng. Chúng tôi nghiên cứu trên 107 bệnh nhân nam giới sau phẫu thuật ung thư trực tràng tại khoa Ngoại Tổng Hợp Quán Sứ và khoa Ngoại Tiêu Hóa II Bệnh viện K từ tháng 1/2023 đến tháng 6/2024. Kết quả: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 57,92 ± 8,37; có 24,3% bệnh nhân điều trị hóa xạ trị trước mổ; tỷ lệ phẫu thuật nội soi là 33,6%; phẫu thuật cắt trước và cắt trước thấp chiếm tỷ lệ 22,4% và 36,4%; rò tiêu hóa sau phẫu thuật là 7,4%. Thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật tỉ lệ rối loạn cương dương là 86,9% với điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 13,69 ± 5,53. Thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật rối loạn cương dương mức độ vừa chiếm tỉ lệ cao nhất 26,38% và điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 14,37 ± 5,57. Sau 12 tháng từ thời điểm phẫu thuật tỉ lệ rối loạn cương dương là 85,7%; tỉ lệ rối loạn cương dương mức độ nặng là 7,1%; điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 16,02 ± 5,09. Loại phẫu thuật, hóa xạ trị trước phẫu thuật và độ tuổi là những yếu tố liên quan đến rối loạn cương dương sau mổ với P lần lượt là 0,01; 0,02 và 0,02.

76 Kết quả trong 6 tháng sau thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng ở người bệnh xơ gan / Bùi Ngọc Hải, Phan Quốc Hưng, Lê Quang Hưng, Phạm Huy Lam, Đặng Đình Thắng, Lê Thu Loan, Nguyễn Phạm Tuấn Thành, Lê Tuấn Anh, Đào Việt Hằng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 199-206 .- 610

Nghiên cứu tiến cứu mô tả kèm theo dõi dọc nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả theo dõi trong 6 tháng của 179 người bệnh xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản được thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng tại Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (1/2024 - 8/2025). Tuổi trung bình của người bệnh là 61,21 ± 9,93. Nam giới chiếm đa số (88,3%). Phần lớn người bệnh có mức độ xơ gan Child Pugh A (52%); giãn tĩnh mạch thực quản độ III (98,3%). Giãn toàn bộ thực quản chiếm 57%, búi giãn có kích thước ≥ 5 mm; 91,1% và có dấu đỏ 92,2%. Đau ngực nhẹ và vừa sau thắt chiếm 20,1%. Sau 6 tháng theo dõi, người bệnh có xuất huyết tiêu hoá do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản là 2,8%; 40,8% người bệnh phải thắt lại tĩnh mạch thực quản ít nhất 1 lần. Việc sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc giúp giảm tỷ lệ phải thắt lại xuống còn 0,54 lần so với nhóm không dùng thuốc (95% CI không chứa 1). Thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng là phương pháp an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp. Tỷ lệ tái phát liên quan chặt chẽ đến mức độ tuân thủ điều trị thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc của người bệnh.

77 Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên bằng phẫu thuật nội soi qua đường tiền đình miệng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Ngô Minh Trí, Nguyễn Xuân Hậu, Nguyễn Xuân Hiền, Nguyễn Diệu Linh, Lê Văn Quảng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 252-260 .- 610

Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng (PTNS TG TĐM) là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của phương pháp này ở ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 01/2020 đến 07/2024. 30 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên được phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch cổ trung tâm hai bên; chỉ định iod phóng xạ theo ATA 2015. 96,7% bệnh nhân là nữ, tuổi trung bình 33,1 ± 8,6 (16 - 51). Thời gian mổ trung bình 103,8 ± 31,1 (65 - 190) phút, lượng máu mất trung bình 16,3 ± 8,7 (5 - 40) mL. Biến chứng tạm thời gồm suy cận giáp 10,0% và tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược 13,3%; không ghi nhận biến chứng vĩnh viễn. Di căn hạch cổ trung tâm tiềm ẩn gặp ở 46,7%. Sau 3 tháng, siêu âm cổ không phát hiện tồn dư; 4 trường hợp bất thường Tg/anti-Tg trở về bình thường sau 6 – 9 tháng. Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng là phương pháp an toàn, hiệu quả và thẩm mỹ cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên chọn lọc.

78 Đánh giá nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp bằng thang điểm SCORE2 / Nguyễn Văn Hùng, Phạm Khánh Minh, Tạ Thị Hương Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 6 .- Tr. 207-213 .- 610

Viêm cột sống dính khớp là một bệnh lý viêm khớp mạn tính thuộc nhóm bệnh viêm khớp cột sống thể trục. Bệnh ảnh hưởng lên khớp, cột sống và các cơ quan ngoài khớp. Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có nguy cơ tim mạch tăng do sự kết hợp giữa viêm hệ thống và các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống. Đánh giá nguy cơ tim mạch của người bệnh viêm cột sống dính khớp giúp điều chỉnh yếu tố nguy cơ, cải thiện tiên lượng bệnh. Nghiên cứu được thực hiện trên 69 bệnh nhân viêm cột sống dính khớp tại Trung tâm Cơ Xương Khớp của Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 7/2025. Có 44,9% bệnh nhân có nguy cơ tim mạch thấp-trung bình, nguy cơ tim mạch cao là 40,6% và nguy cơ tim mạch rất cao là 14,5%. Nguy cơ tim mạch 10 năm ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có liên quan đến tuổi, mức độ hoạt động bệnh, thời gian bị bệnh, giới và nồng độ CRP-hs. Đánh giá nguy cơ tim mạch cần được thực hiện thường quy ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp.

79 Giá trị của một số chỉ số huyết học mở rộng trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tuỵ cấp không do nguyên nhân cơ học / Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Quang Tùng, Đường Thị Thúy Hường, Dương Thu Phương, Tống Thị Hương Lan // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 233-240 .- 610

Tiên lượng sớm mức độ nặng của viêm tụy cấp (VTC) đóng vai trò quan trọng trong định hướng điều trị. Nghiên cứu thuần tập hồi cứu trên 108 bệnh nhân (BN) VTC không do nguyên nhân cơ học tại thời điểm nhập viện. Giá trị tiên lượng mức độ nặng của các chỉ số huyết học mở rộng (Neut, NLR, PLR, HFLC%, MicroR, IG%…) được đánh giá qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC) và chỉ số Youden. NLR và MicroR có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm VTC nặng (n = 20) và nhẹ (n = 88) với p < 0,05. Phân tích ROC cho thấy NLR có giá trị tiên lượng mức độ nặng tốt nhất với AUC = 0,709 (95% CI: 0,587 - 0,831; p = 0,004). Tại điểm cắt > 5,66, NLR dự báo diễn tiến nặng với độ nhạy 70,0% và độ đặc hiệu 61,4%. NLR và Neut đều có giá trị tiên lượng âm tính (NPV) cao, lần lượt là 90% và 93,2%. NLR và Neut hỗ trợ đắc lực cho bác sĩ lâm sàng trong phân tầng nguy cơ và tối ưu hoá xử trí BN VTC.

80 Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ của phổ bệnh viêm tủy thị thần kinh và bệnh lý liên quan tới kháng thể kháng MOG / Lê Văn Thủy, Trần Anh Tuấn, Lê Quang Cường // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 241-251 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 42 trường hợp phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD) dương tính với AQP4-IgG và 8 trường hợp bệnh lý liên quan đến kháng thể MOG (MOGAD) dương tính với MOG-IgG tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhằm so sánh đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giữa hai nhóm. NMOSD có tỷ lệ nữ cao hơn (95,2% so với 62,5%) và tuổi khởi phát lớn hơn (44,9 so với 27,9 tuổi). Điểm EDSS (The Expanded Disability Status Scale – Thang điểm đánh giá mức độ tàn tật mở rộng) trung bình cao hơn ở nhóm NMOSD (3,6 so với 2,8). Viêm thần kinh thị hai mắt đồng thời gặp nhiều hơn ở MOGAD (50% so với 7,1%), trong khi hội chứng sàn não thất IV chỉ gặp ở NMOSD. Trên MRI, NMOSD có tỷ lệ tổn thương tủy sống lan rộng (Longitudinally Extensive Transverse Myelitis - LETM) cao hơn (58,5% so với 12,5%), kèm “bright spotty lesion” (ổ tăng tín hiệu dạng đốm sáng), tổn thương chất trắng quanh não thất và thân não. Ngược lại, MOGAD có xu hướng ưu thế tổn thương đoạn trước củathần kinh thị và bắt thuốc quanh bao (25% so với 2,4%). NMOSD và MOGAD có những khác biệt về đặc điểm lâm sàng và MRI, giúp định hướng chẩn đoán phân biệt trong thực hành.