CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
71 Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2023 / Lê Thanh Toàn, Lê Vĩnh Hoàng Long, Cà Thị Mỹ Linh, Trần Ngọc Hoan, Dương Thị Ngọc Châu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 184 - 189 .- 610

Nghiên cứu nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) suy thận mạn (STM) đang lọc máu chu kỳ (LMCK) tại Bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR) năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện 132 BN LMCK tại khoa Thận nhân tạo BVCR từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2023. Đánh giá TTDD theo thang điểm SGA-DMS, BMI, các xét nghiệm cận lâm sàng. Kết quả và bàn luận: Theo SGA-DMS có 72,26% BN suy dinh dưỡng (SDD), theo BMI có 34,85% BN SDD. SDD liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố: học vấn, ăn trong LMCK, thời gian LMCK (>5 năm), có từ 2 bệnh lý kèm theo, giảm albumin, giảm prealbumin, giảm hemoglobin, giảm lympho. Các yếu tố giới tính, nghề nghiệp, bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp liên quan không có ý nghĩa thống kê với SDD. Kết luận: Tỉ lệ SDD ở BN STM LMCK rất cao, cần thực hiện các phương pháp tầm soát sớm, để can thiệp kịp thời.

72 Mối liên quan của tương hợp nhĩ trái - thất trái với chức năng nhĩ trái, chức năng tâm trương thất trái và đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành mạn / Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Đức Long, Lương Công Thức // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 280 - 284 .- 610

Tìm hiểu mối liên quan của tương hợp nhĩ trái - thất trái với chức năng nhĩ trái, chức năng tâm trương thất trái và đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành mạn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 bệnh nhân có hội chứng động mạch vành mạn (HCĐMVM) nằm điều trị tại khoa Nội tim mạch và khoa Can thiệp tim mạch, bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2024 đến tháng 04/2025. Các bệnh nhân được siêu âm tim đánh giá chức năng nhĩ trái, chức năng thất trái, tương hợp nhĩ trái - thất trái sau đó được chụp động mạch vành (ĐMV) qua da hoặc cắt lớp vi tính ĐMV (CCTA) theo chỉ định. Kết quả: Chỉ số tương hợp nhĩ trái - thất trái (LACI) tương quan nghịch với phân suất làm rỗng nhĩ trái toàn bộ (r = - 0,496, p < 0,001), phân suất làm rỗng nhĩ trái thụ động (r = - 0,392, p < 0,001) và phân suất làm rỗng chủ động (r = - 0,267, p < 0,05); tương quan thuận với thể tích nhĩ trái tối đa (r = 0,334, p < 0,01), tỉ lệ E/e' trung bình (r = 0,258, p < 0,05). Sự khác biệt của LACI ở các nhóm có số nhánh ĐMV tổn thương và mức độ tổn thương ĐMV khác nhau là chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Tương hợp nhĩ trái - thất trái tương quan nghịch với chức năng nhĩ trái, tương quan thuận với rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân HCĐMVM. Chưa thấy sự khác biệt của LACI giữa các nhóm bệnh nhân có số nhánh và mức độ tổn thương ĐMV khác nhau.

73 Nồng độ Vitamin D huyết thanh ở bệnh nhân viêm da tiết bã / Mạc Nhi Trân, Văn Thế Trung // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 276 - 280 .- 610

Xác định nồng độ vitamin D huyết thanh ở bệnh nhân viêm da tiết bã và mối liên quan giữa nồng độ này với mức độ nặng của bệnh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên 45 bệnh nhân viêm da tiết bã và 45 người chứng khỏe mạnh tại Bệnh viện Da Liễu TP.HCM. Nồng độ 25(OH)D được đo bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA). Mức độ nặng bệnh được đánh giá bằng thang điểm SDASI. Sử dụng kiểm định Mann–Whitney U, Chi bình phương và hệ số tương quan Spearman để phân tích thống kê. Kết quả: Nồng độ vitamin D huyết thanh trung vị ở nhóm bệnh là 21,9 ng/ml (IQR: 20,1–25,6), thấp hơn nhóm chứng (23,7 ng/ml; IQR: 21,4–29,5) một cách có ý nghĩa thống kê (p = 0,01). Tỷ lệ thiếu vitamin D (<20 ng/ml) ở nhóm bệnh là 24,4%, cao hơn nhóm chứng (8,9%) (p = 0,048). Có mối tương quan nghịch mức độ trung bình giữa nồng độ vitamin D và điểm SDASI (r = –0,4; p = 0,009). Bệnh nhân có nồng độ vitamin D <30 ng/ml có điểm SDASI trung bình cao hơn so với nhóm ≥30 ng/ml (p = 0,015). Kết luận: Bệnh nhân viêm da tiết bã có nồng độ vitamin D huyết thanh thấp hơn và tỷ lệ thiếu vitamin D cao hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh. Nồng độ vitamin D có liên quan nghịch với mức độ nặng của bệnh, gợi ý vai trò tiềm năng của vitamin D trong bệnh sinh và diễn tiến lâm sàng của viêm da tiết bã.

74 Đánh giá thực trạng nhu cầu phục hồi chức năng tại nhà của trẻ khuyết tật vận động từ 6-16 tuổi tại quận Cẩm Lệ, Hải Châu và huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng / Lương Tuấn Khanh, Phan Thị Thúy Liên // Y học thực hành .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 76-79 .- 610

Objectives: To describe the demands of home-based rehabilitation of children with disability in moving at Cam Le, Hai Chau and Hoa Vang district, Da Nang city. Subjects and Method: A cross-sectional descriptive study on 204 children with disability in moving at Cam Le, Hai Chau and Hoa Vang district, Da Nang city. Results: 89.2 percent children with disability in moving has different demands. The supports depends on types of demands such as 83.3 percent has demand for moving or walking, 70.1 percent for activities of daily living, 71.6 percent for familial and social participation. More than 50 percent children unable transfer by themselves and need partial or total supports for out of house to community.

75 điểm mô bệnh học và hoá mô miễn dịch của ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp / Đào Thanh Lan, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Sỹ Lánh, Dương Hoàng Hảo, Nguyễn Thị Hải // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 272 - 276 .- 610

Mô tả một số đặc điểm mô bệnh học và hoá mô miễn dịch (HMMD) của UTBM tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 314 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán UTBM tuyến vú xâm nhập trên bệnh phẩm phẫu thuật tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 8 năm 2024. Kết quả: UTBM tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp có típ mô bệnh học thường gặp nhất là UTBM xâm nhập, típ không đặc biệt (93,7%). Độ mô học thường gặp nhất là độ II (75,8%). Tỷ lệ xâm nhập mạch và xâm nhập quanh thần kinh lần lượt là 14,0% và 5,1%. Tỷ lệ di căn hạch là 33,4%. U thường có chỉ số tiên lượng Nottingham (NPI) trung bình, chiếm tỷ lệ 52,9%. Tỷ lệ ER và PR dương tính lần lượt là 90,4% và 86,4%. Tỷ lệ bộc lộ Ki-67 thấp và cao lần lượt là 40,8% và 59,2%. Phân típ phân tử Lòng ống B/HER2 âm tính hay gặp nhất với tỷ lệ 56,1%. Kết luận: UTBM tuyến vú xâm nhập bộc lộ HER2 thấp chủ yếu thuộc típ không đặc biệt, có độ mô học II, có thụ thể nội tiết dương tính và chỉ số Ki-67 cao. Những đặc điểm này tương ứng với đặc điểm của phân nhóm phân tử Lòng ống B, một nhóm có nguy cơ tái phát cao hơn sau điều trị nội tiết. Việc xác định chính xác tình trạng HER2 thấp là cực kỳ quan trọng, giúp mở ra lựa chọn điều trị có hiệu quả cao cho rất nhiều BN.

76 Đánh giá tỷ lệ có thai ở những bệnh nhân sử dụng GnRHa để khởi động trưởng thành noãn trong phác đồ antagonist tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương / Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Viết Tiến // Y học thực hành .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 80-82 .- 610

Objectives: Evaluating pregnancy rates in patients using GnRHa to launch mature ovum antagonist diagnosis at National hospital of obstetrics and gynecology. Materials and methods: A prospective study conducted in 112 women get ovarian stimulation - in vitro fertilization with GnRHa antagonist therapy in National hospital of obstetrics and gynecology from 01/2014 to 01/2015. Results: The result of using Dipherellin group, does not have any cases hyperstimulation syndrome ovarian than 3 cases out of 60 cases with hCG mature ovum. Even to meet normal ovarian stimulation (lower estradiol concentrations 4,000 pg/ml and number of follicles of 14 mm 15 capsules day hCG), mature ovum start with 5,000 IU hCG remains the standard dose risk caused ovary syndrome too heavy to be hospitalized treatment. Conclusion: the use of GnRHa ovarian stimulation cycle - in vitro fertilization by GnRHa antagonist regimens in women with normal ovarian response demonstrated benefits in improving pregnancy rates and limit the risk of ovarian hyperstimulation.

77 Rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ / Nguyễn Duy Việt, Nguyễn Tiến Mạnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 268 - 271 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân sơ sinh và trẻ nhỏ có rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng. Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu hồ sơ bệnh án của bệnh nhân chẩn đoán rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng từ năm 2017 – 4/2024 tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn thông tiểu ngắt quãng sạch. Kết quả: Có 12 bệnh nhân trong đó 8 trường hợp (66,7%) là nữ, tuổi trung bình 7,5 tháng (2 ngày – 36 tháng); trong đó 10 bệnh nhân từ dưới 12 tháng tuổi bao gồm 4 trường hợp sơ sinh. Đa số biểu hiện nhiễm khuẩn đường tiết niệu có sốt 83,3% với số lần nhập viện trung bình là 2,6 lần (1-7 lần) và tất cả tồn dư nước tiểu sau khi đi tiểu. Tất cả bệnh nhân có giãn bể thận - niệu quản 2 bên, xơ hóa bàng quang. Có 58,3% trào ngược bàng quang – niệu quản. Có 2 bệnh nhân tự đi tiểu không cần thông tiểu ngắt quãng sạch, 3 bệnh nhân còn mở thông bàng quang, trường hợp khác tiếp tục thông tiểu. 75,0% hết giãn bể thận - niệu quản và 42,9% hết trào ngược bàng quang niệu quản. Có 58,4% các trường hợp bảo tồn chức năng thận bình thường. Kết luận: Nhận biết rối loạn chức năng tiểu tiện mức độ nặng sớm ở sơ sinh và trẻ nhỏ, theo dõi sát và chỉ định điều trị phù hợp giúp bảo tồn hệ tiết niệu trên và chức năng thận.

78 Biến chứng sau phẫu thuật cắt ga / Hồ Văn Linh, Đặng Quốc Ái // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 265 - 268 .- 610

Trình bày tần suất và các yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng sau phẫu thuật cắt gan. Đối tượng và phương pháp: Bao gồm 406 bệnh nhân được cắt gan tại Bệnh viện Trung ương Huế từ 01/2017-05/2025. Kết quả: Qua 406 bệnh nhân cắt gan thu được một số kết quả sau: Tuổi trung bình 61±11,9(30-80), tỷ lệ nam/nữ # 4:1. Cắt gan lớn so với cắt gan nhỏ tương ứng 52,5% và 47,5%, thời gian kẹp cuống gan toàn bộ (pringle manoeuvre) 42,5±17,3 (15-90) phút. Biến chứng chung sau phẫu thuật 50 (12,3%) bệnh nhân nghi nhận 71 biến chứng, trong đó, nhiễm trùng vết mổ 4,2%, rò mật 3,2%, abscess tồn dư 2,7%, suy tế bào gan 2,2%, cổ trướng kéo dài 2,2%, tràn dịch màng phổi 1,7%, chảy máu diện cắt gan 0,7% và tử vong sau phẫu thuật 0,7% bệnh nhân. Kết luận: Cắt gan lớn có liên quan đến suy gan sau phẫu thuật là một biến chứng có khả năng gây tử vong cao và hiện có rất ít lựa chọn điều trị hiệu quả. Việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp và chuẩn bị tiền phẫu chu đáo đóng vai trò then chốt trong phòng ngừa biến chứng này. Biến chứng sau phẫu thuật cắt gan vẫn còn cao, nhiều nhất là nhiễm trùng vết mổ, tiếp theo là rò mật. Tuy nhiên, các biến chứng này không đe dọa nghiêm trọng tính mạn nhưng lại kéo dài thời gian điều trị của bệnh nhân.

79 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới một tuổi và một số yếu tố liên quan tại thành phố Móng Cái, Quảng Ninh năm 2015 / Dương Thị Hồng // Y học thực hành .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 15-20 .- 610

A cross-sectional study was performed to assess the status of full immunization of children under 1 year old in Mong Cai and certain related factors. The results showed that in 210 children in Mong Cai district, Quang Ninh province vaccinated during 2013 and 2014, 65 percent of children were fully immunized and 35 percent of children were not fully vaccinated. The drop-out rate between DPT1 and DPT3 was 28 percent. Psychological concern about adverse events following immunization (AEFI) directly affected the coverage of children's full immunization (48 percent of mothers did not vaccinate fully their babies), followed by postponed vaccination due to reserved indications of health workers (33.3 percent), anxiety and selected other vaccines (18.7 percent). Mothers living in city had lower fully immunized practice for their children than those living in the countryside and island by 3.19 times. Lower education level, official occupation and proper knowledge of mothers were some related factors to fully vaccinated practice for children under 1 year old. The study indicated direct influence of some AEFI cases to children's immunization coverage. Thence it was suggested that communication on immunization safety for mothers, caregivers and communities must be strengthened.

80 Khảo sát dao động đường huyết bằng thiết bị CGM ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn / Đỗ Đình Tùng, Lương Tuấn Kiên, Nguyễn Thị Thúy Nga, Dương Thị Mỹ Hảo, Lê Thị Mỹ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 260 - 265 .- 610

Khảo sát sự dao động đường huyết bằng máy CGM nhằm cung cấp dữ liệu toàn diện giúp cá thể hóa điều trị. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Tất cả bệnh nhân được theo dõi glucose máu liên tục trong 14 ngày bằng thiết bị Freestyle Libre. Các chỉ số CGM ghi nhận bao gồm: AG, GMI, GV, TIR, TAR, TBR. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 71,25 ± 10,05; 83,3% có ≥1 bệnh mạn tính đi kèm. Chỉ 30% bệnh nhân đạt mục tiêu AG và GMI, và 10% đạt đồng thời cả ba tiêu chí GMI, GV và TIR. TIR trung bình là 53,33 ± 20,46%, với 23,3% đạt mục tiêu chung. Trong nhóm ≥65 tuổi, 85% đạt TIR > 50%. TAR và TBR lần lượt là 40,82% và 1,53%. Kết luận: Phần lớn bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát glucose theo chỉ số CGM. CGM là công cụ hữu ích trong quản lý ĐTĐ típ 2, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân cao tuổi và đa bệnh lý.