CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
41 Đánh giá tình trạng nhiễm trùng huyết tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học - bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2017 đến 6 tháng đầu năm 2024 / Trần Thanh Tùng, Trương Phạm Hồng Diễm, Nguyễn Thị Ngọc Sang // .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 260 - 267 .- 610
Đánh giá tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân tại đơn vị Ghép tế bào thuộc khoa Huyết học tại bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng được thực hiện cấy bệnh phẩm với kết quả dương tính điều trị tại Khoa huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2018 đến hết tháng 6/2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 33 bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng với 37 kết quả cấy dương tính trong tổng số 314 lượt nhập viện (10,5%). Bệnh nhân nam chiếm 42,4%. Tuổi trung vị là 38 (27-53) tuổi. Đa số tác nhân được phân lập là vi khuẩn gram âm (81,8%), trong đó nhiều nhất là Klebsiella pneumoniae đa kháng, tiếp đến là Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa với tỉ lệ lần lượt là 45,5%, 27,3%, 12,1%. Tỉ lệ Klebsiella pneumoniae và E.coli đề kháng với carbapenem lần lượt là 80,0% và 22,0%. Tác nhân gram dương chiếm 15,2% gồm ba loại chính là Streptococcus spp. (9,1%), Staphylococcus aureus (3,0%) và Staphylococcus epidermidis (3,0%), tất cả còn nhạy với vancomycin. Có 1 trường hợp cấy máu dương tính với vi nấm Candida tropicalis. Phần lớn bệnh nhân có chỉ số CRP tăng với giá trị trung vị là 99,1 (4,2 - 324) (mg/L) và giá trị procalcitonin không tăng với giá trị trung vị là 0,33 (0,07 – 18,3) (ng/ml). Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%. Kết luận: Tỉ lệ nhiễm trùng huyết có phân lập được tác nhân gây bệnh tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học- Bệnh viện Chợ Rẫy là 10,5% lượt nhập viện. Tác nhân vi khuẩn thường gặp nhất là gram âm, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là K. pneumoniae đa kháng. Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%.
42 Đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ Docetaxel, Carboplatin và Trastuzumab ở bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III / Trần Thanh Vy, Phan Thị Hồng Đức, Nguyễn Hoàng Quý // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 91 - 101 .- 610
Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Lợi ích của trastuzumab khi kết hợp vào hóa trị tân hỗ trợ trong bệnh ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính đã được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab tại khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú nguyên phát có giải phẫu bệnh là carcinôm xâm nhiễm, giai đoạn II, III theo AJCC 8th. Kết quả: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021 chúng tôi thu nhận được 124 trường hợp carcinôm vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, trong đó có 121 trường hợp được phẫu thuật sau hóa trị tân hỗ trợ. Giai đoạn bướu trước điều trị hơn 50% bệnh nhân ở giai đoạn cT4, 71,2% có di căn hạch trên lâm sàng và giai đoạn III chiếm 74,2%. Tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được hóa trị tân hỗ trợ đủ 6 chu kỳ. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) là 82,3%, trong đó tỷ lệ đáp ứng lâm hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là 12,9%, 69,4%, 14,5% và 3,2%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học tại bướu là 62%, tại hạch là 72,7% và tại bướu và hạch (tpCR) là 52,9%. Độc tính hóa trị tân hỗ trợ: 5,6% giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3 – 4, 8,1% giảm hồng cầu độ 3 – 4, 2,4% giảm tiểu cầu độ 3, và không có trường hợp nào tăng nhịp tim và suy tim, chỉ có 3,2% trường hợp giảm LVEF ≥ 15%. Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy phác đồ hóa trị tân hỗ trợ docetaxel, carboplatin và trastuzumab có tỷ lệ đáp ứng lâm sàng toàn bộ và đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học cao. Trong khi đó, độc tính hóa trị tân hỗ trợ thấp và có thể theo dõi, kiểm soát được.
43 Nghiên cứu tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý trong phẫu thuật cắt giáp và nạo hạch cổ nhóm vi tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 / Võ Duy Phi Vũ, Trần Thị Anh Tường, Trần Sơn Vũ, Huỳnh Thanh Hổ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 3 - 8 .- 610
Cắt tuyến phó giáp không chủ ý (IP) là một biến chứng không phải không thường gặp khi phẫu thuật tuyến giáp trong điều trị ung thư tuyến giáp. IP có thể làm tăng biến chứng giảm canxi máu tạm thời hay vĩnh viễn sau mổ. Tuy vậy, IP vẫn còn ít được nghiên cứu. Mặc dù các yếu tố nguy cơ của IP chưa biết hết nhưng phẫu thuật viên nên nỗ lực hết sức để bảo tồn tuyến phó giáp. Đối tượng - phương pháp: Chúng tôi hồi cứu 195 ca ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023. Phân tích đơn biến được chúng tôi phân tích để tìm các yếu tố nguy cơ của IP trong nghiên cứu này. Kết quả: Nghiên cứu có 195 ca cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI có hay không có kết hợp nạo hạch cổ bên. Tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý là 8,7%. Có 1 trường hợp tuyến phó giáp nằm trong bệnh phẩm tuyến giáp, còn lại nằm trong bệnh phẩm hạch nhóm VI. Không có yếu tố nguy cơ nào làm tăng IP có ý nghĩa thống kê và IP cũng không làm tăng nguy cơ giảm canxi do suy phó giáp sau phẫu thuật. Kết luận: Cắt tuyến phó giáp không chủ ý không phải hiếm gặp ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Nên áp dụng kỹ thuật mới trong quang phổ cận hồng ngoại để tăng tỉ lệ bảo tồn tuyến phó giáp trong phẫu thuật tuyến giáp nhất là khi có nạo hạch cổ nhóm VI.
44 Vai trò của thời gian nhân đôi thyroglobulin trong đánh giá tái phát, di căn ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa / Nguyễn Quang Cường, Lê Thị Thùy Trang, Lê Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Duy Trì // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 9 - 16 .- 610
Mối liên quan giữa Tg-DT với biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. So sánh hiệu quả của việc sử dụng Tg-DT và Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: 47 bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính, được chụp 18F – FDG PET/CT nhằm đánh giá tái phát, di căn tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2024. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu. Kết quả: 18F – FDG PET/CT phát hiện được tổn thương tái phát ở 34 bệnh nhân (72,3%), trong đó phát hiện di căn xa ở 13 bệnh nhân (27,6%). Tg-DT thấp hơn có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có PET/CT dương tính so với nhóm PET/CT âm tính (p = 0,03) cũng như giữa nhóm có di căn xa và không có di căn xa (p = 0,04). Phân tích đường cong ROC, Tg-DT có độ chính xác cao hơn Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Ngưỡng cut-off Tg-DT ≤ 29 tháng cho độ nhạy 88,2% và độ đặc hiệu 69,2% trong dự đoán PET/CT dương tính, trong khi Tg-DT ≤ 23 tháng cho độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 84,6% và 41,2% trong dự đoán hình ảnh di căn xa trên PET/CT. Kết luận: Tg-DT là một chỉ số có giá trị tốt hơn Tg đơn thuần trong dự đoán kết quả tái phát, di căn trên 18F – FDG PET/CT ở bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính.
45 Đánh giá bước đầu phẫu thuật đoạn chậu trong ung thư phụ khoa initial / Nguyễn Duy Thư, Nguyễn Văn Tiến, Phan Viết Việt Bảo, Nguyễn Hoàng Duy Thanh, Trần Quang Kiên, Nguyễn Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Yến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 287 - 298 .- 610
Đoạn chậu (PE) được chỉ định trong các trường hợp ung thư vùng chậu tái phát, tiến triển không đáp ứng với hóa xạ trị hoặc phẫu thuật giảm nhẹ. Mặc dù phẫu thuật có tỷ lệ biến chứng cao nhưng lại là phương pháp điều trị duy nhất còn hiệu quả. Phương pháp: Hồi cứu mô tả những bệnh nhân trải qua PE từ tháng 10 năm 2022 đến nay tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Kết quả: 48 bệnh nhân được phẫu thuật do ung thư phụ khoa tái phát, rò sau điều trị hoặc được chẩn đoán ngay từ đầu với tỷ lệ bệnh lần lượt là 36 (75%), 6 (12.5%) và 6 (12.5%). Đo ạn chậu toàn phần là 28 trường hợp (58%), đoạn chậu trước là 8 trường hợp (16%) và sau là 12 trường hợp (25%). Theo phân loại Clavien Dindo biến chứng sớm mức độ II và III lần lượt xảy ra ở 43.8% và 31.2%. Không có trường hợp tử vong nào được quan sát trong vòng 30 ngày. Biến chứng muộn sau 30 ngày có 15 bệnh nhân (31.2%) trong đó biến chứng về niệu chiếm phần đa số . Kết luận: Đoạn chậu là cơ hội cuối cùng ở những bệnh nhân có bệnh tái phát cũng như tiến triển. Phẫu thuật khả thi với tỷ lệ biến chứng chấp nhận được đi kèm với lợi ích lâu dài. Qua nghiên cứu, chúng tôi mong muốn cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho việc xác định những bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ phẫu thuật.
46 Tỷ lệ đọ chéo tiền ghép thận dương tính do kháng thể IGM xác định bằng phương pháp bất hoạt kháng thể bằng nhiệt độ tại bệnh viện Chợ Rẫy / Trần Thanh Tùng, Võ Quốc Việt, Trần Thị Mỹ Duyên, Hoàng Thị Thuý Hà, Đào Thị Thoan, Phan Thị Thu Hà, Huỳnh Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Cảm, Nguyễn Thị Mỹ Tiên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 572 - 579 .- 610
Khảo sát tỷ lệ đọ chéo lympho B và T tiền ghép thận dương tính do kháng thể loại IgM bằng kỹ thuật HI-XM-CDC. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 61 cặp đọ chéo có kết quả đọ chéo tiền ghép thận bằng kỹ thuật vi độc tế bào (XM-CDC) dương tính từ tháng 11/2021 – 05/2024 tại Trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy. Kết quả: Tỷ lệ đọ chéo tiền ghép thận dương tính do kháng thể IgM là 71,4% đối với đọ chéo lympho T và 72,4% đối với đọ chéo lympho B. Trung bình tuổi của người nhận có kết quả đọ chéo dương tính do IgM là 37,2 tuổi và giới tính nữ chiếm tỷ lệ 52,2% so với giới nam là 47,8%. Ngoài ra, 76,1% các cặp đọ chéo dương tính do IgM là các cặp đọ chéo cùng huyết thống và tỷ lệ các cặp đọ chéo tương hợp HLA trên 3 alen là 71,4%. Kết luận: Kết quả bước đầu ứng dụng phương pháp HI-XM-CDC cho thấy tỷ lệ đọ chéo tiền ghép thận dương tính do kháng thể IgM tại bệnh viện Chợ Rẫy là trên 70%.
47 Đánh giá hiệu quả và độc tính của xạ trị ngắn ngày tiền phẫu ung thư trực tràng giai đoạn II – III đối với bệnh nhân ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị / Nguyễn Đình Thanh Thanh, Trần Thị Thu Hà, Hồ Văn Trung, Nguyễn Quốc Bảo, Quan Anh Tiến, Châu Đức Toàn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 279 - 286 .- 610
Khảo sát độc tính cấp của điều trị, tỷ lệ đáp ứng sau xạ, sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ của bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II – III ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị, được xạ trị tiền phẫu bằng phác đồ ngắn ngày và phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 11 bệnh nhân được xạ trị vùng chậu tiền phẫu phác đồ 5Gy x 5 tại Khoa Xạ trị tổng quát, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 78,8 tuổi (68 - 89). Cả 100% đều bị tăng huyết áp, kèm theo các suy tim (2 bệnh nhân), đái tháo đường (3 bệnh nhân), suy thận mạn độ 2 (4 bệnh nhân). Có 5 bệnh nhân (45,4%) bướu ở trực tràng thấp. Về xếp giai đoạn, chiếm ưu thế với 10 bệnh nhân bướu cT3 (90,9%) và hạch cN1 (54,5%). Trung vị thời gian từ lúc xạ trị xong đến phẫu thuật là 5,0 tuần. Có 3 bệnh nhân (27,3%) phẫu thuật Miles và 1 bệnh nhân (9,1%) phẫu thuật Hartmann, số còn lại được cắt trước thấp. Chỉ có 2 bệnh nhân (18,2%) hóa trị sau mổ. Tỷ lệ đạt đáp ứng hoàn toàn sau mổ (pCR) là 9,1% (1 trường hợp). Có 2 bệnh nhân (18,2%) bị độc tính tiêu hóa grad 1 do xạ. Với trung vị thời gian theo dõi 6,0 tháng, có 3 bệnh nhân tái phát tiến triển (27,3%) và 1 bệnh nhân (9,1%) tử vong do tai biến mạch máu não. Xác suất sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ 2 năm lần lượt là 72,7% và 90,9%. Kết luận: Xạ trị ngắn ngày tiền phẫu trong ung thư trực tràng ít tác dụng phụ, giảm kích thước bướu tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật, thích hợp cho những bệnh nhân không thể thực hiện được hóa xạ trị đồng thời.
48 Di căn xa sau mổ ung thư đại tràng phả / Vũ Hoàng Hà, Phạm Hùng Cường // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 269 - 278 .- 610
Khảo sát tình trạng di căn xa sau mổ ung thư (UT) đại tràng phải tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Bệnh nhân và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca 60 bệnh nhân UT đại tràng phải được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ 01/2016 đến 12/2021. Kết quả: - Tỉ lệ di căn xa là 15% (KTC 95%: 6 - 24%). Trong số các trường hợp di căn xa; di căn gan, phổi và phúc mạc chiếm đại đa số (91%). - Các bệnh nhân di căn xa có tiên lượng sống toàn bộ kém hơn các bệnh nhân không di căn. - U T4a là yếu tố tiên lượng xấu độc lập đến khả năng di căn xa sau mổ. - Điều trị di căn xa nhằm điều trị tận gốc có giá trị tiên lượng độc lập khi phân tích đa biến. Các bệnh nhân điều trị đa mô thức có nguy cơ tử vong thấp hơn các bệnh nhân chỉ điều trị toàn thân 0,3 lần. Kết luận: Di căn xa sau mổ UT đại tràng phải chiếm tỉ lệ 15%; với đại đa số là di căn gan, phổi và phúc mạc. Các bệnh nhân di căn xa có tiên lượng kém hơn các bệnh nhân không di căn. Điều trị di căn nhằm tận gốc là yếu tố tiên lượng độc lập thời gian sống còn toàn bộ.
49 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại Bệnh viện Thanh Nhàn 264 / Đào Quang Minh, Nguyễn Văn Phước, Phạm Văn Biên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 264 - 268 .- 610
Nghiên cứu nhằm mục địch đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tuyến tại Bệnh viện Thanh Nhàn giai đoạn 2021 - 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 41 bệnh nhân ung thư biểu mô đại tràng được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2024. Kết quả: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 51,7 ± 8,3 (28 - 87 tuổi). Tỷ lệ nam/nữ là 1,3/1. Thời gian khởi phát bệnh đến khi vào viện dưới 6 tháng 52,1%, Đau bụng chiếm tỷ lệ cao nhất 97,6%. Kết quả nội soi đại trực tràng ống mềm cho thấy khối u ở đại tràng lên và manh tràng chiếm tỷ lệ 51,2%. Khối u ở đại tràng góc gan chiếm tỷ lệ 41,5%. Tất cả các trường hợp đều được cắt sát gốc bố mạch hồi đại tràng, 17,1% trường hợp được cắt nhánh phải của động mạch đại tràng giữa. Vét hạch D2 chiếm tỷ lệ cao 87,8%. Số hạch thu được trung bình là 18,1 ± 5,0 hạch. Thời gian mổ trung bình 142,1 ± 23,8 phút (thấp nhất 87 phút, cao nhất 186 phút). Cắt nửa đại tràng phải mở rộng chiếm tỷ lệ 12,2%, đau sau mổ trung bình 3,1 ± 1,2 ngày. Thời gian có lại trung tiện trung bình 3,1 ± 1,9 ngày. Nhiễm trùng vết mổ chiếm tỷ lệ 9,8%. Bục xì miệng nối gây viêm phúc mạc chiếm tỷ lệ 2,4%. Chảy máu miệng nối 2,4%. Thời gian nằm viện trung bình 8,5 ± 2,5 ngày. Kết quả xa sau mổ có 92,7% bệnh nhân còn thông tin liên lạc và theo dõi đánh giá được tại thời điểm kết thúc nghiên cứu. Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu có 8,1% trường hợp tử vong, 13,5% tái phát di căn nhưng không có tái phát tại chỗ. Thời gian sống thêm sau mổ của nhóm nghiên cứu trung bình là 33,15 ± 1,25 tháng. Tỷ lệ sống thêm sau 1 năm là 96,5%, sau 3 năm là 78,6%. Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tại Bệnh viện Thanh Nhàn cho kết quả tốt, tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp, đảm bảo về mặt ung thư học… góp phần nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân ung thư tại Hà Nội.
50 Bước đầu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật bơm nước vào khoang màng bụng trong kết hợp đốt u gan bằng vi sóng các vị trí nguy cơ cao tại Bệnh viện Ung Bướu / Nguyễn Vĩnh Thịnh, Huỳnh Thị Đỗ Quyên, Huỳnh Khánh Phú, Phạm Thế Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 244 - 249 .- 610
Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật bơm nước vào khoang mang bụng trong kết hợp đốt u gan bằng vi sóng các vị trí nguy cơ cao. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca với 39 u ác tính ở vị trí nguy cơ cao ở 32 bệnh nhân có chỉ định thực hiện đốt vi sóng từ 31/01/2024 đến 19/6/2024 tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Tuổi, kích thước khối u, lượng dịch bơm vào khoang màng bụng, hiệu quả bơm dịch, thời gian đốt, ghi nhận biến chứng, kết quả theo dõi sau can thiệp được ghi nhận. Kết quả: Tỉ lệ bơm nước vào khoang màng bụng thành công là 26/32 trường hợp (81,25%), kích thước u trung bình 25,89mm (10 - 50mm), lượng dịch bơm trung bình 548,44ml (200 - 1000ml), thời gian đốt trung bình 10,62 phút (5 - 20 phút), hiệu quả thực hiện kỹ thuật đốt u bằng vi sóng là 32/39 u (82,05%), thời gian theo dõi sau 03 tháng các ca đã thực hiện thành công chưa ghi nhận tái phát hay tiến triển, không ghi nhận có biến chứng nặng. Kết luận: Đốt u gan bằng vi sóng dưới hướng dẫn siêu âm có kết hợp bơm nước vào khoang màng bụng là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị các khối u gan nguyên phát và di căn nằm ở vị trí nguy cơ cao và có thể đạt được sự kiểm soát tốt tại chỗ các khối u này.





