CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
31 Đánh giá tình trạng liền vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu sử dụng kỹ thuật cắt truyền thống tại Khoa Nam học và y học giới tính – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025 / Chu Thị Chi, Nguyễn Hoài Bắc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 322 - 326 .- 610

Cắt bao quy đầu là một trong những thủ thuật phẫu thuật phổ biến nhất trên thế giới, nhiều nghiên cứu đưa ra 47 biến chứng phổ biến sau phẫu thuật cắt bao quy đầu trong đó chủ yếu liên quan đến công tác chăm sóc sau phẫu thuật đặc biệt là chăm sóc vết thương (1). Công tác chăm sóc vết thương sau phẫu thuật có vai trò rất quan trọng đến việc hồi phục sau phẫu thuật. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 208 người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu bằng phương pháp truyền thống tại Khoa Nam học và Y học giới tính- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đồng ý tham gia nghiên cứu để đánh giá tình trạng liền vết thương nhằm đánh giá hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương sau phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy độ tuổi trung bình của người bệnh có phẫu thuật cắt bao quy đầu là 27, có trình độ học vấn từ đại học trở lên chiếm 73.1%, chủ yếu chưa kết hôn chiếm 74.5%, số ngày cắt chỉ trung bình của người bệnh là 11.6 ngày, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật vết thương được đánh giá là liền thương tốt đạt 43.2% còn tại thời điểm cắt chỉ đạt 94.2%, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật có 2.4% người bệnh có tình trạng hở hoàn toàn vết mổ và tại thời điểm trước cắt chỉ có 0.5% người bệnh có dấu hiệu nhiễm trùng trung bình cần can thiệp y tế thêm.

32 Áp dụng thang điểm morisky - 8 đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân parkinson tại phòng khám thần kinh Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang / Mai Nhật Quang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 319 - 322 .- 610

Parkinson là một bệnh tiến triển mạn tính của hệ thần kinh trung ương. Người mắc bệnh Parkinson thường mắc nhiều bệnh kết hợp khác nhau nên phải uống nhiều loại thuốc và nhiều lần trong ngày do đó họ rất dễ bị quên dùng thuốc. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu áp dụng thang điểm morisky 8 đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân parkinson tại phòng khám khoa thần kinh bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh parkinson. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang 51 bệnh nhân parkinson, thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 09 năm 2024. Kết quả nghiên cứu: Trong số 51 bệnh nhân động kinh được chọn vào mẫu nghiên cứu, tuổi trung bình các bệnh nhân nhập viện 64,8±12 tuổi, Giới nam chiếm 56,8% nhiều hơn nữ. Tuân thủ điều trị chiếm 74,5%, tỷ lệ không tuân thủ điều trị chiếm 25,5%. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ điều trị chiếm 74,5%, tỷ lệ không tuân thủ điều trị chiếm 25,5%.0

33 So sánh độ chính xác giữa lập kế hoạch truyền thống và lập kế hoạch ảo trong phẫu thuật chỉnh hình xương hai hàm / Nguyễn Phước Lợi, Hồ Nguyễn Thanh Chơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 309 - 316 .- 610

So sánh độ chính xác giữa phương pháp lập kế hoạch phẫu thuật ảo (VSP) và lập kế hoạch truyền thống (CSP) trong phẫu thuật chỉnh hình hai hàm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 20 bệnh nhân sai hình xương được chỉ định phẫu thuật chỉnh hình hai hàm tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP. Hồ Chí Minh (08/2023–02/2025). Mỗi bệnh nhân được lập kế hoạch bằng cả hai phương pháp, với máng phẫu thuật được chọn ngẫu nhiên trong phòng mổ. Hình ảnh cắt lớp điện toán (CT) sau phẫu thuật được chồng khớp với trước phẫu thuật để đo sai lệch tịnh tiến (X, Y, Z) và xoay (roll, pitch, yaw) của xương hàm trên (XHT), mảnh xa và hai mảnh gần xương hàm dưới (XHD). Kết quả và bàn luận: Cả hai phương pháp đều đạt độ chính xác cao, với sai số trung bình dưới 2 mm và 2°, trong giới hạn lâm sàng chấp nhận được. Tuy nhiên, nhóm VSP có sai số theo chiều trước–sau lớn hơn so với CSP ở cả xương hàm trên và dưới (p < 0,05), chủ yếu do khác biệt trong ghi nhận tương quan trung tâm và mô phỏng chuyển động lồi cầu. Kết luận: Lập kế hoạch ảo giúp kiểm soát tốt hơn các chuyển động phức tạp, là xu hướng tất yếu trong phẫu thuật chỉnh hình xương hàm hiện đại.

34 Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hút huyết khối trực tiếp bằng ống thông trong điều trị đột quỵ cấp tắc động mạch não giữa đoạn M1 / Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn, Lê Văn Phước, Nguyễn Thanh Thảo // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 305 - 309 .- 610

Tắc động mạch não giữa (ĐMNG) đoạn M1 là nguyên nhân thường gặp của đột quỵ do tắc mạch lớn, gây tàn phế và tử vong cao, bằng chứng thực hành thường quy cho chiến lược hút trực tiếp (ADAPT-A Direct Aspiration First Pass Technique) còn hạn chế. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hút huyết khối do tắc đoạn M1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy 01/2023 - 06/2025 các bệnh nhân đột quỵ tắc ĐMNG đoạn M1 được can thiệp lấy huyết khối. Các biến số chính: hiệu quả tái thông mTICI, hiệu quả phục hồi lâm sàng mRS 90 ngày, xuất huyết não, tử vong, biến chứng thủ thuật. Kết quả: 61 ca, tuổi trung bình 65 tuổi, tái thông thành công mTICI≥2b lượt đầu 71,1%, mTICI ≥2b cuối 96,7%. Tỷ lệ độc lập chức năng (mRS 0-2) 90 ngày 54,1%, tử vong 18%, thời gian tái thông 20 phút, xuất huyết não có triệu chứng 13,1%, biến chứng bóc tách, co thắt 4,9%, thuyên tắc mới 3,3%, không có trường hợp thủng mạch máu. Kết luận: Can thiệp nội mạch hút huyết khối trong tắc ĐMNG đoạn M1 cho thấy tỷ lệ tái thông cao, thời gian tái thông nhanh, cải thiện kết cục chức năng với biến chứng thấp.

35 Nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ trướng / Phạm Thị Linh Chi, Trần Ngọc Ánh, Dương Công Thành, Đậu Quang Liêu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 301 - 305 .- 610

Tỷ lệ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân xơ gan là 25% đến 35%1. Tỷ lệ tử vong khi nhập viện của bệnh nhân xơ gan có nhiễm khuẩn là khoảng 15%, cao gấp 2 lần so với bệnh nhân xơ gan không bị nhiễm khuẩn. Mục tiêu: Khảo sát nồng độ cortisol toàn phần trong huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ ổ bụng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 41 bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch ổ bụng theo phân loại Atlanta 2012 2 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Trung tâm Tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Kết quả: Trung vị nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh lúc 8 giờ sáng: 271,50 μg/dL, ở BN xơ gan cổ trướng có nhiễm khuẩn dịch màng bụng. Trung vị của điểm MELD Na trong nhóm nghiên cứu là 21 điểm. Trung vị giá trị bạch cầu máu ngoại vi và giá trị CRPhs của các bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là 6,48 G/L và 9,05 mg/L. Phân tích ROC cho chỉ số cortisol 8h nhằm dự báo nhiễm khuẩn dịch màng bụng cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,27. Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số cortisol không có giá trị chẩn đoán cao trong dự đoán nhiễm trùng dịch ổ bụng ở quần thể nghiên cứu này. Kết luận: Nồng độ Cortisol toàn phần huyết thanh có thể là một chỉ số đánh giá tình trạng suy thượng thận ở bệnh nhân xơ gan nhưng không không có giá trị trong dự báo nhiễm trùng nhiễm dịch ổ bụng ở bệnh nhân xơ gan trong nghiên cứu này.

36 Kết quả phẫu thuật trồng lại ngón tay cái đứt rời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Trần Thị Thanh Hoài, Nguyễn Việt Nam, Trần Chiến, Vũ Hồng Ái, Nguyễn Văn Trường, Ngô Thái Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 293 - 297 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang tổn thương đứt rời ngón cái, đánh giá kết quả phẫu thuật trồng lại ngón cái đứt rời bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu – tiến cứu trên 30 bệnh nhân bị đứt rời ngón cái được phẫu thuật trồng lại tại Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 (từ tháng 06/2020 đến tháng 06/2025). Kết quả: Phẫu thuật trồng lại ngón cái sau đứt rời đạt tỷ lệ sống cao với 93,3% (28/30), Trong đó, nhóm đứt rời không hoàn toàn có kết quả tốt nhất với 100% sống (16/16), trong khi đứt rời hoàn toàn đạt 85,7% (12/14). Các tổn thương sắc gọn và vùng II–IV có tiên lượng tốt (91,7–100%), trong khi vùng III cho kết quả hạn chế hơn. Khám lại sau 3 tháng, 95% bệnh nhân có kết quả chức năng ở mức I, II, với cảm giác và vận động phục hồi đáng kể theo tiêu chuẩn Chung Wei Chen. Kết luận: Phẫu thuật trồng lại ngón cái sau đứt rời có tỷ lệ sống cao đạt 93,3% (28/30). Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sống bao gồm kiểu đứt gần hoàn toàn, tổn thương sắc gọn, thời gian thiếu máu dưới 6 giờ và bảo quản đúng cách. Đánh giá kết quả xa cho thấy 95% bệnh nhân đạt mức I, II, khẳng định hiệu quả và tính khả thi của vi phẫu trồng lại tái tạo ngón cái.

37 Kết quả điều trị xẹp đốt sống ngực thấp do loãng xương bằng phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Duy Linh, Nguyễn Lê Bảo Tiến, Võ Văn Thanh, Ngô Thanh Tú, Phạm Hồng Phong, Nguyễn Vũ Công Bảo Long, Phạm Ngọc Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 289 - 292 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân xẹp đốt sống ngực thấp đơn tầng do loãng xương và đánh giá kết quả điều trị của phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng (BXM) trên nhóm bệnh nhân này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên hồ sơ bệnh án của 43 bệnh nhân được chẩn đoán xẹp đốt sống ngực thấp đơn tầng do loãng xương, điều trị bằng BXM có bóng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 01/2022 đến 01/2023. Các dữ liệu lâm sàng (thang điểm VAS, MacNab) và hình ảnh học (chiều cao thân đốt, các góc gù) được thu thập và phân tích tại các thời điểm trước và sau phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình là 73,7, nữ giới chiếm 86,0%. T-score trung bình là -3,4. Điểm đau VAS cải thiện đáng kể từ 7,3 trước mổ xuống còn 1,3 (ngay sau mổ) và 0,7 (sau 24 tháng) (p<0,001). Chiều cao thân đốt sống và các góc gù (góc xẹp thân đốt, góc Cobb) đều được phục hồi có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Tại thời điểm 24 tháng, 95,4% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm MacNab. Tỷ lệ biến chứng thấp, ghi nhận 4,6% xẹp đốt sống mới thứ phát và các trường hợp rò xi măng không triệu chứng. Kết luận: BXM có bóng là phương pháp an toàn, hiệu quả cao trong điều trị xẹp đốt sống ngực thấp do loãng xương, giúp giảm đau nhanh chóng, phục hồi hiệu quả hình thái cột sống và cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

38 Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng nội soi tán sỏi với năng lượng holmium laser tại Bệnh viện Ninh Thuận / Lê Thành Tài, Lê Huy Thạch, Đàng Quốc Phương, Nguyễn Nhật Huy, Lê Quốc Thắng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 280 - 284 .- 610

Nội soi tán sỏi ngược dòng với năng lượng Holmium laser hiện là phương pháp ít xâm lấn, hiệu quả cao, nhưng cần đánh giá thêm về kết quả và tính an toàn đối với sỏi niệu quản đoạn 1/3 trên. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản 1/3 trên bằng nội soi tán sỏi ngược dòng với năng lượng Holmium laser tại Bệnh viện Ninh Thuận. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 40 bệnh nhân sỏi niệu quản đoạn 1/3 trên, kích thước 5–15 mm, thực hiện tán sỏi bằng nội soi ngược dòng với Holmium laser. Theo dõi khả năng tiếp cận sỏi, thời gian tán sỏi, biến chứng và hiệu quả điều trị. Kết quả: Tuổi trung bình 48,9 ± 13,3 tuổi, nam 60%, nữ 40%. Tất cả bệnh nhân (100%) được đưa máy soi vào niệu quản thành công. Thời gian tán sỏi trung bình 37,2 ± 12 phút. Tỷ lệ đặt sonde JJ niệu quản sau tán là 97,5%. Biến chứng nặng như thủng niệu quản không ghi nhận; chảy máu 7,5%, đái máu kéo dài 2,5%. Kết luận: Nội soi tán sỏi Holmium laser cho sỏi niệu quản 1/3 trên là phương pháp hiệu quả và an toàn, thời gian tán ngắn, biến chứng thấp, phù hợp để áp dụng rộng rãi. Việc đặt sonde JJ hỗ trợ đào thải sỏi và bảo vệ niệu quản.

39 Căn nguyên và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em tại Bệnh viện Bạch Mai / Trần Hữu Dũng, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thành Nam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 264 - 267 .- 610

Viêm phổi cộng đồng (CAP) là bệnh phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Xác định tác nhân gây bệnh giúp thầy thuốc lâm sàng có lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 115 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi cộng đồng tại Trung Tâm Nhi Bệnh Viện Bạch Mai. Kết quả: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của trẻ CAP là ho, khò khè và sốt với tỷ lệ lần lượt là 98,3%; 84,3% và 80,9%. Ran ẩm nhỏ hạt nghe được ở 93% các trường hợp. Tổn thương trên phim X-quang chủ yếu là tổn thương nhu mô phổi. H. Influenzae là vi khuẩn được phân lập nhiều nhất với tỷ lệ là 41,5%; tiếp đến là S. Pneumoniae với tỷ lệ 33,1% và M. Catarrhalis là 24,6%. S. Pneumoniae có tỷ lệ đề kháng cao với Erythromycin (94,7%); Co-trimoxazol (82,1%); Ampicillin/ Sulbactam (88,7%); Amoxcillin/Acid Clavunanic (55,3%); nhậy cảm với Levofloxacin (97,4%); Ceftriaxone (100%) và Moxifloxacin (100%). H. Influenzae có tỷ lệ đề kháng cao với Ampicillin/ Sulbactam; Amoxcillin/ Acid clavunanic, Erythromycin và Co-trimoxazol với tỷ lệ lần lượt là 89,6%; 77,1%; 97,8%; 97,8% và 85,7%. Tỷ lệ nhạy với Ceftriaxone (95,8%); Moxifloxacin (100%); Levofloxacin (100%); Meronem (100%). Kết luận: Các tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng có tỷ lệ đề kháng cao với các kháng sinh thồng thường.

40 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều trị điếc đột ngột / Lê Quang, Trần Lê Đình Phú, Nguyễn Thành Phương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 259 - 263 .- 610

Điếc đột ngột là một cấp cứu thường gặp trong chuyên ngành Tai Mũi Họng. Corticoid toàn thân là điều trị chính yếu và phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị nhưng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị điếc đột ngột. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến cứu trên 162 bệnh nhân điếc đột ngột tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh từ 02/2025 đến 09/2025. Dữ liệu lâm sàng, thính lực đồ và kết quả điều trị được phân tích. Hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Kết quả: Tuổi trung bình bệnh nhân là 45,0 ± 12,7 năm; thời gian trung bình từ khởi phát đến nhập viện là 8,5 ± 6,5 ngày. Sau điều trị, 16,0% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, 27,8% hồi phục một phần và 56,2% không cải thiện. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy tuổi (OR = 0,96; KTC 95%: 0,96 – 0,99; p = 0,005), trì hoãn điều trị (OR = 0,88; KTC 95%: 0,82 – 0,94; p < 0,001) và ngưỡng nghe trước điều trị (OR = 0,97; KTC 95%: 0,97 – 0,99; p = 0,021) là các yếu tố ảnh hưởng làm giảm khả năng hồi phục thính lực. Các yếu tố khác như bệnh lý kèm theo, dạng thính lực đồ không ảnh hưởng kết quả điều trị. Kết luận: Tuổi, thời gian từ khi khởi phát đến điều trị, và ngưỡng nghe trước điều trị là các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị điếc đột ngột. Do đó, can thiệp sớm đóng vai trò then chốt trong việc tối ưu hóa kết quả điều trị.