CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
31 Đánh giá tai biến và biến chứng của phẫu thuật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi tại Bệnh viện Nguyễn Trãi / Phạm Quốc Cường, Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Thị Linh Huệ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 348 - 353 .- 610

Xác định tỉ lệ tai biến và biến chứng của phẫu thuật nội soi cắt túi mật, xác định mối liên quan giữa một số yếu tố liên quan với tai biến và biến chứng nặng của phẫu thuật nội soi cắt túi mật điều trị viêm túi mật cấp do sỏi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 249 bệnh nhân nhập viện khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Nguyễn Trãi được chẩn đoán là viêm túi mật cấp do sỏi được phẫu thuật nội soi cắt túi mật từ 01/01/2016 đến 31/12/2020. Kết quả: Kết quả cho thấy 100 trường hợp (40,16%) có các tai biến và biến chứng, trong đó biến chứng nặng là 14 trường hợp (5,6%). Các biến chứng nhẹ gồm: thủng túi mật, đổ dịch mật, sỏi vào ổ bụng là có tỷ lệ cao nhất 15,2%, theo sau đó là chảy máu (thành bụng ở lỗ trocar, từ giường túi mật) chiếm 11,2%. Tai biến và biến chứng nặng gồm: chảy máu cần phải chuyển mổ mở cầm máu và tổn thương đường mật chiếm lớn nhất với 2,0%, sau đó là rò mật với 1,2%. Kết quả cũng cho thấy có mối liên quan giữa tai biến và biến chứng nặng với các yếu tố: giới tính, đặc điểm đau quặn bụng từng cơn, chẩn đoán trên siêu âm và trên kết quả chụp cắt lớp vi tính, tình trạng vùng túi mật và cuống gan bị phù nề- viêm dính, tình trạng hoại tử thành túi mật. Kết luận: Các tai biến và biến chứng nặng xảy ra nhiều hơn ở các đặc điểm: nam giới, đau quặn từng cơn và có kết quả siêu âm hoặc cắt lớp điện toán là viêm cấp/mạn, có hiện tượng vùng túi mật và cuống gan bị phù nề, viêm dính, hoại tử thành túi mật. Khi phẫu thuật cần chú ý trong bệnh lý viêm túi mật cấp được phẫu thuật nội soi cắt túi mật cần phẫu tích xác định giải phẫu học tam giác gan mật để tránh các tai biến chứng nặng.

32 Giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán và phân độ chấn thương tụy / Nguyễn Thị Nguyệt, Lê Thanh Dũng, Nguyễn Duy Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 344 - 348 .- 610

Đánh giá vai trò của cắt lớp vi tính (CLVT) trong chẩn đoán và phân độ chấn thương tụy. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 bệnh nhân ≥18 tuổi có chấn thương tụy được xác định bằng CLVT, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 01/2022 đến 07/2025. Thu thập dữ liệu lâm sàng, xét nghiệm, hình ảnh CLVT và so sánh với kết quả phẫu thuật khi có. Kết quả: Nam giới chiếm 78,6%, tuổi trung bình 37,7 ± 15,69. Tai nạn giao thông là nguyên nhân phổ biến nhất (84,3%). Triệu chứng chủ yếu là đau bụng (100%); tăng amylase máu gặp ở 88,1%. Tổn thương trên CLVT gồm: dịch ổ bụng (100%), dịch quanh tụy (97,1%), đụng dập nhu mô (91,4%), đường rách nhu mô (85,7%), tụ máu nhu mô (20%), nghi ngờ tổn thương ống tụy (52,9%). Trong 46 bệnh nhân phẫu thuật, có 40 bệnh nhân (87,0%) được xác nhận chấn thương tụy. Giá trị chẩn đoán của các dấu hiệu: dịch quanh tụy (độ nhạy 97,5%, đặc hiệu 16,7%), đụng dập tụy (97,4%; 25%), tụ máu trong tụy (85,7%; 100%), đường vỡ tụy (97,1%; 72,7%), đứt rời tụy (52%; 95,2%), nghi ngờ tổn thương ống tụy (93,8%; 64,3%). CLVT xác định chính xác vị trí tổn thương (100% ở tất cả các vị trí). So sánh phân độ cho thấy CLVT thường đánh giá thấp mức độ tổn thương, nhất là ở phân độ I và III; các phân độ cao (IV, V) thường trùng khớp với phẫu thuật. Kết luận: CLVT là phương tiện hình ảnh có giá trị cao trong phát hiện sớm, xác định vị trí và phân độ chấn thương tụy, qua đó hỗ trợ lập kế hoạch điều trị và quyết định phẫu thuật.

33 Procalcitonin và một số yếu tố liên quan kết quả cấy máu / Trần Hữu Dũng, Nguyễn Thị Nga, Biện Thị Hồng Cẩm, Phạm Thị Kim Thùy, Trần Thị Bích Liễu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 340 - 344 .- 610

Xác định mối liên quan giữa PCT và một số yếu tố khác với kết quả cấy máu; Xác định mối liên quan giữa PCT và loại vi khuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu hồ sơ bệnh án các trường hợp nhập khoa Cấp cứu tổng hợp trong năm 2023 được xét nghiệm PCT và cấy máu. Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 71,25 (±14,71), nam chiếm 118 (45,2%) trường hợp, tỉ lệ cấy máu dương tính là 17,6% trường hợp, trong đó có 36 (78,3%) trường hợp gram âm và 10 (21,7%) trường hợp gram dương. qSOFA là yếu tố lâm sàng liên quan đến kết quả cấy máu. Nhóm có qSOFA ≥ 2 cho kết quả cấy máu với tỉ lệ dương tính là 21,6% cao gần gấp đôi nhóm còn lại (12%). Có 2 yếu tố liên quan đến loại vi khuẩn phân lập được là thân nhiệt và nồng độ PCT trong huyết tương: trong số các trường hợp có thân nhiệt ≤ 38oC và nồng độ PCT < 0,671 ng/ml phân lập được vi khuẩn, gram âm chiếm 25% và gram dương chiếm 75% trường hợp; trong số các trường hợp có thân nhiệt > 38oC và/hoặc nồng độ PCT ≥ 0,671 ng/ml phân lập được vi khuẩn, gram âm chiếm 97,1% và gram dương chiếm 2,9% trường hợp. Kết luận: qSOFA là yếu tố lâm sàng liên quan đến kết quả cấy máu. Thân nhiệt và PCT là 2 yếu tố có liên quan đến loại vi khuẩn phân lập được ở bệnh nhân NKH mới nhập viện.

34 Bước đầu đánh giá hiệu quả điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch trên bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại Bệnh viện Nguyễn Trãi / Hà Minh Châu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 336 - 340 .- 610

Xác định thời gian cửa kim trong quy trình đột quỵ cấp và đánh giá hiệu quả điều trị TSH (TM) trên bệnh nhân ĐQ TMN cấp tại BVNT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Đối tượng nghiên cứu là tất cả người bệnh được chẩn đoán ĐQ TMN cấp và được điều trị rtPA (TM) tại BVNT từ tháng 11/2020 đến hết tháng 4/2022. Kết quả nghiên cứu: Từ tháng 11/2020 đến hết tháng 04/2022, có 52 ca ĐQ TMN cấp được điều trị TSH (TM) tại BVNT. Giới nam chiếm tỉ lệ 65,4%. Tuổi trung bình là 66,2 tuổi. Điểm NIHSS lúc nhập viện trung bình là 10,7 điểm. 21,2% trường hợp có tắc mạch máu lớn. Thời gian cửa kim trung bình là 64,4 phút, trung vị 60 phút. Tỉ lệ bệnh nhân phục hồi chức năng thần kinh tốt, đạt điểm mRS 0-1 sau 3 tháng là 61,5%. Các yếu tố tiên lượng độc lập khả năng phục hồi chức năng thần kinh sau 3 tháng là: điểm NIHSS lúc nhập viện (OR = 0,819; KTC 95%: 0,688-0,975; p = 0,024) và NIHSS sau 24 giờ giảm ≥ 4 điểm (OR = 14,204; KTC 95%: 1,958-103,054; p = 0,009). Tỉ lệ xuất huyết não có triệu chứng là 5,8%. Tỉ lệ tử vong 9,6%. Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điều trị TSH (TM) là có hiệu quả và an toàn trên bệnh nhân ĐQ TMN cấp trong cửa sổ 4,5 giờ. Thời gian cửa kim của bệnh viện còn khá dài, do đó kiến nghị các biện pháp để tối ưu hóa quy trình đột quỵ cấp.

35 Bước đầu ứng dụng thiết bị theo dõi điện tâm đồ dài ngày Octo Beat để tầm soát rung nhĩ tại Bệnh viện Nguyễn Trãi / Nguyễn Văn Sĩ, Hồ Khắc Minh, Quách Thanh Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 333 - 336 .- 610

Rung nhĩ là một nguyên nhân quan trọng của đột quỵ thiếu máu cục bộ. Holter điện tâm đồ 24 giờ là biện pháp tầm soát rung nhĩ thường được sử dụng trên lâm sàng ở người bệnh hậu đột quỵ nhưng vẫn còn có một số giới hạn. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ rung nhĩ mới chẩn đoán trên người bệnh hậu đột quỵ. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 30 người bệnh hậu đột quỵ sử dụng sử dụng thiết bị theo dõi điện tâm đồ dài ngày Octo Beat tại bệnh viện Nguyễn Trãi. Kết quả: Tuổi trung bình của người bệnh tham gia nghiên cứu là 62,7 ± 13,5. Thời gian theo dõi điện tâm đồ: 78 ± 34 giờ. Tỉ lệ rung nhĩ ghi nhận là 10% với 2 trường hợp phát hiện sau 24 giờ. Thời gian rung nhĩ là 18 phút 13 giây (11 phút 57 giây - 697 phút 37 giây). Kết luận: Thiết bị theo dõi điện tâm đồ dài ngày Octo Beat giúp phát hiện rung nhĩ mới chẩn đoán trên người bệnh hậu đột quỵ hiệu quả hơn so với phương tiện Holter điện tâm đồ 24 giờ truyền thống.

36 Xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp Bromocresol Green trong xác định nồng độ albumin huyết tương và vai trò của xét nghiệm albumin trong đánh giá độ nặng trên bệnh nhân viêm tụy cấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy / Nguyễn Văn Sĩ, Hồ Khắc Minh, Quách Thanh Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 333 - 336 .- 610

Viêm tụy cấp (VTC) là một bệnh lý có thể gây tử vong, và nồng độ albumin huyết tương thấp được xem là một chỉ số liên quan chặt chẽ đến mức độ nặng của bệnh. Nghiên cứu này được thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy nhằm xác nhận độ tin cậy của phương pháp xét nghiệm Bromocresol Green (BCG) trên máy Cobas c702 và đánh giá vai trò của albumin trong việc tiên lượng VTC. Nghiên cứu cắt ngang trên 138 bệnh nhân VTC đã chứng minh phương pháp BCG trên hệ thống Cobas c702 có độ chính xác và độ lặp lại cao, với hệ số biến thiên và độ chệch đều nằm trong giới hạn cho phép. Kết quả cho thấy nồng độ albumin trung bình của bệnh nhân VTC là 3,52 ± 0,69 g/dL và 32,5% trong số họ bị giảm albumin máu. Nồng độ albumin thấp này có mối tương quan với mức độ nặng của bệnh. Tóm lại, xét nghiệm albumin bằng phương pháp BCG trên máy Cobas c702 là một công cụ đáng tin cậy. Việc theo dõi chỉ số này có thể giúp bác sĩ đánh giá sớm mức độ nghiêm trọng và tiên lượng lâm sàng ở bệnh nhân VTC, từ đó có thể cải thiện hiệu quả điều trị và giảm tỷ lệ tử vong.

37 Phân bố loài Candida spp. trên bệnh nhân viêm âm hộ - âm đạo do nấm / Huỳnh Thị Xuân Tâm, Lê Thảo Phúc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 143 - 147 .- 610

Xác định tỉ lệ phân bố loài Candida albicans và Candida non-albicans gây viêm âm hộ - âm đạo do nấm ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Mẫu dịch tiết âm đạo được thu thập từ 70 phụ nữ được chẩn đoán xác định viêm âm hộ âm đạo do nấm tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 03/2025 đến tháng 07/2025. Mẫu dịch âm đạo được soi tươi trực tiếp với KOH 10% và nuôi cấy trong môi trường thạch Sabouraud dextrose và CHROMagar™ Candida để phân lập và định danh loài Candida gây bệnh. Kết quả: Candida albicans chiếm ưu thế (83,6%), các loài Candida non-albicans bao gồm C. glabrata (9,6%), C. tropicalis (4,1%) và C. parapsilosis (2,7%). Đa số bệnh nhân nằm trong nhóm tuổi 18–29 (65,7%), tiếp đến là 30–39 tuổi (18,6%), trong khi nhóm ≥50 tuổi chiếm tỉ lệ thấp (2,9%). Phần lớn bệnh nhân cư trú tại thành thị (85,7%), sử dụng nguồn nước máy (74,3%), có trình độ học vấn cao (75,7% tốt nghiệp đại học). Về nghề nghiệp, nhóm cán bộ viên chức, học sinh – sinh viên và lao động tự do chiếm tỷ lệ lớn, lần lượt là 34,3%, 20% và 24,3%. Kết luận: Candida albicans vẫn là tác nhân gây bệnh chiếm ưu thế so với các loài Candida non-albicans. Việc nuôi cấy, định danh loài và theo dõi tình hình kháng thuốc là cần thiết nhằm định hướng lựa chọn liệu pháp điều trị thích hợp, góp phần kiểm soát hiệu quả tình trạng viêm âm hộ âm đạo do nấm ở nữ.

38 Khó tiêu chức năng có dùng Itopride hydrochloride / Hoàng Thị Lan Anh, Trần Ngọc Ánh, Trần Việt Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 147 - 151 .- 610

Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân khó tiêu chức năng (KTCN) trước và sau 4 tuần điều trị bằng itopride hydrochloride.Đối tượng và phương kháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc được thực hiện trên 74 bệnh nhân KTCN được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ROME IV. Bệnh nhân được điều trị bằng itopride hydrochloride liều 150 mg/ngày trong 4 tuần. CLCS được đánh giá bằng thang điểm Nepean Dyspepsia Index dạng ngắn (SF-NDI) tại hai thời điểm: trước và sau điều trị. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả: Điểm SF-NDI trung bình trước điều trị của bệnh nhân là 52,57 ± 18,47, sau 4 tuần điều trị giảm xuống còn 25,68 ± 6,71. Mức cải thiện tổng điểm SF-NDI trung bình là 26,89 điểm, có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Cải thiện được ghi nhận ở tất cả các lĩnh vực của SF-NDI, đặc biệt ở lĩnh vực “công việc, học tập” (28,92 điểm). Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ cải thiện SF-NDI với các yếu tố như giới tính, BMI, thói quen hút thuốc, uống rượu bia, dùng cà phê, hoạt động thể lực và sử dụng NSAID (p > 0,05). Nhóm bệnh nhân thể chồng lấp có điểm SF-NDI trước điều trị cao nhất (61,77 ± 16,86) và mức độ cải thiện cao nhất sau điều trị. Kết luận: Điều trị itopride hydrochloride trong 4 tuần giúp cải thiện đáng kể và toàn diện CLCS của bệnh nhân KTCN, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có gánh nặng triệu chứng nặng nhất là thể chồng lấp

39 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng động kinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Lê Văn Giang, Đỗ Mạnh Dũng, Phạm Thị Hương, Trần Văn Học, Đỗ Thanh Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ mắc động kinh tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 138 trẻ mắc động kinh thông qua phỏng vấn trực tiếp, thu thập thông tin từ sổ khám bệnh, bệnh án nghiên cứu kết hợp quan sát lâm sàng và xem video cơn co giật của trẻ. Kết quả: Động kinh gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái (với tỷ lệ 56,5% và 43,5%). Động kinh khởi phát toàn thể gặp nhiều hơn với 73,2%; 18,8% cơn động kinh khởi phát cục bộ và 8,0% không rõ khởi phát. Thời gian trung bình cơn ≤ 5 phút chiếm 97,8% và xuất hiện lúc thức với 89,9%. Hình ảnh điện não đồ của 87,7% bệnh nhân có bất thường ngoài cơn; 18,3% có hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính và 17,2% có hình ảnh tổn thương trên cộng hưởng từ sọ não. Kết luận: Cơn lâm sàng và tổn thương trên hình ảnh học sọ não đa dạng do đó cần chẩn đoán và phân loại cơn chính xác để nâng cao tỷ lệ kiểm soát cơn, cải thiện hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống của bệnh nhi.

40 Hiệu quả điều trị loét tá tràng có nhiễm helicobacter pylori ở trẻ em bằng phác đồ 4 thuốc có bismuth tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Vũ Thị Thơm, Phí Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Việt Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 139 - 143 .- 610

Loét tá tràng là tình trạng tổn thương sâu ở niêm mạctá tràng với đặc điểm mạn tính và hay tái phát. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị loét tá tràng có nhiễm H. pylori ở trẻ em bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 42 trẻ (3–16 tuổi) được chẩn đoán loét tá tràng nhiễm H. pylori bằng test urease và mô bệnh học. Trẻ được điều trị bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth. Hiệu quả được đánh giá bằng tỷ lệ tiệt trừ H. pylori, liền sẹo ổ loét, cải thiện triệu chứng và tác dụng không mong muốn. Kết quả: Tuổi trung bình 11,5 ± 2,1; nam/nữ = 2,5/1. Sau 6 tuần, tiệt trừ H. pylori đạt 81%, lành ổ loét 88,1%, 11,9% chưa khỏi và78,6% bệnh nhân hết đau bụng. Các triệu chứng xuất huyết tiêu hóa, buồn nôn, ợ hơi, khó tiêu đều hết sau điều trị. Tác dụng không mong muốn là mệt mỏi chiếm tỷ lệ thấp, không cần ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ 4 thuốc có Bismuth đạt hiệu quả cao trong tiệt trừ H. pylori và làm lành ổ loét tá tràng ở trẻ em, an toàn và dung nạp tốt, phù hợp triển khai tại Thái Bình.