CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
21 Tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2023 / Trương Khắc Quỳnh, Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Mỹ Lan, Đỗ Nguyên Vũ, Nguyễn Thị Mai // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 812-822 .- 610
Nghiên cứu cắt ngang nhằm đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2023. Tổng cộng 300 người bệnh được tuyển chọn từ tháng 5 đến tháng 11/2023, mức độ tuân thủ được đánh giá bằng thang MMAS-8. Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc đạt 69,3%. Các hành vi không tuân thủ phổ biến là cảm thấy phiền phức khi điều trị (39,3%) và đôi khi quên dùng thuốc (32,7%). Phân tích đơn biến ghi nhận không tuân thủ chế độ ăn, số thuốc đái tháo đường trong đơn, phác đồ phối hợp thuốc uống–insulin và lo sợ biến chứng có liên quan đến không tuân thủ sử dụng thuốc (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, chỉ còn không tuân thủ chế độ ăn ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Nhìn chung, tuân thủ điều trị còn chưa tối ưu; cần triển khai can thiệp đa thành phần, tăng cường tư vấn cá thể hóa và hỗ trợ duy trì các hành vi tự quản lý bệnh.
22 Mức độ tuân thủ điều trị thuốc chống loãng xương đường uống theo thang điểm GMAS ở phụ nữ sau mãn kinh / Nguyễn Thuỷ Tiên, Đỗ Thị Huyền Trang, Phạm Hoài Thu // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 823-831 .- 610
Loãng xương là bệnh lý diễn biến âm thầm, thường được chẩn đoán muộn khi đã có gãy xương; điều trị kéo dài và chỉ đạt hiệu quả khi người bệnh tuân thủ điều trị. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ sử dụng thuốc điều trị loãng xương đường uống theo thang điểm GMAS và khảo sát một số yếu tố liên quan ở phụ nữ loãng xương nguyên phát sau mãn kinh điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 220 phụ nữ sau mãn kinh được chẩn đoán loãng xương nguyên phát theo tiêu chuẩn AACE 2020, đang điều trị bằng bisphosphonate đường uống. Tuân thủ điều trị được đánh giá bằng thang điểm GMAS gồm 11 mục, phân thành 4 mức độ. Kết quả cho thấy điểm GMAS trung bình là 23,12 ± 6,97, tương ứng mức tuân thủ trung bình; 62,27% người bệnh thuộc nhóm tuân thủ trung bình – kém. Hai nội dung có điểm trung bình cao nhất là “không chắc thời điểm/cách dùng thuốc” và “bỏ thuốc vì không hiểu cách dùng”. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy sống ở nông thôn, thời gian mãn kinh ≥ 10 năm, thời gian chẩn đoán loãng xương < 1 năm, gặp tác dụng không mong muốn và thời gian sử dụng thuốc < 6 tháng là các yếu tố liên quan độc lập với tuân thủ trung bình – kém. Cần tăng cường tư vấn, theo dõi và hỗ trợ người bệnh ngay từ giai đoạn khởi trị.
23 Thực trạng tiêm vắc xin phòng HPV của nữ sinh viên y tại Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan / Phùng Quốc Điệp, Bùi Minh Thu, Lê Thị Thanh Xuân // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 832-840 .- 610
Tiêm vắc xin phòng HPV là phương pháp chủ động và dự phòng hiệu quả các bệnh do HPV gây ra ở nữ giới, đặc biệt là ung thư cổ tư cung. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 874 nữ sinh viên trường Đại học Y Hà Nội và trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai năm 2025 nhằm mô tả thực trạng tiêm vắc xin phòng HPV và một số yếu tố liên quan theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn. Kết quả cho thấy tỷ lệ nữ sinh viên đã tiêm ít nhất một mũi vắc xin là 35,8% và tỷ lệ tiêm đầy đủ 3 mũi là 27,9%. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến việc thực hành tiêm đủ 3 mũi vắc xin bao gồm: Năm học từ thứ hai trở lên, có kiến thức đạt và thái độ tích cực về vắc xin. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần thiết phải có can thiệp nhằm nâng cao thực hành tiêm vắc xin phòng HPV cho nữ sinh viên y, đội ngũ cán bộ y tế tương lai.
24 Học bổng ngoài ngân sách: Nhận thức và tác động trên sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2024 - 2025 / Đào Thị Ngoãn, Phạm Tùng Sơn, Nguyễn Thị Nguyệt, Trần Thị Phương, Tô Thành Đồng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 841-850 .- 610
Nghiên cứu về học bổng ngoài ngân sách (HBNNS) ở Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt trong nhóm sinh viên y dược. Nghiên cứu này nhằm mô tả nhận thức của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội về HBNNS và mô tả vai trò, tác động cảm nhận của HBNNS đối với sinh viên trong năm học 2024 – 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 194 sinh viên từ năm thứ 2 đến năm thứ 6 đã từng nhận HBNNS, sử dụng bộ câu hỏi tự điền trực tuyến. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên nhận diện được ít nhất hai hình thức học bổng hoặc hỗ trợ, nguồn thông tin chủ yếu đến từ nhà trường nhưng mức độ đầy đủ thông tin chưa đồng đều. HBNNS được sinh viên đánh giá tích cực ở các khía cạnh tài chính, động lực học tập, tinh thần và phát triển bản thân; điểm tác động cảm nhận trung bình đạt 3,43 ± 0,47/4. Điểm này cao hơn ở nhóm được cung cấp thông tin đầy đủ so với nhóm còn lại (3,48 so với 3,26; p = 0,004) và khác biệt theo khu vực gia đình sinh sống (p = 0,018). Kết quả nghiên cứu gợi ý HBNNS là một nguồn hỗ trợ đa chiều, có giá trị đối với cả học tập, tinh thần và sự phát triển của sinh viên.
25 Phân tích chi phí-hiệu quả của các thuốc EGFR-TKI trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR / Nguyễn Văn Chỉnh, Trần Thị Thanh Hương, Phạm Huy Tuấn Kiệt // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 851-860 .- 610
Phân tích chi phí-hiệu quả (CPHQ) của các thuốc ức chế Tyrosine Kinase (EGFR-TKI) trong điều trị bước 1 ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR dương tính. Mô hình sống sót phân vùng (PSM) kết hợp với cây quyết định được sử dụng để ước tính chi phí, hiệu quả (QALY) và chỉ số ICER của các thuốc EGFR-TKI. Phân tích độ nhạy một chiều (DSA) và xác suất (PSA) được thực hiện để đánh giá tính vững chắc của mô hình. Tổng chi phí (đã chiết khấu) của Erlotinib, Gefitinib, Afatinib, Osimertinib cho trạng thái PFS lần lượt là 190,0; 216,8; 420,3; 910,7 triệu VNĐ; tương ứng với 0,82; 0,85; 1,04; 1,41 QALY trên mỗi người bệnh. Gefitinib bị loại do thống trị mở rộng. So với Erlotinib, chỉ số ICER của Afatinib là 1,05 tỷ VNĐ/QALY và Osimertinib là 1,22 tỷ VNĐ/QALY. Phân tích PSA cho thấy tại ngưỡng sẵn sàng chi trả (WTP: 305,7 triệu VNĐ/QALY), Erlotinib có xác suất đạt CPHQ cao nhất (89,85%), Afatinib (10,15%), Osimertinib là 0%. Để đạt CPHQ, Osimertinib cần giảm giá tối thiểu 70%. Erlotinib là lựa chọn tối ưu về CPHQ tại ngưỡng WTP hiện tại. Thuốc thế hệ mới (Osimertinib) cần chiến lược giảm giá để tăng khả năng tiếp cận cho người bệnh.
26 Thực trạng hoạt động thể lực và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội năm 2025 / Phạm Thị Quân, Lê Thị Thanh Xuân // .- 2026 .- Tập 205 - Số 6 .- Tr. 861-869 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội thiếu hoạt động thể lực theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và phân tích một số yếu tố liên quan. Số liệu được thu thập từ 867 sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội sử dụng bảng câu hỏi hoạt động thể lực toàn cầu (GPAQ) năm 2025. Các yếu tố liên quan với tỷ lệ sinh viên thiếu hoạt động thể lực theo khuyến nghị được xác định bằng phân tích hồi quy logistic đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 35,2% sinh viên thiếu hoạt động thể lực theo khuyến nghị WHO trong đó tỷ lệ này ở sinh viên nữ là 43% cao hơn so với sinh viên nam là 24,7% (p < 0,05). Một số yếu tố liên quan bao gồm: giới tính (OR = 2,2), không tiếp xúc với bạn bè thường xuyên tập thể dục (OR = 1,5) và không dễ dàng tiếp cận với nơi tập thể dục thể thao tại nơi ở (OR = 1,6) làm tăng nguy cơ tới tình trạng thiếu hoạt động thể lực của sinh viên. Vì vậy, cần xây dựng các giải pháp can thiệp nhằm tăng cường hoạt động thể lực với sinh viên tại Trường Đại học Y Hà Nội.
27 Kiểm soát huyết áp và yếu tố liên quan trên người bệnh ngoại trú tại tuyến y tế cơ sở / Hồ Thị Kim Thanh, Vũ Việt Hằng, Trần Thị Hương Lý, Dương Thị Ngọc Tâm, Nguyễn Thị Thanh, Đỗ Nguyên Vũ, Bùi Trâm Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 870-880 .- 610
Nghiên cứu mô tả, đa trung tâm trên 1.419 người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại Vĩnh Yên, Hoàng Mai và Tam Điệp năm 2025 xác định tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu theo VNHA 2024 - 2025. Kết quả: tuổi trung bình 68,8 ± 9,2; tỷ lệ kiểm soát huyết áp chung 48,3%, gồm 75,7% ở nhóm không bệnh đồng mắc, 19,7% ở nhóm có bệnh đồng mắc. Đơn trị liệu chiếm ưu thế (71,4%), tỷ lệ dùng viên phối hợp còn thấp. Hồi quy đa biến xác định nam giới (aOR = 0,71, KTC 95%: 0,54 - 0,91), tăng huyết áp độ 2-3 (aOR = 0,54 - 0,59, KTC 95%: 0,39 - 0,89) và bệnh đồng mắc (aOR = 0,04 - 0,08, KTC 95%: 0,01 - 0,10) có liên quan độc lập với khả năng đạt đích thấp hơn (p < 0,05), bệnh đồng mắc vừa là yếu tố liên quan, vừa là tiêu chí phân loại ngưỡng đích. Ngược lại, tuân thủ thuốc (MMAS-8 – thang đo tuân thủ dùng thuốc Morisky 8 mục) có liên quan với khả năng đạt đích cao hơn (aOR = 1,43, KTC 95%: 1,02 – 2,00, p = 0,04). Nghiên cứu nhấn mạnh cần phối hợp thuốc sớm, nâng cao tuân thủ điều trị tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt ở nhóm có bệnh đồng mắc.
28 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai của học sinh Trường Trung học phổ thông Đan Phượng, Hà Nội năm 2024 / Nguyễn Quí Huy, Nguyễn Thị Phương Oanh, Bùi Minh Thu, Nguyễn Quốc Khánh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 881-890 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 420 học sinh Trường Trung học phổ thông Đan Phượng, Hà Nội từ tháng 11 đến tháng 12/2024, nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh có kiến thức tốt còn thấp (9,3%) và tỷ lệ có thái độ tích cực chưa cao (18,9%). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố liên quan độc lập đến kiến thức gồm khối học (AOR = 1,88; 95% CI: 1,09 – 3,24), tình trạng có người yêu (AOR = 4,23; 95% CI: 1,96 – 9,13), có bố làm việc trong khối nhà nước (AOR = 3,59; 95% CI: 1,38 – 9,32) và mẹ làm việc trong khối nhà nước (AOR = 3,23; 95% CI: 1,27 – 8,18). Các yếu tố liên quan độc lập đến thái độ tích cực gồm khối học (AOR = 1,64; 95% CI: 1,17 – 2,29), học lực (AOR = 1,89; 95% CI: 1,27 – 2,81), có bố làm việc trong khối nhà nước (AOR = 2,21; 95% CI: 1,22 – 4,02), mẹ làm việc trong khối nhà nước (AOR = 1,98; 95% CI: 1,10 – 3,58) và kiến thức tốt về biện pháp tránh thai (AOR = 2,67; 95% CI: 1,28 – 5,58). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường truyền thông - giáo dục về biện pháp tránh thai trong nhà trường, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường nhằm nâng cao kiến thức và thái độ về biện pháp tránh thai của học sinh.
29 Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo rào cản tiêm vắc xin COVID-19 liều tăng cường trong bối cảnh hậu đại dịch / Nguyễn Văn Thành, Phạm Thị Vân Anh, Nguyễn Tất Cương, Bùi Huyền Trang, Đặng Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thuý, Trần Hà Linh, Lê Thị Thanh Xuân // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 891-901 .- 610
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 405 người trưởng thành đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Xương năm 2024, chọn mẫu thuận tiện và phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc nhằm đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo rào cản tiêm vắc xin COVID-19 liều tăng cường. Thang đo được đánh giá bằng EFA, CFA và hệ số Cronbach’s alpha. Kết quả cho thấy KMO = 0,853, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Thang đo gồm hai nhân tố: (1) lo ngại về tính an toàn và tác dụng phụ của vắc xin và (2) cảm nhận không cần thiết tiêm liều tăng cường; hai biến “COVID-19 hiện không còn là mối đe dọa nghiêm trọng” và “Tôi sợ tiêm vắc xin COVID-19” bị loại do tải chéo trong EFA. Mô hình CFA sau hiệu chỉnh đạt độ phù hợp tốt. Cronbach’s alpha đạt 0,84 – 0,95, khẳng định thang đo có độ tin cậy và giá trị tốt. Thang đo có thể sử dụng để đánh giá rào cản tiêm vắc xin COVID-19 liều tăng cường ở các quần thể tương đồng.
30 Kết quả bước đầu ghép gan từ người hiến sống trong điều trị u nguyên bào gan trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương / Phạm Duy Hiền, Vũ Mạnh Hoàn, Trần Anh Quỳnh, Nguyễn Lý Thịnh Trường, Nguyễn Phạm Anh Hoa, Bùi Ngọc Lan, Đặng Ánh Dương, Thiều Tăng Thắng, Trần Minh Điển, Trần Đức Tâm, Nguyễn Thọ Anh, Trần Xuân Nam, Phạm Thị Hải Yến, Nguyễn Công Sơn, Hồ Tuấn Hoàng, Đỗ Văn // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 902-910 .- 610
Nghiên cứu hồi cứu mô tả 4 bệnh nhi u nguyên bào gan được ghép gan từ người hiến sống tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 5/2021-10/2024, độ tuổi dao động 17-33 tháng; chức năng gan nền còn bảo tồn với điểm PELD từ -7 đến 1, khối u thuộc POSTTEXT III–IV hoặc tái phát sau cắt gan, không còn khả năng cắt bỏ triệt căn. Tất cả bệnh nhi được ghép mảnh gan trái từ người hiến sống có quan hệ huyết thống, GRWR 1,6% – 2,6%. Phẫu thuật đòi hỏi cá thể hóa tái tạo mạch máu do giải phẫu phức tạp và khẩu kính mạch nhỏ. Sau ghép, chức năng mảnh ghép phục hồi thuận lợi, các biến chứng ngoại khoa được kiểm soát bằng phẫu thuật hoặc can thiệp. Sau 18 - 58 tháng, 3 bệnh nhi sống ổn định; 1 bệnh nhi tử vong sau 10 tháng do tái phát và di căn đa ổ. Nghiên cứu bước đầu cho thấy tính khả thi của ghép gan từ người hiến sống ở bệnh nhi u nguyên bào gan, cần có các nghiên cứu với cỡ mẫu và thời gian theo dõi dài hơn.





