CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
21 Đặc điểm hình ảnh dermoscopy và mô bệnh học của 14 ca bệnh lichen đơn dạng mạn tính vùng da dầu của Bệnh viện Da Liễu Hà Nội / Hồ Nam Liên, Trần Mẫn Chu, Triệu Thị Huyền Trang // .- 2025 .- Tr. 45 - 50 .- 610

Mô tả đặc điểm hình ảnh dermoscopy và mô bệnh học của lichen đơn mạn tính vùng da đầu, góp phần hỗ trợ chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý viêm mạn tính khác vùng da đầu như vảy nến, viêm da dầu tiết bã hay lupus ban đỏ mạn tính. Đối tượng và phương pháp: 14 ca bệnh lichen đơn dạng mạn tính vùng da đầu được chẩn đoán xác định tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội 2019-2025. Tất cả người bệnh được khám dermoscopy (thiết bị 20x–140x) và sinh thiết da để làm mô bệnh học nhuộm Hematoxylin– Eosin. Các đặc điểm dermoscopy được ghi nhận và đối chiếu với kết quả mô bệnh học. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được áp dụng. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ người bệnh chiếm 57,1 % và nam chiếm 42,9 %. Tuổi trung bình 33,1±11,7 tuổi, dao động từ 17 đến 59 tuổi. Thời gian mắc bệnh dưới 2 năm. Vị trí tổn thương 100% vùng đỉnh đầu, có 5 trường hợp (35,7 %) chỉ có 1 mảng tổn thương vùng đỉnh, 9 trường hợp (64,3 %) có 2 mảng tổn thương vùng đỉnh. Các đặc điểm hình ảnh Dermoscopy điển hình: đỏ da (100%), bong tróc vẩy da quanh nang tóc và các sợi tóc gãy (89,5%), dấu hiệu sợi chổi (Broom fiber sign) (100%), nang tóc giãn rộng “peripilar white halo” (47,3%), vùng mất nang tóc khu trú (63,2%), mạch máu hình chấm hoặc (57,9%). Các đặc điểm hình ảnh mô bệnh học: quá sản thượng bì với dày sừng, dày lớp hạt (100%), trung bì xâm nhập viêm bạch cầu quanh mạch (100%) với dấu hiệu bánh xe răng cưa (dấu hiệu Gear wheel) (70%) và không có dấu hiệu bánh kẹp (dấu hiệu hamburger). Kết luận: Dermoscopy cung cấp các dấu hiệu đặc trưng giúp gợi ý chẩn đoán lichen đơn mạn tính vùng da đầu, đặc biệt trong các trường hợp tổn thương mạn tính khó phân biệt lâm sàng. Sự kết hợp giữa dermoscopy và mô bệnh học giúp tăng độ chính xác chẩn đoán và tránh sinh thiết không cần thiết.

22 Đặc điểm lâm sàng của sẹo lõm do trứng cá tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội và yếu tố liên quan / Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam) // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 61 - 65 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng của sẹo lõm do trứng cá tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021- 2022 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 79 người bệnh có sẹo lõm do trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 7/2021 đến tháng 7/2022. Kết quả: Tuổi trung bình là 24,2 ± 5,4, chủ yếu là nữ (59,8%). Thời gian bị sẹo lõm là 3,2 ± 2,3 năm. Loại sẹo hay gặp nhất là sẹo đáy phẳng (59,8%), má là vị trị hay gặp nhất (34,5%). Về mức độ sẹo lõm, sẹo độ 4 chiếm tỉ lệ cao nhất (65,5%). Trứng cá bọc và thời gian diễn biến trên 2 năm có liên quan đến mức độ nặng của sẹo lõm. Tất cả người bệnh cảm thấy bị ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và giao tiếp xã hội. Kết luận: Người bệnh sẹo lõm do trứng cá chủ yếu là nữ trẻ tuổi, sẹo tồn tại nhiều năm, sẹo đáy phẳng. Đa số người bệnh có sẹo có mức độ 4. Trứng cá bọc và thời gian diễn biến trứng cá dài có liên quan đến mức độ nặng của sẹo.

23 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan / Lê Thị Chi Phương, Vũ Xuân Hương, Phạm Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Liên Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 74 - 78 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo hoặc âm đạo được làm xét nghiệm tìm 12 tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 5/2025 – 10/2025. Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo, trong đó 54 trường hợp (43,2%) dương tính với ít nhất một tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhóm tuổi 20–29 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,4%), nam giới nhiều hơn nữ giới (47,3% so với 44,1%). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy dịch tiết nhiều (OR = 3,14; KTC 95%: 1,06–6,54), dịch đục (OR = 5,56; KTC 95%: 1,73–17,90), có triệu chứng cơ năng (OR = 2,27; KTC 95%: 1,58–8,25) và có dấu hiệu viêm trên lâm sàng (OR = 3,41; KTC 95%: 1,27– 7,35) đều liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả dương tính. Ngược lại, tiền sử sử dụng kháng sinh làm giảm tỷ lệ phát hiện tác nhân (OR = 0,30; KTC 95%: 0,06–0,87). Kết luận: Các đặc điểm lâm sàng, đặc biệt tính chất dịch tiết và dấu hiệu viêm, có giá trị trong dự báo khả năng dương tính với BLTQĐTD ở người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo. Việc sử dụng kháng sinh trước đó làm giảm khả năng phát hiện các tác nhân.

24 Đánh giá kết quả điều trị và tác dụng không mong muốn của Secukinumab 300mg trên người bệnh vảy nến thông thường mức độ trung bình - nặng tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội / Đinh Thị Hoa, Nguyễn Minh Quang, Phạm Bích Ngọc, Trần Huyền Linh, Vũ Huyền Anh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 78 - 82 .- 610

Đánh giá kết quả điều trị và tác dụng không mong muốn của phác đồ tiêm dưới da Secukinumab 300 mg trong điều trị bệnh vảy nến thể thông thường mức độ trung bình - nặng tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 04/2024 đến tháng 09/2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 36 người bệnh vảy nến thể thông thường mức độ trung bình - nặng điều trị Secukinumab 300 mg tiêm dưới da tại tuần 0, 1, 2, 3, 4, 8, 12, 16. Đánh giá đáp ứng điều trị thông qua chỉ số PASI, BSA, DLQI và ghi nhận tác dụng không mong muốn trong 16 tuần. Kết quả: Chỉ số PASI, BSA và DLQI giảm dần trong 16 tuần điều trị, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả điều trị dựa theo chỉ số PASI 75 thường bắt đầu quan sát rõ rệt ở tuần thứ 3 (33,3%) và tăng liên tục đến tuần 12 (100%), duy trì ổn định tới tuần 16. Tỷ lệ đáp ứng PASI 90 và PASI 100 đạt được từ tuần thứ 4 và tăng liên tục với tỷ lệ tương ứng lần lượt là 88,9% và 36,1% ở tuần 16. Có 3 trường hợp (8,3%) gặp tác dụng không mong muốn, bao gồm mệt mỏi (2,8%), da Secukinumab 300 mg là liệu pháp điều trị ít tác dụng không mong muốn trong điều trị bệnh vảy nến thể thông thường mức độ trung bình - nặng.

25 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh nấm móng tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội và một số yếu tố liên quan / Nguyễn Minh Quang, Ngô Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Huyền // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 1 - 5 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh nấm móng tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024 và một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 40 người bệnh được chẩn đoán xác định nấm móng dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng soi tươi trực tiếp hoặc nuôi cấy phát hiện có nấm tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024. Kết quả: Nấm móng thường gặp ở nông dân (22,5%) và những người tiếp xúc nhiều với nước (57,5%), thời gian mắc bệnh thường kéo dài > 6 tháng (72,5%). Có 70% người bệnh chỉ bị nấm móng tay, 17,5% bị nấm móng chân và 12,5% bị cả nấm móng tay và nấm móng chân. Thể bờ tự do thường gặp nhất chiếm 69,9%; thể bờ gần (16,2%). Các triệu chứng lâm sàng của nấm móng bao gồm dấu hiệu tách móng, dày sừng dưới móng và thay đổi màu sắc móng chiếm từ 33,1- 44,9%. Nấm sợi là căn nguyên chính gây nấm móng gấp Kết luận: Nấm móng tay thường gặp hơn nấm móng chân. Thể bờ tự do và bờ bên thường gặp nhất, sau đó là thể bờ gần, thể trắng nông bề mặt và thể loạn dưỡng toàn bộ ít gặp nhất. Các triệu chứng lâm sàng của nấm móng thường gặp là dấu hiệu tách móng, dày sừng dưới móng và thay đổi màu sắc móng. Nấm sợi là căn nguyên chính gây nấm móng.

26 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh gút mạn tính có tăng acid uric máu tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Bộ Công An / Trương Thị Huyền, Nguyễn Trọng Thông, Phạm Xuân Phong // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 378 - 382 .- 610

Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh gút mạn tính có tăng acid uric máu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước - sau điều trị và so sánh với nhóm đối chứng. 120 bệnh nhân gút mạn tăng acid uric máu được chia làm 2 nhóm: nhóm nghiên cứu dùng viên nén bao phim GT1 và nhóm đối chứng dùng Allopurinol trong 30 ngày. Kết quả: Sau 30 ngày điều trị, nồng độ acid uric máu của nhóm nghiên cứu giảm trung bình 107,25 μmol/L; 70% bệnh nhân đạt mức acid uric chuẩn, thấp hơn so với nhóm đối chứng (93,33%). Phân loại đáp ứng cho thấy: tốt 25%, khá 61,67%, trung bình 13,33%, không có đáp ứng kém. Kết luận: GT1 có tác dụng hạ acid uric và cải thiện lâm sàng nhưng hiệu quả hạ acid uric thấp hơn Allopurinol; thuốc an toàn, ít tác dụng phụ, có thể dùng cho bệnh nhân không dung nạp Allopurinol hoặc phối hợp hỗ trợ điều trị.

27 Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em viêm amidan mạn tính tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2024-2025 / Đoàn Thị Huyền, Lê Anh Tuấn, Lê Thị Hương, Đỗ Nam Khánh, Nguyễn Văn Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 374 - 378 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bơm xi măng sinh học có bóng (BXM) của bệnh nhân xẹp đốt sống vùng bản lề ngực – thắt lưng (T11-L2) do loãng xương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 81 bệnh nhân được chẩn đoán xẹp đốt sống vùng bản lề ngực thắt lưng đơn tầng do loãng xương, được điều trị bằng phương pháp BXM có bóng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 01/2023 đến tháng 01/2024. Đánh giá kết quả lâm sàng dựa trên thang điểm đau VAS, chỉ số chất lượng cuộc sống MacNab. Kết quả chỉnh hình được đánh giá qua các chỉ số X-quang gồm chiều cao thân đốt sống và các góc gù (góc xẹp thân đốt, góc Cobb) trước phẫu thuật và tại các thời điểm theo dõi sau phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 68 ± 10,2, trong đó nữ giới chiếm đa số (75,3%). Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương nặng với T-score trung bình là -3,4 ± 0,7. Điểm đau VAS trung bình cải thiện đáng kể từ 7,1 ± 1,6 trước mổ xuống còn 2,2 ± 1,2 ngay sau mổ và 0,4 ± 0,8 tại thời điểm 12 tháng (p<0,001). Về kết quả chỉnh hình, chiều cao các tường trước, giữa và sau của thân đốt sống đều được cải thiện có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Các góc biến dạng cột sống cũng giảm đáng kể: góc xẹp thân đốt trung bình giảm từ 14° xuống 7,8°, góc Cobb trung bình giảm từ 13,7° xuống 9,5°. Sau 12 tháng, 96,3% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm MacNab. Tỷ lệ biến chứng thấp, với các trường hợp rò xi măng không triệu chứng (11,1% rò bờ trước, 6,2% rò vào đĩa đệm) và 3 trường hợp (3,7%) xẹp đốt sống mới thứ phát. Kết luận: Bơm xi măng sinh học có bóng là một phương pháp can thiệp tối thiểu, an toàn và hiệu quả cao trong điều trị xẹp đốt sống vùng bản lề ngực – thắt lưng do loãng xương. Phương pháp này không chỉ giúp giảm đau nhanh chóng, bền vững mà còn có khả năng phục hồi tốt hình thái giải phẫu của cột sống, qua đó cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

28 Khảo sát tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn và yếu tố nguy cơ bệnh thận mạn ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú / Huỳnh Quang Minh Trí, Nguyễn Thị Thu Thảo, Trang Thuỷ Tiên, Nguyễn Thị Ngọc Điệp // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 363 - 366 .- 610

Bệnh ĐTĐ làm tăng nguy cơ bệnh thận giai đoạn cuối gấp 10 – 20 lần dân số chung. Đo độ lọc cầu thận ước tính giúp phát hiện bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ. Phát hiện sớm bệnh thận mạn ở giai đoạn sớm và tích cực điều trị sẽ làm chậm diễn tiến của bệnh. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang ở 248 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 điều trị ngoại trú. Ghi nhận các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chế độ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh thận mạn. Kết quả: Có 248 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tuổi trung bình là 63.43 năm, thời gian mắc bệnh ĐTĐ trung bình là 8.98 năm, HbA1c trung bình là 7.73%. Tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn là 15.32%. So với nhóm bệnh nhân không mắc bệnh thận mạn, nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn có tuổi lớn hơn (p<0.05). Kết luận: Tỉ lệ mắc bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi là 15.32% và tuổi là yếu tố nguy cơ mắc bệnh thận mạn.

29 Đặc điểm viêm phổi do streptococcus pneumoniae ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi điều trị tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2023 / Phạm Văn Hưng, Ngô Thị Minh, Nguyễn Thị Hằng, Vũ Thị Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 358 - 362 .- 610

Mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị viêm phổi do Streptococcus pneumonia ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi điều trị tại khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2023. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. Kết quả: Nghiên cứu được thực hiện từ 01/04/ 2023 – 30/09/2023 chúng tôi thu thập được 67 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 19,3 ± 9,8 tháng, nam nhiều hơn nữ. Viêm phổi nặng chiếm tỷ lệ 47,8%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là ho 97,1%, sốt 83,6%, viêm long hô hấp 64,2%, thở nhanh 80,6%, rút lõm lồng ngực 70,1%, ran ẩm nhỏ hạt chiếm 98,5%. Bệnh kèm theo là tiêu chảy 13,4%, viêm tai giữa 19,4%, Tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng tràn dịch màng phổi 3,0%, nhiễm trùng máu 6,0%. Bạch cầu tăng > 12 G/l chiếm 55,2 %, bạch cầu đa nhân trung tính tăng chiếm 45%. Tổn thương trên x quang nốt mờ rải rác nhu mô phổi là 55,2%, mờ tập trung 2 rốn phổi là 37,3%, mờ thuỳ phổi là 7,5%. S. pneumoniae có tỷ lệ kháng cao với trimethoprim-sulfamethoxazole (80,6%) và erythromycin 97%, nhạy tương đối cao với cefotaxim 56,1% và amoxicillin 75%, còn nhạy cảm cao với vancomycin 94%, levofloxacin 97% và moxifloxacin 98,5%. Kết quả điều trị khỏi chiếm tỷ lệ cao 98,5%. Ngày điều trị trung bình là 7,8 ± 3,6 ngày. Kết luận: Cần dựa vào đặc điểm lâm sàng để phát hiện sớm các trường hợp viêm phổi do S. pneumoniae. Có thể lựa chọn kháng sinh amoxicillin uống, cefotaxim tiêm để điều trị viêm phổi do S. pneumoniae ở trẻ em.

30 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân viêm mô bào hàm mặt điều trị nội trú tại Bệnh viện Nguyễn Trãi thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Diễm, Phùng Minh Thịnh, Nguyễn Minh Tiến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 353 - 358 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và khảo sát mối liên quan với mức độ nặng trên bệnh nhân viêm mô bào hàm mặt điều trị nội trú tại bệnh viện Nguyễn Trãi Tp.HCM. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên bệnh nhân từ 18 tuổi đến khám và điều trị viêm mô bào hàm mặt tại bệnh viện Nguyễn Trãi Tp. HCM từ 03/2024 đến 9/2024. Dựa trên phân loại mức độ nhiễm trùng căn cứ vào các yếu tố tuổi, giới, dấu hiệu lâm sàng, nguyên nhân, diễn tiến, cách thức điều trị và diễn tiến lành thương trong quá trình theo dõi. Tiêu chí mức độ nghiêm trọng sử dụng trong nghiên cứu này là cấu trúc giải phẫu, chứng khó nuốt, khó nói, khó thở, sốt, nhiễm trùng huyết và hoại tử mô. Phân tích dữ liệu bằng phép kiểm Chi bình phương, kiểm định chính xác Fisher và kiểm định T-test, với p<0,05 với KTC 95%. Kết quả: Mẫu nghiên cứu gồm 46 bệnh nhân viêm mô bào hàm mặt (47,8% nữ) có tuổi trung bình 57,5±16,4. Ghi nhận 52,2% mức độ nhẹ; 30,4% vừa; 10,8% nặng và 6,6% rất nặng. Triệu chứng sưng đau chiếm tỉ lệ cao lần lượt là 95,7% và 93,5%. Nguyên nhân do tủy răng hoại tử và viêm nha chu chiếm 32,6%. Bệnh nhân nhóm nặng và rất nặng có triệu chứng khó nuốt và lạm dụng đồng thời rượu, thuốc lá, ngày dùng kháng sinh và thời gian nằm viện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm nhẹ -trung bình, (p<0,05). Kết luận: Viêm mô bào hàm mặt là tình trạng cấp cứu có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh. Xử trí thành công tình trạng này khi và chỉ khi bệnh được chẩn đoán kịp thời, loại bỏ nguyên nhân và dẫn lưu hiệu quả cũng như định danh được vi khuẩn gây bệnh nhằm sử dụng kháng sinh phù hợp nhất.