CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
21 Giá trị của chỉ số tiên lượng giảm nhẹ trong dự đoán thời gian sống thêm bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An / Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Công, Tô Thị Linh, Vi Anh Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 638 - 648 .- 610

Mô tả một số đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An và đánh giá giá trị của chỉ số tiên lượng giảm nhẹ (PPI) trong dự đoán thời gian sống thêm ở nhóm đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi tiến cứu trên 136 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2024 tại Khoa Điều trị Giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Công cụ sử dụng là chỉ số tiên lượng giảm nhẹ PPI. Kết quả: Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 63,7 (25 - 95), tỉ lệ nam/nữ: 3,12/1. Ung thư phổi chiếm tỉ lệ cao nhất 30,1%. Phần lớn bệnh nhân mắc ung thư giai đoạn 4 (79,4%). 77,9% bệnh nhân đã tử vong. Trung vị thời gian sống thêm ở nhóm PPI ≤ 4 là 92 ngày, nhóm 4 < PPI ≤ 6 là 50 ngày và nhóm PPI > 6 là 21 ngày. 55,8% và 86,5% bệnh nhân có chỉ số PPI > 6 tử vong trong 3 tuần và 6 tuần. Tương ứng ở nhóm PPI ≤ 4 là 24,1% và 37,9%. PPI > 6 tiên lượng thời gian sống thêm dưới 3 tuần với giá trị tiên lượng dương tính (PPV) là 69% và giá trị tiên lượng âm tính (NPV) là 64% với độ nhạy 56%, độ đặc hiệu 76%. PPI > 4 tiên lượng khả năng sống sót dưới 6 tuần với PPV là 74% và NPV là 62% với độ nhạy 84%, độ đặc hiệu 53%. PPI < 5,5 dự đoán tốt nhất về khả năng sống sót sau 6 tuần với độ nhạy 75,0% và độ đặc hiệu 76,3% với AUC = 0,759. PPI ≥ 6,25 dự đoán tốt nhất về khả năng tử vong trong 3 tuần với độ nhạy 69,0% và độ đặc hiệu 64,1% với AUC = 0,667. Kết luận: Chỉ số tiên lượng giảm nhẹ (PPI) có giá trị trong việc dự đoán thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư được điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần và có thể được sử dụng để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc tư vấn chăm sóc giảm nhẹ.

22 Khẩu phần ăn và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng tại Bệnh viện Ung Bướu TP. Cần Thơ / Phạm Thị Thanh Hoa, Lê Thị Hương, Đỗ Nam Khánh, Võ Văn Kha, Mai Văn Nhã, Đặng Chí Nguyên, Chiêm Ngọc Bính // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 624 -6 30 .- 610

Bệnh nhân ung thư cần cung cấp đủ dinh dưỡng để tham gia quá trình điều trị. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng cũng như khẩu phần ăn của người bệnh ung thư vòm mũi họng đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Cần Thơ năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được tiến hành trên 50 người bệnh ung thư vòm mũi họng. Kết quả có 48% người bệnh ung thư vòm mũi họng có nguy cơ suy dinh dưỡng theo PG-SGA và 22% theo BMI, năng lượng trung bình trong khẩu phần ăn hằng ngày là 1246,3 ± 452,7 kcal/ngày. Nghiên cứu tìm thấy khác biệt trung bình giữa ở những người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng theo PG-SGA với năng lượng và hàm lượng glucid trung bình trong khẩu phần ăn hằng ngày. Kết luận: Bệnh nhân ung thư vòm mũi họng có tỷ lệ suy dinh dưỡng đang ở mức cao, năng lượng khẩu phần ăn hằng ngày còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu, có sự khác biệt về năng lượng là hàm lượng glucid trung bình ở các phân nhóm suy dinh dưỡng theo PG-SGA. Vì vậy, cần phải can thiệp dinh dưỡng sớm để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh có thể hoàn thành liệu trình điều trị không bị trì hoãn kéo dài thời gian nằm viện.

23 Kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh ung thư / Đào Hoàng Thanh Lan, Đặng Trần Ngọc Thanh, Phạm Minh Thanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 617 - 623 .- 610

Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng trong chăm sóc của điều dưỡng Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 194 Điều dưỡng viên đang công tác tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/2022 đến 5/2022. Sử dụng bộ câu hỏi để thu thập số liệu. Thống kê mô tả và thông kê phân tích: T -test, ANOVA, Pearson, Spearman. Kết quả: Điểm kiến thức của điều dưỡng về THDVBC là 5,12 (± 0,95), kế đến là THDVBC (4,90 ± 0,99) và thái độ (4,80 ± 0,95). Có mối tương quan giữa THDVBC với văn bằng chuyên môn cao nhất (rho = 0,14, p = 0,03) và kiến thức (r = 0,64, p < 0,05) và thái độ (r = 0,43, p < 0,05). Không có sự khác biệt giữa THDVBC với tuổi, giới tính, kinh nghiệm trong công việc, tình trạng hôn nhân (p > 0,05). Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng của Điều dưỡng tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh ở mức tích cực. Các nhà quản lý bệnh viện nên tạo môi trường hỗ trợ và hướng dẫn một cách có hệ thống các chiến lược thực hành cho các điều dưỡng, bằng cách mở các khoa tập huấn cho điều dưỡng về THDVBC và đánh giá lại khóa tập huấn.

24 Đánh giá hiệu quả dự phòng viêm tĩnh mạch ngoại vi do hóa trị ở bệnh nhân ung thư bằng phương pháp dùng miếng gel lạnh / Nguyễn Hữu Thiện, Vũ Huy Bôn, Trần Thị Nhật Lệ, Hồ Thị Thanh Dung, Nghiêm Thị Minh Châu, Phạm Khánh Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 610 - 616 .- 610

Viêm tĩnh mạch do hóa trị (CIP) là một tác dụng không mong muốn của hóa trị. Dự phòng nhằm giảm viêm tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư sau hóa trị là rất quan trọng. Mục đích: Đánh giá tác dụng của việc dùng miếng gel lạnh dự phòng CIP do hóa trị ở bệnh nhân ung thư. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 60 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm có và không dùng gel lạnh trong khi truyền hóa chất. Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ viêm tĩnh mạch do hóa trị (p < 0,01). Kết luận: Sử dụng miếng gel lạnh có tác dụng phòng ngừa viêm tĩnh mạch do hóa trị.

25 Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 – 2021 / Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Đức Khoa, Nguyễn Thị Lụa, Nguyễn Văn Khải, Phạm Minh Khuê // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 603-609 .- 610

Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 - 2021. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp hỗ trợ tâm lý trên 350 bệnh nhân nữ ung thư sinh dục tham gia nghiên cứu ít nhất 06 tháng từ 3/2021 - 12/2021, sử dụng thang đo EORTCQLQ30 để đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp. Kết quả: Điểm trung bình CLCS tăng từ 60,8 ± 18,4 trước can thiệp lên 72,7 ± 16,5 sau can thiệp (p < 0,05); chỉ số chức năng “Hoạt động” (trước can thiệp: 69 ± 26,3; sau can thiệp: 81 ± 21), và chỉ số “Triệu chứng” (trước can thiệp: 23,4 ± 21; sau can thiệp: 18,2 ± 17,7) được cải thiện rõ ràng nhất. Giai đoạn bệnh và chẩn đoán bệnh có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kết luận: Hiệu quả của can thiệp hỗ trợ tâm lý cải thiện CLCS trên bệnh nhân ung thư sinh dục là cơ sở để triển khai các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và tâm lý cho bệnh nhân.

26 Nhu cầu và khả năng tự chăm sóc hậu môn nhân tạo ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng Bệnh viện Trung ương Huế  / Hà Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khoa Anh Chi, Nguyễn Thị Cẩm Tuyền, Nguyễn Thị Kim Lài, Nguyễn Thị Ngọc Trinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 595 - 602 .- 610

Khảo sát các nhu cầu chăm sóc và khả năng tự chăm sóc hậu môn nhân tạo ở người bệnh ung thư đại trực tràng. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 84 người bệnh ung thư đại trực tràng có hậu môn nhân tạo. Kết quả: Nhu cầu chăm sóc của NB cao với 82,1%, trong đó cao nhất là chăm sóc thể chất 95,2%, tiếp theo là cung cấp thông tin 80,9% và chăm sóc tâm lý là 71,4%. Khả năng tự chăm sóc của người bệnh đạt mức trung bình, với tỷ lệ 52,4%. Người bệnh có trình độ học vấn dưới cấp 2 có nhu cầu chăm sóc cao hơn so với nhóm còn lại (p < 0.05). Kết luận: Các nhu cầu của người bệnh ung thư rất cao và khả năng tự chăm sóc hậu môn nhân tạo chưa đạt ở mức cao do đó cần chú trọng đáp ứng các nhu cầu cho người bệnh và tăng cường giáo dục, hướng dẫn về cách tự chăm sóc và quản lý hậu môn nhân tạo cho người bệnh.

27 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua ngã tiền đình miệng / Trần Minh Tuấn, Hà Hiếu Trung // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 590 - 594 .- 610

Nghiên cứu này nhằm đánh giá biến chứng phẫu thuật, kết quả thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tuyến giáp được phẫu thuật nội soi qua ngã tiền đình miệng (TOETVA). Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu 50 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa được phẫu thuật cắt thùy giáp tháng 10/2023 đến tháng 9/2024 tại Khoa Điều trị tổng hợp, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bảng câu hỏi SF-36 tại thời điểm 1, 2 và 3 tháng sau mổ. Kết quả: Tất cả đều là bệnh nhân nữ với độ tuổi trung bình là 29,7 ± 8,5. Chỉ có 3 bệnh nhân (6%) bị khàn tiếng và 1 bệnh nhân (2%) tê bì cằm môi dưới tạm thời. Mức độ thẩm mỹ và hài lòng của bệnh nhân tại thời điểm 1 tháng lần lượt là 4,7 và 4,8/5 điểm. Các lĩnh vực về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đều cải thiện đáng kể qua thời gian. Sức khỏe tinh thần là yếu tố bị ảnh hưởng nhiều nhất. Kết luận: Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường miệng rất ít biến chứng, thẩm mỹ cao và chất lượng cuộc sống tốt. Đây là một lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân cắt thùy giáp, đặc biệt là phụ nữ trẻ.

28 Xạ trị ngoài ung thư vú trái phối hợp hít sâu nín thở sử dụng hệ thống quang học theo dõi bề mặt / Nguyễn Công Mỹ Hà, Võ Hoàng Thuận, Nguyễn Thái Hưởng, Trần Thị Xuân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 549 - 558 .- 610

Xạ trị phối hợp hít sâu nín thở (DIBH) đã được chứng minh giúp giảm liều xạ lên tim hiệu quả mà vẫn đảm bảo liều vào thể tích đích, từ đó giảm được tác dụng phụ tim mạch đối với bệnh nhân ung thư vú trái. Hệ thống quang học theo dõi bề mặt (OSMS) cho phép thực hiện xạ trị DIBH với nhiều ưu điểm và độ chính xác cao. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của xạ trị DIBH bằng hệ thống OSMS về liều trên các thể tích đích và tim; đánh giá thời gian xạ trị và sai số đặt bệnh xạ trị DIBH bằng hệ thống OSMS. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu thực hiện từ tháng 11/2023 - 8/2024. Mười tám bệnh nhân ung thư vú trái xạ trị DIBH sử dụng phần mềm AlignRT phiên bản 5.1 trên máy TrueBeam tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Tất cả bệnh nhân được xạ trị bổ túc với liều xạ 42,56Gy/16 phân liều, có hoặc không xạ tăng cường nền bướu 10Gy/4 lần, bằng kĩ thuật 3D tiêu chuẩn (3D-CRT). Kết quả nghiên cứu: Kế hoạch xạ trị phối hợp DIBH đạt liều vào thể tích đích thành ngực/ tuyến vú và hạch vùng với V95% lần lượt là 95,2% và 98,0%; liều trung bình trên tim là 2,4Gy và liều trung bình động mạch gian thất trước (LAD) là 16,8Gy. Trung vị thời gian xạ trị DIBH bằng hệ thống OSMS là 6,0 phút (2,1 - 19,5 phút). Trung vị sai số đặt bệnh xạ trị DIBH bằng OSMS là 1 - 2mm cho các chiều thẳng; 0,6 - 0,8o cho các chiều xoay. Kết luận: Xạ trị phối hợp hít sâu nín thở (DIBH) có sự hỗ trợ của OSMS trên ung thư vú trái giúp giảm liều tim; đặt bệnh xạ trị nhanh và chính xác; giảm thời gian xạ trị.

29 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh basedow bằng iod phóng xạ (I-131) / Phan Tuấn Anh, Nguyễn Lê Thanh Hải, Hà Quốc Long // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 542 - 548 .- 610

I-131 là một trong ba phương pháp điều trị hiệu quả bệnh Basedow (nội khoa, phẫu thuật, I- 131). Để đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Basedow bằng I-131, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 39 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Basedow từ tháng 01/2022 đến tháng 8/2024 tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng với hai mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Basedow bằng I-131 và xác định một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị. Kết quả: Liều điều trị I-131 trung bình là 9,08 ± 1,55mCi. Hiệu quả điều trị đạt được ở 29/39 bệnh nhân (74,4%) với 18 bệnh nhân suy giáp (46,2%) và 11 bệnh nhân bình giáp (28,2%), có 10/39 bệnh nhân (25,6%) vẫn còn cường giáp. Các yếu tố có liên quan tới kết quả điều trị bao gồm thể tích tuyến giáp và liều điều trị I-131. Kết luận: Hiệu quả điều trị bệnh Basedow cao nhất khi dùng liều 10mCi (370mBq) có ý nghĩa về mặt thống kê. Nghiên cứu cho thấy với những trường hợp thể tích tuyến giáp trên 30ml mang lại hiệu quả kém hơn, trong khi tuổi bệnh nhân không có mối liên quan tới hiệu quả điều trị.

30 Khảo sát các yếu tố nguy cơ hạ natri máu trong thời gian xạ trị bệnh nhân ung thư đầu cổ tại khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt / Nguyễn Châu Hiệu, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Thị Vân Khanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 528 - 541 .- 610

rị triệt để hoặc hóa xạ trị đồng thời với Cisplatin. - Đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng hạ natri máu trong điều trị BN ung thư đầu cổ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng: Bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ được chỉ định xạ triệt để hoặc hóa xạ đồng thời triệt để, đang điều trị tại Khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt, Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh (Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM). Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2024 đến hết 01/09/2024. Địa điểm: Khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu. Kết quả: Nghiên cứu đã thu nhận 229 bệnh nhân mắc các loại ung thư vùng đầu và cổ, với độ tuổi trung bình 56. Trong đó, 76% là nam và 24% là nữ. Tỷ lệ bệnh nhân bị hạ natri máu trong quá trình điều trị tăng dần từ tuần 1 (3,5%) đến tuần 7 (33,2%). Hạ natri máu ở mức độ nhẹ chiếm phần lớn, trong khi hạ natri máu độ 3 (nặng) chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng có liên quan đến các triệu chứng nghiêm trọng về thần kinh như co giật và yếu cơ. Các yếu tố như ung thư vòm hầu, hạ hầu, thanh quản và việc sử dụng Cisplatin có liên quan chặt chẽ đến tình trạng hạ natri máu. Ung thư khẩu hầu, hốc miệng, vòm hầu và hạ hầu - thanh quản có tỷ lệ hạ natri máu lần lượt là 27%, 21%, 18% và 11.7%. Có 44,2% bệnh nhân phải nhập viện do hạ natri máu, trong đó hạ natri máu độ 1, độ 2, độ 3 có tỷ lệ lần lượt là:9,1%; 2,2%; 5,2%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hạ natri máu ở bệnh nhân điều trị ung thư đầu cổ là đáng kể, đặc biệt là ở những tuần điều trị sau và ở các bệnh nhân điều trị bằng Cisplatin. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi nồng độ natri trong suốt quá trình điều trị để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời sẽ giúp giảm thiểu các biến chứng liên quan và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.