CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
291 Xác định đột biến gen C-Kit D816V bằng phương pháp real-time PCR trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy tại bệnh viện Bạch Mai / Nguyễn Thị Cúc Nhung, Vũ Hoàng, Vũ Minh Phương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 390 - 398 .- 610
Đột biến gen c-Kit D816V là đột biến trên gen c-Kit tại vị trí codon 816, thay thế acid amin aspatart thành valin, từ đó làm thay đổi sự dẫn truyền tín hiệu. Đột biến này được nhiều nghiên cứu cho thấy như loại đột biến thứ phát trên bệnh lơ xê mi cấp dòng tủy và có ý nghĩa tiên lượng xấu cho nhóm bệnh nhân này. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu là nhận xét đặc điểm đột biến gen C-kit D816V bằng phương pháp real-time PCR và mô tả một số ca bệnh có đột biến gen C-kit D816V. Nghiên cứu được thiết kế là nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc trên 75 bệnh nhân được chẩn đoán lơ xê mi cấp dòng tủy được chẩn đoán lần đầu tại Bệnh viện Bạch Mai. Từ những kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận xét một số đặc điểm của đột biến gen C-Kit D816V được phát hiện bằng phương pháp Real-time PCR, sử dụng bộ kit geneMAP c-Kit D816V Mutation Detection Kit (Genmark, Thổ Nhĩ Kỳ) trên thiết bị Biorad CFX96 (Biorad, Mỹ). Tỷ lệ đột biến c-Kit D816V ở 75 bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy, tại Bệnh viện Bạch Mai là 2,7%. Theo dõi dọc hai trường hợp có đột biến c-Kit D816V đều có kết cục xấu. Trường hợp bệnh nhân trẻ tuổi, thể trạng tốt thì có thời gian tái phát sớm. Bệnh nhân này có thời gian sống toàn bộ là 09 tháng, thời gian sống không bệnh là 02 tháng. Trường hợp bệnh nhân lớn tuổi có thời gian sống thêm rất ngắn. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu về nhận xét tiên lượng của đột biến c-Kit D816V trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy. Những kết quả bước đầu này gợi ý cần thực hiện nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để tìm hiểu về đột biến c-Kit D816V trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy.
292 Cancer immunotherapy : immune-checkpoint blockades = Liệu pháp miễn dịch trong chữa trị ung thư : phong tỏa kiểm soát miễn dịch / Nguyen Tiep Dan, Nguyen Thi Ha, Pham Thi Thuy Linh, Ho Viet Hieu, Le Thanh Do // .- 2022 .- Số 01(50) .- P. 96-105 .- 610
Resumed the way T-cells are regulated between active and inactive states. The discovery of two receptors for the transduction of inhibitory signals, the cytotoxic T-cell receptor and the programmed cell death receptor, is presented in the second part. Disrupting the backward process of Tcells by blocking these receptors triggers the actions of T-cells against cancer cells and brings hope for cancer patients. In the third section, we discussed the developments of three groups of antibodies for anti-cancer purposes and their potentials in cancer treatments.
293 Roles of 26S proteasome in development and stress responses = Vai trò của 26S proteasome trong quá trình phát triển và đáp ứng stress / Nguyen Minh Hung // .- 2021 .- Số 02(45) .- P. 23-28 .- 570
Recent studies showed that altered expression of some transcription factors resulted in abnormal gene expression of subunits of the 26S proteasome.
294 Hydroxyapatite trong ứng dụng in khung 3D tái tạo xương : tiềm năng và thách thức / Lê Văn Thuận, Nguyễn Thanh Hoàng Ngân Huệ, Nguyễn Thị Hạnh Nhi, Nguyễn Thị Thanh Thư // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2025 .- Số 2(69) .- Tr. 28-35 .- 610
Xem xét các tiến bộ trong việc ứng dụng HA trong công nghệ in 3D để chế tạo khung tái tạo xương. Các ưu điểm, thách thức, và triển vọng tương lai của loại vật liệu này, cũng như những vấn đề cần giải quyết để hiện thực hóa tiềm năng của HA trong lĩnh vực tái tạo xương.
295 Một số hoạt tính sinh học quan trọng của peptaibol từ Trichoderma / Nguyễn Huy Thuần, Nguyễn Duy Khương, Trần Thanh Việt // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2025 .- Số 02(69) .- Tr. 93-101 .- 570
Với hàm lượng amino acid hiếm gặp (không có bản chất protein) tương đối cao như αaminoisobutyrate (Aib) và isovaline (Iva) trong cấu trúc khung cơ bản, peptaibol thể hiện hoạt tính sinh học đa dạng như kháng khuẩn, kháng nấm, gây độc tế bào, kích thích sinh trưởng thực vật và an thần kinh. Cho tới nay, nhiều loại peptaibol đã được thương mại hóa trên thị trường trong vai trò thuốc trừ sâu sinh học nên đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà sinh hóa và dược lý học. Bài viết này tổng quan một số hoạt tính sinh học quan trọng của peptaibol từ nấm Trichoderma.
296 Khảo sát lực mô-men xoắn trước và sau tải lực trong phục hình all-on-four hàm dưới / Tạ Nguyễn Xuân Quỳnh, Đoàn Minh Trí // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 376 - 379 .- 610
Đánh giá tỷ lệ mất lực mô-men xoắn của vít phục hình trên Multi-unit abutment (MUA) với các góc nghiêng khác nhau (0°, 17°, 30°) trước và sau khi tải lực trong phục hình All-on-Four hàm dưới. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu in vitro trên 3 mẫu hàm acrylic toàn hàm hàm dưới không răng (mật độ xương D2–D3). Mỗi mẫu gồm 4 implant Osstem TSIII, trong đó 2 implant vùng răng trước dùng MUA 0°, 2 implant vùng răng sau sử dụng MUA có góc nghiêng 0°, 17° hoặc 30° theo từng nhóm. Phục hình toàn hàm được thiết kế bằng phần mềm Exocad, chế tác từ nhựa PMMA bằng CAD/CAM và cố định với lực siết 20 Ncm trên MUA. Lực mô-men xoắn tháo vít được đo trước và sau tải lực mô phỏng. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm JASP 0.17.2.1. Kết quả: Sau khi tải lực, lực mô-men xoắn giảm rõ rệt ở cả ba nhóm. Tỷ lệ mất mô-men xoắn sau tải lực (%Rp) tăng theo góc nghiêng MUA, lần lượt là 6.19% (0°), 9.68% (17°), và 16.1% (30°). Phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm 0° và 30° (p = 0.001), trong khi nhóm 0° và 17° cũng như 17° và 30° không khác biệt đáng kể (p > 0.05). Tỷ lệ mất mô-men xoắn trung bình (%R’) cũng tăng theo độ nghiêng abutment, với sự khác biệt đáng kể giữa nhóm 0° và 30° (p = 0.001). Kết luận: Góc nghiêng MUA ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mất lực mô-men xoắn sau khi tải lực. MUA nghiêng 30° làm tăng nguy cơ lỏng vít phục hình trong phục hình All-on-four hàm dưới.
297 Tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và các yếu tố liên quan / Nguyễn Thị Ngân Hà, Nguyễn Đức Toàn, Phạm Thị Thanh Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 71 - 78 .- 610
Khảo sát các đặc điểm hỗ trợ dinh dưỡng và xác định kết cục cũng như các yếu tố liên quan đến tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Nghiên cứu cắt ngang từ 2/2024 đến 9/2024 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Có 61 trẻ sơ sinh thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian thực hiện nghiên cứu. Khi xuất khoa, số trẻ chậm tăng trưởng ngoài tử cung chiếm tỉ lệ cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Trong khi ở thời điểm lúc sinh, nhóm nhẹ cân so với tuổi thai chỉ chiếm 16 ca (26,2%). Trong số 61 ca, có 6 bệnh nhân (9,8%) tử vong. Kết luận: Tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung khi xuất khoa của trẻ sơ sinh được hồi sức hậu phẫu đường tiêu hóa còn rất cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Từ đó thấy rằng dinh dưỡng ở nhóm đối tượng này cần được quan tâm sâu sắc. Cần có chiến lược điều trị và đánh giá dinh dưỡng thích hợp để giảm tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung. Ngoài ra, cần xác định các yếu tố nguy cơ để phát triển các chiến lược điều trị cũng như tiên lượng cho nhóm đối tượng này.
298 Thất bại với thông khí không xâm lấn sau rút nội khí quản ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và các yếu tố liên quan / Hà Hiếu Nghĩa, Nguyễn Đức Toàn, Phạm Thị Thanh Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 63 - 70 .- 610
Xác định các yếu tố liên quan đến sự thất bại của các phương pháp thông khí không xâm lấn sau rút nội khí quản. Kết quả: Có 87 trường hợp trẻ sơ sinh non tháng được thở NIV sau rút nội khí quản tại Khoa Hồi sức Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1 có trung vị tuổi thai là 28,7 tuần và trung vị cân nặng lúc sinh là 1300g. Nhóm thở NCPAP chiếm tỷ lệ 23%, NIPPV là 69% và NHFOV là 8%. Tỷ lệ thất bại NIV sau rút nội khí quản chung của 3 phương pháp là 13,8%. Khi phân tích thành nhóm nhỏ dựa trên tuổi thai và bệnh lý, ở nhóm < 26 tuần tuổi thì NHFOV có tỷ lệ thành công cao hơn khi so với NIPPV và nhóm trên 32 tuần tuổi thì NIPPV có tỷ lệ thành công cao hơn NCPAP. Trong nhóm nhiễm trùng huyết và còn ống động mạch, NHFOV có tỷ lệ thành công cao nhất. Riêng với các trường hợp còn ống động mạch, thở NCPAP có tỷ lệ thất bại gần 50%. NIPPV và NHFOV là 2 phương pháp được lựa chọn cho nhóm bệnh phổi mạn. Loét vách ngăn mũi khi được hỗ trợ hô hấp với NIV là biến chứng duy nhất được ghi nhận với tỷ lệ là 8,1% và đều là độ II. Đáng chú ý tỷ lệ bệnh phổi mạn ghi nhận là 17,2%, và cao nhất ở nhóm NHFOV với 85,7%. MAP > 8,2 cmH2O là yếu tố thật sự có liên quan đến kết cục thất bại NIV sau rút nội khí quản ở trẻ sơ sinh non tháng với OR là 5,1. Kết luận: Tỷ lệ thất bại NIV sau rút nội khí quản chung của 3 phương pháp là 13,8%. MAP > 8,2 cmH2O là yếu tố thật sự có liên quan đến kết cục thất bại NIV sau rút nội khí quản ở trẻ sơ sinh non tháng với OR là 5,1.
299 Vai trò của người hướng dẫn lâm sàng ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp với bệnh nhi của sinh viên khối Điều dưỡng năm cuối Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh / Đoàn Ngọc Ánh, Nguyễn Xuân Lành, Đỗ Minh Phượng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD .- Tr. 55 - 62 .- 610
Khảo sát kỹ năng giao tiếp (KNGT) với bệnh nhi của sinh viên (SV) khối điều dưỡng (ĐD) và vai trò, sự ảnh hưởng của người hướng dẫn lâm sàng. Kết quả: Nghiên cứu trên 137 SV ĐD đa khoa và 100 SV hộ sinh năm cuối tại Đại học Y Dược TP.HCM (10/2023 - 06/2024). KNGT được đánh giá bằng thang đo của Handan Boztepe (độ tin cậy 0,912). Điểm KNGT của SV ĐD đa khoa là 80,99 (9,27) và SV hộ sinh là 82,14 (10,18). Ở nhóm ĐD đa khoa, kỹ thuật trấn an, sử dụng trò chơi, lời nói tích cực và mô phỏng KNGT có liên quan đến điểm số KNGT (p<0,05). Ở nhóm hộ sinh, yếu tố quan trọng là tần suất mô phỏng KNGT của ĐD tại khoa (p<0,05). Kết luận: Điểm KNGT với bệnh nhi của SV khối ĐD ở mức tốt và sự mô phỏng giao tiếp với bệnh nhi của người hướng dẫn lâm sàng tại khoa có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện kỹ năng này cho SV.
300 Nhân một trường hợp tạo nhịp bó nhánh trái – Cơ hội mới cho trẻ em Việt Nam / Trần Văn Tuân, Đỗ Nguyên Tín, Nguyễn Trí Hào // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2023 .- Số CD .- Tr. 50 - 54 .- 610
Tạo nhịp hệ thống dẫn truyền đang là một xu hướng mới, đầy hứa hẹn cho tất cả các ca đặt máy tạo nhịp hiện nay trên thế giới. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, tại một số bệnh viện lớn tạo nhịp hệ thống dẫn truyền đã được triển khai cho các bệnh nhân. Trẻ em là một đối tượng tiềm năng có rất nhiều lợi ích nếu được tạo nhịp thông qua hệ thống dẫn truyền. Tuy nhiên, đối tượng trẻ em đã bị loại trong dân số nghiên cứu lâm sàng của đặt máy tạo nhịp hệ thống dẫn truyền. Gần đây, có một vài nghiên cứu nước ngoài báo cáo một số trường hợp trẻ nhỏ được đặt máy tạo nhịp hệ thống dẫn truyền (chủ yếu là tạo nhịp bó nhánh trái). Điều này thắp lên hy vọng cho những bệnh nhi có nguy cơ cao suy chức năng thất liên quan đến tạo nhịp vĩnh viễn. Theo đó, Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã tiến hành đặt máy tạo nhịp tại vị trí bó nhánh trái cho bệnh nhi ca đầu tiên. Bài báo mô tả lại tình trạng bệnh và quá trình đặt máy tạo nhịp cũng như phân tích những khó khăn khi tiến hành đặt máy tạo nhịp bó nhánh trái ở trẻ em.





