CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngữ nghĩa học
1 Về cách tiếp nhận quan hệ ngữ nghĩa ở bậc từ / Phạm Văn Lam // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 15-26 .- 400
Ngôn ngữ vốn là một hệ thống. Từ vựng - ngữ nghĩa cũng là một hệ thống. Hệ thống được đặc trưng bởi hay được cấu thành nên từ các phần tử và quan hệ. Nội dung của bài viết tập trung vào: (1) cách tiếp cận ngoài ngôn ngữ học, (2) cách tiếp cận liên ngành với ngôn ngữ học, và (3) cách tiếp cận ngôn ngữ học.
2 Sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng / Hoàng Phan Thanh Nga // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 94-102 .- 495.7
Sự hình thành của các ý niệm này không phải là ngẫu nhiên và rập khuôn theo một nguyên tắc ngôn ngữ học nào đó mà nó đến từ sự trải nghiệm trong dòng chảy biến đổi của thời gian, tập quán xã hội và các yếu tố văn hóa dẫn đến sự tri nhận của người nói ngôn ngữ đó về các hiện tượng của cuộc sống. Trong bài viết này, tác giả phân tích sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng (idealized cognitive models - ICMs), từ đó xác lập nên cơ sở để lí giải một số hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn.
3 Hệ thống nhãn ngữ nghĩa thuật ngữ thân tộc tiếng Việt / Phan Thị Mỹ Trang, Đặng Ngọc Lệ, Đinh Điền, Trần Thị Minh Phượng // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 3-11 .- 400
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm mô tả, phân loại và hệ thống các từ ngữ thân tộc tiếng Việt dựa trên cấu trúc phân cấp ý niệm và các mối quan hệ ngữ nghĩa như đồng nghĩa, đa nghĩa, thượng danh và hạ danh. Kết quả nghiên cứu mở ra tiềm năng ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, xử lí ngữ nghĩa tự động và nghiên cứu ngữ nghĩa học so sánh.
4 Phân tích kết cấu ngữ nghĩa của phương vị từ 上 trong tiếng Trung Quốc / Lưu Hớn Vũ // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 77-87 .- 495.1
Trên cơ sở nguồn ngữ liệu có quy mô khoảng 460.000 chữ, bài viết sử dụng phương pháp định lượng, thống kê, phân tích kết cấu ngữ nghĩa của phương vị từ 上 trong tiếng Trung Quốc. Kết quả cho thấy, phương vị từ 上 thường sử dụng với nghĩa không gian, ít sử dụng với nghĩa phi không gian. Trong nghĩa không gian, phương vị từ 上 thường sử dụng với vật mốc là loại không gian mặt. Trong nghĩa phi không gian, phương vị từ 上 thường sử dụng để ẩn dụ về phương diện góc độ.
5 Đối chiếu ngữ nghĩa của một số thành ngữ so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt, ứng dụng trong dạy - học ngoại ngữ / Nguyễn Thanh Bình, Phạm Khánh Linh // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 66-76 .- 420
Trình bày nghiên cứu về nét tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa của một số thành ngữ so sánh tiếng Anh và tiếng Việt thông qua phương pháp liệt kê, so sánh đối chiếu và tổng hợp các dữ liệu. Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về các thành ngữ này, người học ngoại ngữ phần nào nắm được một số đặc điểm khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai nước Anh - Việt, để hỗ trợ việc học tiếng Anh và vận dụng đúng các thành ngữ này trong giao tiếp.
6 Ngữ nghĩa của chữ 善 thiện / Phạm Ngọc Hàm, Phạm Thị Thanh Vân // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 120-124 .- 495.1
Chữ Hán là một loại văn tự biểu ý có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, còn được sử dụng rộng rãi đến ngày nay. Phân tích mối quan hệ giữa ba yếu tố hình, âm, nghĩa, nhất là hình và nghĩa có thể thấy đặc điểm tri nhận của người Trung Quốc về vạn vật trong thế giới khách quan. Mỗi chữ Hán nhìn chung ngoài nghĩa gốc còn có một số nghĩa phái sinh, thể hiện khả năng tư duy liên tưởng giữa các sự vật hiện tượng với nhau trong mối quan hệ với đời sống của con người. Chữ 善 thiện là một ví dụ tiêu biểu.
7 Ngữ nghĩa của hư từ cổ trong văn bản văn học và báo chí Nam Bộ cuối thế kỉ XIX / Võ Tú Phương // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 120-124 .- 400
Mục đích của bài viết là chỉ rõ ngữ nghĩa của hư từ cổ trong tiếng Việt thông qua các văn bản văn học và báo chí ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX. Với giả thiết đặt ra, liệu sự giao thoa của văn hóa Việt Nam trong thời kì này có làm biến đổi ngữ nghĩa của hư từ cổ trong tiếng Việt hay không?. Để làm rõ mục đích và giả thiết đặt ra, bài báo có nhiệm vụ làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết, khảo cứu sự xuất hiện của hư từ cổ qua một số công trình của các nhà tư tưởng tiêu biểu, chỉ rõ sự thay thế hư từ cổ trong giai đoạn hiện nay.
8 Đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa tên gọi khách sạn tại Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trần Thị Dạ Thảo // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 14-22 .- 400
Trên cơ sở lí thuyết cấu tạo và ngữ nghĩa, bài viết nghiên cứu đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa tên gọi khách sạn tại thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra mô hình cấu tạo và chỉ ra các từ ngữ thể hiện thành tố, vị trí của các thành tố trong mô hình. Kết quả nghiên cứu góp phần thể hiện giá trị ngôn ngữ và văn hóa qua tên gọi địa danh, góp phần phát triển kinh doanh khách sạn trong ngành du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
9 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ phương ngữ Nam Bộ khi thâm nhập vào tiếng Việt toàn dân / Đàm Thị Thúy, Lê Thanh Hương, Lê Thị Lâm, Dương Thị Dung // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 137-141 .- 400
Trong quá trình giao lưu văn hóa – xã hội, đặc biệt dưới tác động của truyền thông đại chúng và mạng xã hội, một số lượng đáng kể từ ngữ phương ngữ Nam Bộ đã thâm nhập vào tiếng Việt toàn dân. Bài báo này khảo sát hiện tượng trên dưới góc độ ngữ nghĩa, tập trung vào việc mô tả đặc điểm nghĩa của nhóm từ ngữ Nam bộ khi thâm nhập vào tiếng Việt toàn dân. Kết quả cho thấy ba xu hướng nổi bật: (1) từ ngữ giữ nguyên nghĩa gốc, (2) từ ngữ mở rộng nghĩa/ sắc thái nghĩa, (3) từ ngữ thu hẹp nghĩa/sắc thái nghĩa. Qua đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của phương ngữ Nam Bộ trong việc làm giàu vốn từ vựng và sắc thái biểu đạt của tiếng Việt toàn dân.
10 So sánh ngữ nghĩa của kết cấu “V+出” trong tiếng Hán và “V+ ra” trong tiếng Việt / Vũ Phương Hà // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 98-105 .- 400
Bằng các phương pháp và thủ pháp như miêu tả, đối chiếu, phân tích, nghiên cứu này tập trung phân tích đặc trưng ngữ nghĩa của kết cấu “V+出” trong tiếng Hán và đối chiếu với kết cấu “V+ra” trong tiếng Việt, trên cơ sở lí thuyết của ngữ pháp cấu trúc và ngôn ngữ học tri nhận, nhằm làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ.





