CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
2521 Xu hướng tập hợp lực lượng ở khu vực và trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam / PGS. TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Tô Anh Tuấn // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 3 (114) .- Tr. 39-63 .- 327

Xu hướng tập hợp lực lượng trên thế giới đang có những phát triển mới, chuyển sang xoay quanh quan hệ Mỹ - Trung. Các phát triển này có nguồn gốc từ sự thay đổi tương quan sức mạnh giữa các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Liên minh Châu Âu. Điều này dẫn đến ba xu hướng tập hợp lực lượng chính ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là phù thịnh, cân bằng lực lượng và phòng bị nước đôi. Việt Nam cần thực hiện bốn hướng chính sách để vận động phù hợp với các xu hướng tập hợp lực lượng này.

2522 Hợp tác Mê Kông – Lan Thương: Những nhân tố tác động và triển vọng phát triển / TS. Tô Minh Thu // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 3 (114) .- Tr. 64-82 .- 327

Phân tích lợi ích, mục tiêu của các nước khi tham gia Hợp tác Mê Kông – Lam Thương và những xu hướng phát triển lớn có tác động đến hợp tác tiểu vùng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số nhận định về triển vọng phát triển của Hợp tác Mê Kông – Lam Thương trong thời gian tới.

2523 Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Pháp: Nội hàm và nguyên nhân / ThS. Nguyễn Thị Lan Hương // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 03 (114) .- Tr. 83-104 .- 327

Tìm hiểu quá trình hình thành chính sách châu Á và những lý do thúc đẩy một quốc gia cách xa châu Á như Pháp quan tâm trở lại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

2524 Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang định hình / TS. Lê Hải Bình // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 3 (114) .- Tr. 105-126 .- 327

Phân tích vai trò trung tâm của ASEAN trước các biến đổi của cấu trúc khu vực châu Á – Thái Bình Dương và từ đó kiến nghị các biện pháp duy trì vai trò trung tâm của ASEAN.

2525 Chính sách hành động hướng Đông của Ấn Độ: Bối cảnh mới và chiều hướng triển khai / Đặng Cẩm Tú // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 03 (114) .- Tr. 83-104 .- 327

Tìm hiểu quá trình hình thành chính sách châu Á và những lý do thúc đẩy một quốc gia cách xa châu Á như Pháp quan tâm trở lại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

2526 Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang định hình / TS. Lê Hải Bình // Nghiên cứu Quốc tế .- 2019 .- Số 3 (114) .- Tr. 105-126 .- 327

Phân tích vai trò trung tâm của ASEAN trước các biến đổi của cấu trúc khu vực châu Á – Thái Bình Dương và từ đó kiến nghị các biện pháp duy trì vai trò trung tâm của ASEAN.

2527 Chính sách hành động hướng Đông của Ấn Độ: Bối cảnh mới và chiều hướng triển khai / Đặng Cẩm Tú // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 3 (114) .- Tr. 144-162 .- 327

Dự báo chiều hướng Ấn Độ triển khai chính sách Hành động hướng Đông trong những năm tới trên cơ sở làm rõ xu hướng phát triển của Ấn Độ và những diễn biến mới trong bối cảnh khu vực và quốc tế có tác động đến chiến lược đối ngoại của Ấn Độ nói chung, chính sách Hành động hướng Đông nói riêng.

2528 Tình trạng “bất an chiến lược” ở châu Á – Thái Bình Dương: Nguyên nhân và giải pháp / Tô Anh Tuấn // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 3 (114) .- Tr. 163-184 .- 327

Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng “bất an chiến lược”, từ đó khuyến nghị một số biện pháp làm giảm tác động của tình trạng này.

2529 Nhìn lại những tiến triển trong quan hệ của Trung Quốc đối với Cam-pu-chia từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc đến năm 2017 / Đào Đình Kỳ // Nghiên cứu Quốc tế .- 2018 .- Số 03 (114) .- Tr. 185-205 .- 327

Nhìn lại những tiến triển trong quan hệ của Trung Quốc đối với Cam-pu-chia từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đến cuối năm 2017 để thấy rõ bản chất của mối quan hệ này.

2530 Việt Nam trong chiến lược toàn cầu mới của Trung Quốc / Phí Hồng Minh // Nghiên cứu Đông Bắc Á .- 2018 .- Số 10 (212) .- Tr. 3-14 .- 327

Trong chiến lược toàn cầu, những chương trình kết nối phát triển liên khu vực của Trung Quốc đang đưa ra cho thấy dù Việt Nam thuộc cả con đường tơ lụa trên bộ cũng như trên biển, nhưng thực tế Việt Nam lại chỉ có ý nghĩa kết nối hết sức mờ nhạt không chỉ trên toàn Sáng kiến Vành đai và Con đường, mà ngay cả trên khu vực Bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á. Thực tế Bắc kinh luôn có thái độ e ngại, ngờ vực và thiếu thiện chí đối với Việt Nam, với chiến lược song song vừa cân bằng vừa can dự, vừa kiềm chế vừa lôi kéo.