CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Xây Dựng

  • Duyệt theo:
61 Tính toán kết cấu vách kép nhà nhiều tầng có dầm nối đặt cốt thép xiên làm việc sau đàn hồi / Đoàn Xuân Quý, Nguyễn Tiến Chương, Nguyễn Hùng Phong // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2022 .- Số 6 .- Tr. 41 - 45 .- 624

Bài báo nghiên cứu tính toán kết cấu vách kép có dầm nối đặt cốt thép xiên làm việc sau đàn hồi. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để tính toán và thiết kế kết cấu vách kép.

62 Nghiên cứu tiềm năng sử dụng xỉ nhôm làm nguyên liệu thay thế trong sản xuất xi măng alumin / Lưu Thị Hồng, Tạ Văn Luân, Trịnh Thị Châm, Nguyễn Hải Long // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 1 .- Số 4 .- Tr. 31 - 37 .- 620

Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về việc sử dụng xỉ nhôm thay thế một phần nguyên liệu truyền thống (hydroxit nhôm hoặc oxit nhôm) trong chế tạo xi măng alumin AC50. Hàm lượng xỉ nhôm được sử dụng trong phối liệu dao động từ 14 -38%. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Khi hàm lượng xỉ nhôm trong phối liệu tăng, cần nâng nhiệt độ nung để đảm bảo sản phẩm sau nung kết khối. Nhiệt độ nung tối ưu để sản xuất xi măng alumin AC50 sử dụng xỉ nhôm được xác định là 1350oC. Tỷ lệ xỉ nhôm tối ưu trong phối liệu là 24,3%, cho ra sản phẩm xi măng alumin AC50 – 13 có cường độ nén ở tuổi 1 (R1 = 53,63 Mpa ) và 3 ngày (R3 =74,72 Mpa), cao nhất so với các mẫu có sử dụng xỉ nhôm.

63 Mô phỏng kính hiển vi đốt nóng phân tích biến dạng mẫu khi nung / Bùi Khắc Thạch, Đỗ Quang Minh // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 6 .- Tr. 27-29 .- 620

Bài báo giới thiệu kỹ thuật quan sát và phân tích biến dạng mẫu khi nung. Kỹ thuật mô phỏng thiết bị kính hiển vi đốt nóng bằng cách kết hợp một lò nung có điều khiển chế độ nhiệt với máy ảnh kỹ thuật số và phần mềm phân tích ảnh ImageJ. Một số kết quả nghiên cứu biến dạng mẫu thủy tinh trong khoảng biến mềm thể hiện tính hiệu quả của kỹ thuật này. Đây là phương pháp quan sát và phân tích mẫu nung tương đối đơn giản có thể ứng dụng trong thực tế sản xuất và nghiên cứu khoa học.

64 Xác định những rào cản của việc triển khai BIM-nD trong quản lý dự án xây dựng / Lê Đình Trọng Tín, Đỗ Tiến Sỹ, Nguyễn Thanh Việt // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 112-117 .- 620

Bài báo này xác định các thách thức chính của việc áp dụng BIM-nD trong quản lý dự án tại Việt Nam. Dựa trên kết quả tổng hợp của các nghiên cứu trên thế giới, phân tích dữ liệu từ các cuộc khảo sát cùng với việc phỏng vấn trực tiếp với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý dự án sử dụng BIM. Kết quả phân tích dữ liệu đã xác định được 12 rào cản quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng BIM-nD trong quản lý dự án.

65 Nghiên cứu chế tạo men vi tinh thể ứng dụng cho ngành sản xuất gạch men - khảo sát các đặc tính kỹ thuật / Trịnh Xuân Anh, Phạm Ngọc Trung, Nguyễn Thị Tuyết Mai // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 43 - 46 .- 620

Thực nghiệm này nghiên cứu chế tạo men vi tinh thể đa oxit (men vi tinh) đi từ nguyên liệu frit matt tự chế tạo và sử dụng các nguyên liệu khác nữa sẵn có phục vụ cho ngành sản xuất gạch men trong nước. Men vi tinh thể chế tạo có nhiệt độ nung chảy men trong khoảng 1150-1180 oC phù hợp với nung xương của gạch ốp lát ceramic. Các chỉ tiêu kỹ thuật đánh giá của men vi tinh thể chế tạo đạt tiêu chuẩn TCVN13113:2020. Gạch men vi tinh thể chế tạo đạt độ thẩm mỹ cao về độ bóng, độ ánh đẹp, hiệu ứng phản quang tốt làm tăng được nét tinh xảo của họa tiết và tạo hiệu ứng chiều sâu trên bề mặt gạch men hơn hẳn so với gạch men thường.

66 Nghiên cứu, đánh giá một số phương pháp, kỹ thuật đo thường được sử dụng để xác định hệ số dẫn nhiệt vật liệu xây dựng / Lê Tuấn Anh, Lê Cao Chiến, Lê Thị Song // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 30-38 .- 620

Hệ số dẫn nhiệt của vật liệu là một thông số quan trọng nhằm đánh giá khả năng cách nhiệt của vật liệu. Bài báo này trình bày một số phương pháp và thiết bị được sử dụng để xác định hệ số dẫn nhiệt của vật liệu. Kết quả nghiên cứu, so sánh về hệ số dẫn nhiệt của một số vật liệu xây dựng như xốp expanded polystyrene (EPS), tấm thạch cao, bông khoáng, tấm polyurethane (PU) và gạch bê tông nhẹ (AAC) bằng ba thiết bị bao gồm thiết bị đo hệ số dẫn nhiệt bằng tấm nóng được bảo vệ GHP 900S, thiết bị đo lưu lương nhiệt HFM300 và thiết bị đo hệ số dẫn nhiệt Hot Disk TPS2200 cũng được thảo luận.

67 Xác định các công nghệ trí tuệ nhân tạo thích hợp cho quản lý an toàn tại các dự án cao tầng ở Việt Nam bằng mô hình tham số và phân tích hồi quy đa biến / Nguyễn Ngọc Thoan, Nguyễn Anh Đức // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 76-83 .- 620

Kết quả cho thấy ngân sách, văn hoá an toàn và hỗ trợ thể chế có ý nghĩa thống kê cao trong việc giải thích thay đổi về lợi ích an toàn khi áp dụng AI; trong khi đó, chỉ số phức tạp công trình lại không thể hiện tác động đáng kể trong kiểm định đa biến. Phân tích hồi quy OLS riêng rẽ cho từng chỉ số AI cũng củng cố nhận định rằng mỗi công nghệ AI có mức độ nhạy cảm khác nhau trước các tham số này. Công trình nghiên cứu đóng góp cả về mặt lý thuyết bằng cách làm rõ vai trò quan trọng của nhân tố văn hoá và hỗ trợ quản lý, lẫn thực tiễn bằng cách cung cấp mô hình phân tích dữ liệu, định hướng triển khai AI an toàn tại Việt Nam.

68 Cải thiện chất lượng bề mặt bê tông khi sử dụng ván khuôn có lớp lót kiểm soát thấm / Chu Bảo Ngọc // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 17-21 .- 620

Chất lượng bề mặt của bê tông rất quan trọng đối với độ bền của kết cấu bê tông cốt thép, bởi vì lớp phủ đứng đầu trong việc bảo vệ cả những hư hỏng cơ học và hư hỏng hóa học. Lớp lót ván khuôn thấm có kiểm soát (CPF) là vật liệu cải tiến được sử dụng để cải thiện chất lượng bê tông ở vùng phủ, bằng cách cho phép bọt khí và nước hỗn hợp thoát ra khỏi bề mặt bê tông trong khi vẫn giữ lại xi măng và các hạt mịn khác. Trong suốt quá trình đổ bê tông và do áp lực của bê tông, không khí bị mắc kẹt và lượng nước trộn dư thừa có thể bị giữ lại trên bề mặt gây ra các vết bẩn, thay vào đó có thể đi qua lớp lót. Một phần nước hỗn hợp này được giữ trong lớp lót và dưới tác động mao dẫn, thấm trở lại vào bê tông để hỗ trợ quá trình đóng rắn.

69 Xác định hệ số hấp thụ nhiệt của các loại kính xây dựng tính năng cao và đánh giá tính bền vững trong sử dụng kính tại Việt Nam / Kiều Lê Hải, Nguyễn Văn Trung, Tạ Ngọc Dũng // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 91 - 95 .- 620

Hệ số hấp thụ nhiệt (SHGC) là một chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng của kính, liên quan đến tiết kiệm năng lượng. Sau một thời gian áp dụng QCVN 09:2017/BXD, hệ số SHGC của các loại kính đã được quan tâm và chú ý khi lựa chọn kính sử dụng trong công trình xây dựng. Tác giả đã tiến hành xác định hệ số SHGC của các loại kính xây dựng tính năng cao có công năng tiết kiệm năng lượng, được lấy mẫu trực tiếp từ các doanh nghiệp gia công kính. Từ các hệ số SHGC xác định được, tác giả đánh giá tính bền vững trong sử dụng kính của Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo tính bền vững trong phát triển kinh tế-xã hội.

70 Nghiên cứu tính lưu biến của hỗn hợp nhựa ma-tít sử dụng bột khoáng RFCC / Đỗ Cao Phan, Lê Anh Thắng // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 22-26 .- 620

Sử dụng chất thải công nghiệp hoá dầu RFCC (Residue Fluid Catalytic Cracking) vào sản xuất bê tông nhựa là chủ đề của nghiên cứu. Hỗn hợp nhựa ma-tít với bột khoáng RFCC được khảo sát tính chất lưu biến bằng thực nghiệm, và so sánh với nhựa ma-tít với đá vôi truyền thống. So với đá vôi, RFCC giúp tăng độ cứng và độ nhớt của hỗn hợp nhựa ma-tít. Đặc biệt, khi ở điều kiện nhiệt độ cao, độ cứng và độ nhớt của hỗn hợp nhựa ma-tít chứa RFCC tăng lên đáng kể, độ cứng tăng 1,41 lần và độ nhớt tăng 1,42 lần so với hỗn hợp nhựa ma-tít chứa bột đá vôi. Kết quả cũng cố thêm cho sự phù hợp của RFCC trong sản xuất bê tông nhựa.