CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Xây Dựng
2451 Ứng xử uốn của dầm bê tông căng sau dùng cáp không bám dính gia cường tấm CFRP chịu tải trọng lặp / Phan Vũ Phương, Trần Thanh Dương, Ngô Hữu Cường, Nguyễn Minh Long // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 144-150 .- 624
Khảo sát ứng xử uốn của dầm bê tông căng sau dùng cáp không bám dính (UPC) gia cường tấm CFRP kháng uốn dưới tác dụng tải lặp. Chương trình thực nghiệm được tiến hành trên sáu dầm UPC tiết diện chữ T kích thước lớn với hàm lượng tấm CFRP thay đổi, có và không có hệ neo U-wraps với diện tích neo và vùng bố trí khác nhau (bố trí tập trung ở hai đầu dầm hoặc bố trí kết hợp trong nhịp uốn và hai đầu dầm).
2452 Nghiên cứu ứng xử của công trình ngầm bê tông cốt sợi thủy tinh và bê tông cốt thép dưới tác dụng của tải trọng nổ / Trịnh Trung Tiến, Vũ Đình Lợi // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 151-155 .- 624
Trình bày kết quả nghiên cứu ứng xử của công trình ngầm bê tông cốt sợi thủy tinh dưới tác dụng của tải trọng nổ, đồng thời so sánh với kết quả nghiên cứu trên mô hình công trình ngầm tương tự sử dụng bê tông chốt thép truyền thống. Kết quả nghiên cứu trên có thể ứng dụng trong tính toán thiết kế công trình ngầm bê tông cốt sợi thủy tinh chịu tác dụng của tải trọng nổ.
2453 Nghiên cứu mô hình số biến dạng ngang của đất dưới tác dụng của hút chân không và gia tải mặt đất / Vũ Văn Tuấn // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 162-165 .- 624
Thiết lập các mô hình số với những mô hình đất khác nhau cho một thí nghiệm về biến dạng ngang được tiến hành trên thiết bị chuyên dùng để thí nghiệm bơm hút chân không và gia tải mặt đất. Các mô hình đất được xem xét là mô hình đàn hồi tuyến tính, Mohr Coulomb, Cam-Clay. Việc lựa chọn mô hình đất sẽ được chính xác sau khi so sánh kết quả của các mô hình số và số liệu đo được.
2454 Ảnh hưởng của mô đun biến dạng của lớp đất dưới mũi cọc lên sự phân bố tải trọng của mũi cọc trong bè cọc bằng phương pháp PRD và phương pháp phần tử hữu hạn / Võ Văn Đấu, Võ Phán, Trần Văn Tuẩn, Lê Minh Tâm // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 165-170 .- 624
Bài báo tập trung vào việc tính toán sức chịu tải cực hạn của bè và nhóm cọc trong móng bè cọc, phân tích so sánh các phương pháp tính toán tỉ lệ phần trăm giữa sức chịu tải dưới mũi cọc với tổng tải tác dụng lên cọc (Pb/Pt). Phương pháp tính toán giải tích (PDR) và phương pháp phần tử hữu hạn (Plaxis 2D) được sử dụng để nghiên cứu phân tích tính toán sức chịu tải của móng bè cọc, tỉ lệ Pb/Pt dựa theo các thông số từ thí nghiệm đất có trong thực tế tại thành phố Cần Thơ của Việt Nam.
2455 Ảnh hưởng của hàm lượng cốt thép chịu uốn đến khả năng chống chọc thủng của sàn phẳng bê tông cốt thép / Trần Việt Tâm, Phạm Ngọc Vượng // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 180-184 .- 624
Chọc thủng là hiện tượng phá hoại cục bộ do lực tập trung đặt trên bề mặt kết cấu gây ra. Hiện tượng này xuất hiện ở các kết cấu bê tông như vùng bản sàn nằm trên gối tựa có kích thước khá nhỏ như cột, trụ đỡ (sàn phẳng), sàn hoặc dầm chịu tải trọng tập trung lớn, bản đế móng dưới cột…là những vị trí lực cắt lớn. Bài báo trình bày ảnh hưởng của hàm lượng cốt thép chịu uốn đến khả năng chống chọc thủng của sàn bê tông cốt thép.
2456 Ứng xử tĩnh của dầm bê tông căng sau dùng cáp không bám dính gia cường tấm CFRP có neo dạng U chịu ảnh hưởng bởi tải trọng lặp / Trần Thanh Dương, Trần Phi Hổ, Phan Vũ Phương, Nguyễn Minh Long // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 191-198 .- 624
Trình bày một nghiên cứu thực nghiệm về ứng xử tĩnh sau lặp của dầm bê tông căng sau dùng cáp không bám dính (UPC) gia cường tấm CFRP kháng uốn có và không neo CFRP dạng U. Chương trình thực nghiệm được tiến hành trên 6 dầm UPC tiết diện chữ T kích thước lớn với hàm lượng tấm CFRP thay đổi, có và không có hệ neo dạng U với các vùng bố trí khác nhau (bố trí tập trung ở hai đầu dầm hoặc bố trí kết hợp trong nhịp uốn và hai đầu dầm).
2457 Mất an toàn khi sử dụng giàn giáo trong xây dựng: Nguyên nhân và kiến nghị / Nguyễn Hoài Nam, Ngô Quang Tuấn // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 168-172 .- 624
Trình bày một số nguyên nhân gây ra các sự cố mất an toàn đối với hệ giàn giáo trong quá trình xây dựng các công trình dân dụng ở Việt Nam trong thời gian vừa qua. Từ những sự vụ mất an toàn giàn giáo, bài viết tập trung phân tích các nguyên nhân theo 3 nhóm: nguyên nhân về kỹ thuật, nguyên nhân về tổ chức, nguyên nhân về bản thân. Từ đó đưa ra các kiến nghị để hạn chế các sự cố mất an toàn giàn giáo trong xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.
2458 Mô hình phần tử hữu hạn của sàn phẳng bê tông cốt thép chịu uốn và xoắn / Nguyễn Mai Chí Trung // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 173-176 .- 624
Trình bày kết quả phân tích các mô hình thí nghiệm sàn phẳng bê tông cốt thép chịu uốn và xoắn, các mô hình vật liệu thường dùng trong phân tích dẻo, từ đó xây dựng mô hình phần tử hữu hạn để mô phỏng sự làm việc của sàn có kể đến yếu tố phi tuyến vật liệu. Ứng xử của sàn từ lúc sàn chịu tải trọng tác dụng cho đến lúc sàn bị phá hoại được trình bày thông qua quan hệ tải trọng – độ võng, đồng thời độ cứng chống xoắn của sàn cũng được xác định.
2459 So sánh sức chịu tải cực hạn của cọc ly tâm ứng suất trước dựa trên kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc và công thức lý thuyết dựa trên kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc và công thức lý thuyết áp dụng cho nền đất khu Nam Sài Gòn / Mai Nhật Sang, Trương Quang Thành // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 104-108 .- 624
Sức chịu tải cực hạn của cọc ly tâm ứng suất trước làm móng công trình xây dựng ở khu Nam Sài Gòn được nghiên cứu trong bài báo này. Các phân tích tính toán sức chịu tải cực hạn của cọc dựa trên công thức trong tiêu chuẩn TCXD205-1998 và TCVN 10304-2014. Kết quả tính toán sức chịu tải cực hạn của cọc theo công thức lý thuyết có so sánh với số liệu thí nghiệm nén tĩnh cọc tại hiện trường.
2460 Một số yếu tố ảnh hưởng đến không gian cư trú nông thôn ven biển duyên hải Bắc Bộ thích ứng biến đổi khí hậu / Nguyễn Đình Thi, Lê Hồng Dân // Xây dựng .- 2018 .- Số 07 .- Tr. 109-113 .- 624
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến không gian cư trú nông thôn ven biển duyên hải Bắc Bộ, từ đó đề xuất định hướng các mô hình tổ chức không gian cư trú nông thôn tại các khu vực đới bờ biển thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay và trong thời gian tới.





