CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Kinh tế - Tài chính
71 Hiệu ứng ngưỡng của thanh khoản thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế / Bùi Ngọc Toản, Đoàn Thị Thu Trang // Kinh tế & phát triển .- 2023 .- Số 308 .- Tr. 59 - 69 .- 330
Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích tác động của thanh khoản thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế. Mẫu dữ liệu được thu thập từ 5 quốc gia ASEAN, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, giai đoạn 2008-2020. Các tác giả sử dụng hiệu ứng ngưỡng để ước lượng giá trị ngưỡng của thanh khoản thị trường chứng khoán. Tiếp theo, các tác giả sử dụng phương pháp GMM (Generalized method of moments) để ước lượng tác động của thanh khoản thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế ở các miền trước và sau giá trị ngưỡng này. Kết quả ước lượng cho thấy giá trị ngưỡng của thanh khoản thị trường chứng khoán là 21,243%. Tuy nhiên, tác động tích cực của thanh khoản thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế chỉ có ý nghĩa thống kê ở miền sau giá trị ngưỡng. Những phát hiện này là bằng chứng thực nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia ASEAN, đặc biệt là trong việc quản lý thị trường chứng khoán nhằm thúc đẩy nền kinh tế.
72 Tác động phi tuyến của tín dụng ngân hàng đến sản lượng kinh tế Việt Nam : bằng chứng thực nghiệm từ góc độ doanh nghiệp / Phạm Duy Tính // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 337 .- Tr. 2 -11 .- 332.04
Nghiên cứu này tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp để điều tra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và sản lượng kinh tế. Các phương pháp ước lượng kinh tế lượng (bao gồm GMM hệ thống, pooled OLS, FEM, REM và FGLS) được áp dụng trên dữ liệu từ 636 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2004-2023 với tổng cộng 9.617 quan sát theo năm. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tín dụng ngân hàng không chỉ có ảnh hưởng đến tăng trưởng về lượng (quy mô sản lượng) mà còn đóng góp vào việc cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế ở cấp độ vi mô, thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Đáng chú ý, mối quan hệ này được xác định dưới dạng chữ U ngược. Điều này hàm ý rằng Chính phủ cần phân bổ vốn tín dụng hiệu quả cho doanh nghiệp trong các lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng đồng thời với thúc đẩy đa dạng hóa nguồn vốn cho nền kinh tế ngoài hệ thống ngân hàng để ứng phó với tình trạng tăng trưởng tín dụng vượt ngưỡng.
73 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, giá trị chung và phát triển bền vững : nghiên cứu tổng hợp lý thuyết và thảo luận khoảng trống nghiên cứu / Nguyễn Phạm Hải Hà, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trương Quang Dũng // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 337 .- Tr. 36-47 .- 330
Nghiên cứu này xác định rõ các mối quan hệ lý thuyết đã được chứng minh, các khoảng trống học thuật quan trọng và đề xuất các hướng nghiên cứu mới, nhằm hỗ trợ việc xây dựng mô hình tích hợp CSR–CSV–SDGs phù hợp với bối cảnh Việt Nam và các nền kinh tế đang phát triển.
74 Hiệu ứng của tự do hóa tài chính đến vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam / Trần Văn Trung // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 335 .- Tr. 116-126 .- 332.024
Tự do hóa tài chính (TDHTC) là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập, góp phần nâng cao hiệu quả thị trường tài chính. Tuy nhiên, tác động của TDHTC không phải lúc nào cũng phù hợp với kỳ vọng. Nghiên cứu này đánh giá tác động của TDHTC nội địa đến vốn hóa thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, thông qua việc xây dựng chỉ số TDHTC nội địa và sử dụng mô hình VECM với dữ liệu quý. Kết quả cho thấy TDHTC nội địa có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến vốn hóa TTCK trong dài hạn. Tuy vậy, trong ngắn hạn, TTCK lại chịu tác động tiêu cực từ các cú sốc liên quan đến chính sách TDHTC. Các phát hiện này gợi mở hàm ý chính sách cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước trong việc thiết kế và thực thi chính sách TDHTC phù hợp nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của TTCK. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư trong hoạt động phân tích và đầu tư.
75 Tác động của sự đổi mới công nghệ đến hành vi tiếp tục sử dụng công nghệ tự phục vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / Tạ Thị Kiều Trang // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 335 .- Tr. 105 - 115 .- 332.12
Xác định và đo lường sự tác động của sự đổi mới công nghệ đến hành vi tiếp tục sử dụng công nghệ tự phục vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời nghiên cứu sự điều tiết của nhận thức về giá trị đến sự tác động của sự hài lòng đến ý định tiếp tục sử dụng. Dữ liệu thu thập được từ 556 phiếu trả lời được phân tích bằng phần mềm SmartPLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đổi mới công nghệ tác động cùng chiều đến sự tin cậy, khả năng đáp ứng, sự bảo mật, chức năng, sự hài lòng. Đồng thời, sự tin cậy, khả năng đáp ứng, sự bảo mật, chức năng tác động tích cực đến sự hài lòng. Sự hài lòng tác động tích cực đến ý định tiếp tục sử dụng và ý định tiếp tục sử dụng tác động tích cực đến hành vi tiếp tục sử dụng. Ngoài ra, nhận thức về giá trị điều tiết làm tăng sự tác động của sự hài lòng đến ý định tiếp tục sử dụng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng và thu hút nhiều khách hàng sử dụng công nghệ tự phục vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
76 Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam : xem xét vai trò của phát triển tài chính / 0868-2739 // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 335 .- Tr. 2 -11 .- 330
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam, với trọng tâm là vai trò điều tiết của phát triển tài chính. Dữ liệu giai đoạn 2000–2021 được phân tích bằng mô hình VECM. Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn, phát triển tài chính (FD) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi kiều hối (REMIT) và tương tác giữa kiều hối với phát triển tài chính (REMIT_FD) không có ảnh hưởng rõ rệt. Tuy nhiên, trong dài hạn, FD tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, còn REMIT và REMIT_FD lại tác động tiêu cực. Điều này cho thấy, khi hệ thống tài chính phát triển hơn, kiều hối có xu hướng được sử dụng cho tiêu dùng thay vì đầu tư sản xuất. Để tối ưu hóa dòng vốn này, Việt Nam cần thiết lập một khung chính sách toàn diện nhằm chuyển hướng kiều hối qua các kênh tài chính chính thức và thúc đẩy sử dụng vào các lĩnh vực sinh lợi. Việc này đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà nước, các tổ chức tài chính và cộng đồng kiều bào, qua đó bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển kinh tế vĩ mô và lợi ích của các hộ gia đình nhận kiều hối.
77 Hiệu ứng của các yếu tố tài chính, giới tính, thương mại, tới xuất khẩu hàng hóa ICT tại các quốc gia Đông Nam Á / Nguyễn Quang Minh // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 335 .- Tr. 12 - 20 .- 330
Hàng hóa ICT thường đóng vai trò cốt lõi trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải tiến công nghệ trên toàn cầu. Nghiên cứu xem xét hiệu ứng của các yếu tố tài chính, giới tính, thương mại, tới xuất khẩu hàng hóa ICT tại các quốc gia Đông Nam Á, từ đó khuyến nghị các định hướng và chính sách của cơ quan quản lý nhằm đạt được kế hoạch vĩ mô đề ra. Sử dụng mô hình nghiên cứu FGLS, nội dung đề cập tới một số quốc gia Đông Nam Á bao gồm Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, Viet Nam, với dữ liệu được thu thập theo năm trong giai đoạn 2004-2023. Thông qua nghiên cứu cho thấy lãi suất cho vay, phụ nữ trong quốc hội và nhập khẩu hàng hóa ICT có ý nghĩa thống kê trong việc ảnh hưởng tới xuất khẩu hàng hóa ICT. Một số quốc gia Đông Nam Á có thể xem xét giảm lãi suất cho vay, tăng nhập khẩu hàng hóa ICT, hoặc điều chỉnh tỉ lệ nữ trong vai trò quốc hội sẽ làm gia tăng xuất khẩu hàng hóa ICT.
78 Nghiên cứu tác động của rào cản xuất khẩu đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam / Lê Nguyễn Diệu Anh // Thương mại .- 2024 .- Số 195 .- Tr. 72-84 .- 658
Bài viết phân tích tác động của các rào cản xuất khẩu đến hiệu quả hoạt động của 282 doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam. Kết quả hồi quy cho thấy các rào cản nguồn nhân lực, văn hóa, sản phẩm, tài chính và hành chính đều có ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Rào cản nguồn nhân lực và tài chính là những yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất, khi sự thiếu hụt nhân sự có chuyên môn và khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn làm giảm khả năng cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp. Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ từ phía chính phủ, bao gồm đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường các chương trình đào tạo và hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp.
79 Chuyển đổi số và cam kết phát triển bền vững: Động lực đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp Việt Nam / Nguyễn Hoàng // Thương mại .- 2025 .- Số 195 .- Tr. 3-14 .- 330
Bài viết phân tích tác động của chuyển đổi số và cam kết phát triển bền vững đến đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp Việt Nam. Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy với mẫu nghiên cứu 362 doanh nghiệp, kết quả cho thấy chuyển đổi số có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo, trong khi các nỗ lực phát triển bền vững có thể gây ra những hạn chế nhất định trong ngắn hạn. Tuy nhiên, hai yếu tố này tích hợp tạo ra tác động cộng hưởng tích cực mạnh mẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Phát hiện này mang lại góc nhìn mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, khẳng định vai trò của chuyển đổi số trong nâng cao đổi mới sáng tạo, đồng thời khuyến khích theo đuổi phát triển bền vững nhằm tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong dài hạn. Từ kết quả này, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị đối với các doanh nghiệp Việt Nam và chính sách đối với Chính phủ và các cơ quan hữu quan trong thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.
80 Hiệu quả quản lý nhà nước đối với bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam - nghiên cứu từ các doanh nghiệp bán lẻ / Nguyễn Trần Hưng // Thương mại .- 2025 .- Số 195 .- Tr. 15-38 .- 658
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: các hoạt động QLNN về thuế, về bảo vệ người tiêu dùng, về bảo vệ thông tin cá nhân và khiếu nại, tố cáo, xử lý tranh chấp đang được thực hiện khá tốt bởi các yếu tố này đều có tác động tích cực tới hiệu quả QLNN đối với BLTT. Trong khi đó, các hoạt động QLNN về hàng hóa và về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong BLTT chưa được thực hiện tốt và có tác động tiêu cực tới hiệu quả QLNN đối với BLTT. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, biến giới tính không có sự điều tiết đáng kể tới tác động của các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu. Tác giả cũng đưa ra một số hàm ý giải pháp để tăng cường hiệu quả QLNN đối với BLTT tại Việt Nam trong thời gian tới dựa trên các kết quả nghiên cứu đã được phân tích.





