CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Kinh tế - Tài chính
51 Tác động của Deepfake đối với an ninh ngân hàng và tổ chức tài chính / Nguyễn Thanh Nga // .- 2024 .- Sô 05 (632) .- Tr. 75 – 78 .- 332
Trong báo cáo mới về quản lý rủi ro của trí tuệ nhận tạo (AI) trong lĩnh vực tài chính, Bộ Tài chính Mỹ đã đưa ra cảnh báo nghiêm trọng về an ninh mạng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính khi họ phải đối mặt với với các thách thức mới liên quan đến các gian lận Deepfake. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả đưa ra những góc nhìn mới nhất về ảnh hưởng của công nghệ này đối với lĩnh vực tài chính và ngân hàng, bao gồm các hình thức tấn công/gian lận khác nhau, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro đến từ Deepfake.
52 Tác động của văn hóa tới tài chính / Trương Hoàng Diệp Hương // .- 2024 .- Sô 05 (632) .- Tr. 79 – 83 .- 332
Sự phát triển của thị trường tài chính đóng một vai trò to lớn trong phát triển kinh tế. Sự phát triển tài chính đòi hỏi phải có các chính sách mạnh mẽ để quản lý và giám sát tất cả các tổ chức quan trọng trên thị trường, đồng thời thúc đẩy người dân và doanh nghiệp tham gia thị trường. Nghiên cứu này cho thấy, yếu tố văn hóa quốc gia có ảnh hưởng đến sự phát triển và cấu trúc của thị trường. Theo đó, nắm được tác động của các yếu tố văn hóa, chính phủ các quốc gia cần xây dựng các chính sách đặc trưng theo từng quốc gia nhằm đưa ra các định hướng đúng và phù hợp hơn.
53 “Chặng cuối” của lạm phát toàn cầu : 7 rủi ro và 3 hàm ý chính sách / Nguyễn Hồng Nga // .- 2024 .- Sô 05 (632) .- Tr. 84 – 87 .- 332
Lạm phát toàn cầu đang chậm lại và các ngân hàng trung ương (NHTW) cũng đang chuẩn bị nới lỏng chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, vẫn còn “chặng cuối cùng”, có thể là khó khăn nhất; trong kịch bản lạm phát quay trở lại mức mục tiêu và nền kinh tế quay trở lại tiềm năng tăng trưởng, rủi ro vẫn khó tránh khỏi. Bài viết đề cập 4 chỉ báo của một kịch bản “hạ cánh mềm” của nền kinh tế toàn cầu, 7 rủi ro lạm phát có thể phát sinh trong kịch bản “hạ cánh mềm” và 3 hàm ý chính sách.
54 Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sở hữu của khối ngoại tại các doanh nghiệp tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Thu Liên, Trần Thị Phương Anh, Trần An Khánh, Vũ Hoàng Minh, Trần Hà My // .- 2024 .- Tập 66 - Số 4 - Tháng 4 .- Tr. 01-09 .- 332.024
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu này đã tổng quan cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn nhằm đề xuất một mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sở hữu của khối ngoại tại các doanh nghiệp tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam. Điểm mới của nghiên cứu này là đặt trong phạm vi các doanh nghiệp tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam và trong bối cảnh TTCK có những biến động mạnh, do tác động của đại dịch COVID-19.
55 Thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tại các vùng chăn nuôi tập trung của TP Hà Nội / Đinh Phạm Hiền, Đoàn Anh Tuấn, Phạm Thị Mỹ Dung, Đinh Đức Hiếu // .- 2024 .- Tập 66 - Số 4 - Tháng 4 .- Tr. 17-22 .- 330
Nghiên cứu được thực hiện tại các vùng chăn nuôi bò thịt (CNBT) tập trung của TP Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu định lượng gồm các bước: điều tra trực tiếp thông tin qua bảng hỏi tại 6 xã và 210 hộ CNBT trong các vùng chăn nuôi tập trung, xử lý thông tin qua phần mềm Excel, phân tích thông tin bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh.
56 Các xu hướng thanh toán số từ 2024 - 2030 / Quý Minh // .- 2024 .- Số 3 - Tháng 3 .- Tr. 38-43 .- 332
Dự báo thị trường thanh toán số toàn cầu năm 2007. Các xu hướng thanh toán số mới nhất: Xác thực sinh trắc học; Thanh toán không tiếp xúc; Công nghệ EMV sẽ ở mức tốt nhất; Nhu cầu về điểm bán hàng di động (mPOS) ngày càng tăng; Thanh toán dựa trên giọng nói; Bảo mật hoàn hảo với AI; Sự thống trị của ví di động; Mua trước trả tiền sau.
57 Phát triển các tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách trong lĩnh vực tài chính công / Nguyễn Thanh Nga, Lê Quang Thuận // .- 2024 .- Số 6 .- Tr. 10-13 .- 332
Bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách trong lĩnh vực tài chính công ở Việt Nam.
58 Nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu phục vụ vận hành hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản / Trần Văn Khôi, Nguyễn Anh Tú // .- 2024 .- Số 673 - Tháng 6 .- Tr. 214-216 .- 332
Đánh giá thực trạng chất lượng, các yếu tố tác động đến chất lượng thu thập hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ vận hành hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản chỉ ra các hạn chế, bất cấp và nguyên nhân từ đó đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu để phù hợp với thực tiễn, phù hợp với quy định hiện hành làm cơ sở để nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản.
59 Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định lạm phát tại Việt Nam / Lý Đại Hùng, Phạm Thành Công // .- 2024 .- Số 09 - Tháng 5 .- Tr. 4 – 10 .- 332
Ổn định lạm phát luôn được coi là một biến số kinh tế vĩ mô trọng tâm tại Việt Nam. Trong giai đoạn lạm phát phi mã từ năm 1986 đến năm 1990, chính sách tiền tệ đóng vai trò chủ đạo với giải pháp nâng lãi suất để hút tiền khỏi quá trình lưu thông. Đến giai đoạn lạm phát cao từ năm 2007 đến năm 2012, chính sách tiền tệ và tài khóa cùng thắt chặt để giảm lượng vốn đầu tư, thể hiện trực tiếp cho lượng tiền tệ trong nền kinh tế. Còn trong giai đoạn ổn định lạm phát từ năm 2016 đến nay, chính sách tài khóa và tiền tệ đã được kết hợp cân bằng hơn để cùng đạt được mục tiêu vừa giữ ổn định lạm phát, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
60 Ảnh hưởng của số hóa đến biên lãi ròng của Ngân hàng thương mại Việt Nam / Lý Đại Hùng, Phạm Thành Công // .- 2024 .- Số 09 - Tháng 5 .- Tr. 11 – 16 .- 332
Trong bài viết này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy ước lượng sai số chuẩn hiệu chỉnh (PCSE) để kiểm nghiệm tác động của số hóa tới việc tạo ra thu nhập lãi ròng từ những khoản cho vay và đầu tư của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời gian 5 năm từ 2018 - 2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy, số hóa có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của NHTM. Bên cạnh đó, hai biến kiểm soát là thu nhập ngoài lãi và quy mô ngân hàng (tính theo logarit tự nhiên tổng tài sản) cho thấy quan hệ ngược chiều nhưng không có ý nghĩa về mặt thống kê với hiệu quả hoạt động của các NHTM được đề cập. Từ đây, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị đến cơ quan quản lí và các NHTM nhằm tận dụng và phát huy những ảnh hưởng tích cực của số hóa tới hiệu quả hoạt động.