CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
81 Thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025 / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Trung Nghĩa, Huỳnh Thanh Tân, Nguyễn Văn Giáp, Đỗ Văn Đức, Bạch Thị Thu Phương, Doãn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Cẩm Vân, Trịnh Thị Bích Huyền, Lê Bạch Mai // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 150 - 154 .- 610
Đánh giá thực trạng lo âu của người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được triển khai từ tháng 1/2025 đến tháng 7/2025 với 150 người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú, sử dụng thang đo DASS-21 để đánh giá tình trạng lo âu. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh gặp các vấn đề về lo âu là 31,33%. Kết quả hồi quy logistic đơn biến cho thấy các yếu tố làm tăng khả năng lo âu gồm: người bệnh nữ (OR=2,91); sống ở thành thị (OR=2,79); trình độ học vấn từ trung cấp trở lên (OR=2,84); đang làm việc toàn thời gian (OR=2,52); không được tư vấn tâm lý đầy đủ sau khi được điều trị và về nhà (OR=2,94); có bệnh kèm theo (OR=3,05); điều trị bằng hóa trị liệu pháp (OR=2,1); gặp tác dụng phụ khi điều trị (OR=2,57). Kết luận: Bệnh viện cần tăng cường các hình thức tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho người bệnh, đặc biệt trong quá trình người bệnh điều trị ở nhà hoặc trong các lần tái khám.
82 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy xâm nhập / Ngô Đình Trung, Nguyễn Chí Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 163 - 167 .- 610
Suy dinh dưỡng là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân nặng phải thở máy xâm nhập, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy tại Hồi sức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 86 bệnh nhân thở máy tại khoa Hồi sức ngoại khoa và ghép tạng – Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng thang điểm SGA (Subjective Global Assessment), chỉ số khối BMI (Body Mass Index), và một số chỉ số sinh hóa khi nhập viện và ra viện. Các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị được ghi nhận. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SGA B, C) tăng từ 83,3% khi nhập viện lên 95% khi ra viện (p = 0,003). Cân nặng và BMI giảm rõ rệt (p < 0,001), trong khi các chỉ số sinh hóa không thay đổi có ý nghĩa. SGA khi nhập viện liên quan với tuổi, biến chứng nhiễm khuẩn đa kháng và kết quả điều trị (p < 0,05). Suy dinh dưỡng khi ra viện liên quan có ý nghĩa với tuổi cao (p = 0,001), thời gian trì hoãn nuôi ăn tiêu hóa (p < 0,001), và rối loạn chức năng thận. Kết luận: Suy dinh dưỡng rất phổ biến ở bệnh nhân thở máy và có xu hướng nặng lên trong quá trình nằm viện. Cần đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm, đặc biệt qua đường tiêu hóa, để cải thiện kết cục điều trị.
83 Một số yếu tố liên quan đến tái sốc ở trẻ sốc sốt xuất huyết Dengue từ 2 đến 16 tuổi có dư cân, béo phì tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2022-2024 / Tạ Văn Trầm, Hà Văn Lực, Lê Văn Khoa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 176 - 180 .- 610
Sốc sốt xuất huyết Dengue ở bệnh nhi dư cân, béo phì có biểu hiện lâm sàng thường nặng, diễn tiến phức tạp, nguy cơ cao xuất hiện tái sốc hoặc sốc kéo dài. Mục tiêu: Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tái sốc ở trẻ sốc sốt xuất huyết Dengue từ 2 đến 16 tuổi có dư cân, béo phì tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2022-2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích trên 90 bệnh nhi từ 2 đến 16 tuổi với chẩn đoán sốc sốt xuất huyết Dengue có dư cân, béo phì nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ 6/2022 đến 4/2024. Kết quả: Trẻ có biểu hiện đau bụng vùng gan, hiệu áp ≤10mmHg, ngày vào sốc ≤5, đau bụng vùng gan, gan to có nguy cơ tái sốc cao hơn các trẻ còn lại. Trẻ có Hct tăng sau 6 giờ truyền dịch, hạ albumin máu và có rối loạn đông máu có liên quan đến tái sốc ở trẻ sốc sốt xuất huyết Dengue có dư cân, béo phì. Kết luận: Các dấu hiệu cảnh báo sớm về lâm sàng như đau bụng vùng gan, hiệu áp kẹp, cùng các chỉ số cận lâm sàng bất lợi như Hct không đáp ứng sau bù dịch, hạ albumin máu và rối loạn đông máu là những yếu tố tiên lượng có giá trị, liên quan chặt chẽ đến nguy cơ tái sốc ở bệnh nhi sốc sốt xuất huyết Dengue dư cân, béo phì.
84 Kết quả điều trị táo bón chức năng bằng phác đồ có sử dụng Lactulose ở trẻ em tại Bệnh viện nhi Thái Bình / Trịnh Thị Hải Linh, Phí Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Việt Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 167 - 171 .- 610
Táo bón là tình trạng rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ em. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị táo bón chức năng ở trẻ em dưới 6 tuổi bằng phác đồ có sử dụng Lactulose tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp trên 86 trẻ từ 01 đến 06 tuổi được chẩn đoán táo bón chức năng theo tiêu chuẩn ROME IV từ 01/06/2024 đến 31/05/2025. Kết quả: Tỉ lệ nam/nữ = 1,3, tuổi trung bình là 30,2 ±17,4 (tháng). Tỉ lệ trẻ khỏi táo bón sau 1, 2 và 3 tháng lần lượt là 65%, 70,1% và 79,1%. Tỉ lệ các triệu chứng gắng sức, đau hậu môn khi đại tiện, nứt kẽ hậu môn, són phân, tư thế giữ phân và tỉ lệ trẻ đi ngoài phân dạng táo giảm rõ rệt theo thời gian theo dõi, p < 0,05. Sau 3 tháng, không còn trẻ nào có phân loại 1 theo thang điểm Bristol. Số lần đại tiện trung bình/tuần tăng từ 1,7 ± 0,5 lần/tuần lên 3,9 ±1,7 lần sau 1 tháng, 5,0 ± 1,7 lần sau 2 tháng, và 5,7 ± 1,7 lần sau 3 tháng, p < 0,001. Kết luận: Phác đồ Lactulose với liều khởi đầu 1 ml/kg/ngày kết hợp với giáo dục sức khỏe mang lại hiệu quả cao như cải thiện triệu chứng, số lần đại tiện, tính chất phân, thói quen sinh hoạt và an toàn.
85 Khảo sát giá trị của thang điểm haps và bisap trong dự đoán mức độ nặng ở bệnh nhân viêm tụy cấp / Nguyễn Công Long, Trần Thị Quỳnh Anh, Đào Việt Hằng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 189 - 193 .- 610
Khảo sát giá trị của thang điểm HAPS và BISAP trong tiên lượng mức độ nặng ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 120 bệnh nhân được chẩn đoán viêm tụy cấp điều trị tại Trung tâm Tiêu hoá - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2024 đến tháng 06/2025. Thang điểm HAPS và BISAP được đánh giá trong vòng 24 giờ đầu. Kết quả: Thang điểm HAPS có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ khá, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,752 (KTC 95%= 0,672 – 0,878). Tại điểm cut-off HAPS=3 điểm, độ nhạy đạt 61,1%, độ đặc hiệu 84,3%, giá trị tiên đoán dương 49,7% và giá trị tiên đoán âm 92,5%. Thang điểm BISAP có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ tốt, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,928 (KTC 95%= 0,878 – 0,978). Tại điểm cut-off BISAP=3 điểm, độ nhạy đạt 81,3%, độ đặc hiệu 90,4%, giá trị tiên đoán dương (PPV) 66,5%, và giá trị tiên đoán âm 96,9%. Kết quả có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết luận: Thang điểm BISAP có giá trị tốt hơn thang điểm HAPS trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp, đặc biệt là trong giai đoạn 24 giờ đầu nhập viện.
86 Đánh giá hiệu quả kéo dài tác dụng giảm đau sau phẫu thuật lấy thai của phương pháp gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên bằng ropivacain 0,375% phối hợp dexamethasone / Nguyễn Phương Anh, Phạm Quang Minh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 100-104 .- 610
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kéo dài giảm đau sau phẫu thuật lấy thai của phương pháp gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên bằng ropivacain 0,375% có hoặc không phối hợp dexamethasone. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, trong khoảng thời gian từ 12/2024 đến 08/2025, trên 60 sản phụ tuổi từ 18 đến 50, phân độ ASA II, cân nặng 50 kg, đường mổ ngang trên vệ, được gây tê tuỷ sống để phẫu thuật lấy thai, gây tê cơ vuông thắt lưng sau mổ để giảm đau. Các bệnh nhân (BN) được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 30 BN: nhóm 1 sử dụng 30ml ropivacain 0,375% phối hợp 8mg dexamethasone (RD), nhóm còn lại sử dụng 30ml ropivacain 0,375% đơn thuần (R). Kết quả: Ở nhóm RD, BN bắt đầu cần morphine muộn hơn, và tổng lượng morphine dùng trong 24 giờ ít hơn so với nhóm R. Điểm VAS khi nghỉ ngơi và vận động qua các thời điểm có xu hướng giảm so với thời điểm trước khi gây tê. Đặc biệt VAS tại thời điểm H12 và H18 sau gây tê nhóm RD thấp hơn nhóm R, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tần số tim và huyết áp trung bình ở cả 2 nhóm có xu hướng giảm so với thời điểm H0, tuy nhiên đều dao động trong giới hạn sinh lý. Các BN đều hài lòng và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng nào.
87 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm khuẩn sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương / Triệu Thị Diệu Linh, Lê Minh Trác, Nguyễn Thị Xuân Hương, Trần Đức Tú // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 78 - 82 .- 610.0012
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh non tháng tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm trẻ sơ sinh có tuổi thai từ 28 đến dưới 37 tuần được chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh tại Trung tâm sơ sinh bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ tháng 1/2025 đến tháng 8/2025. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Có 158 trẻ sơ sinh non tháng đủ tiêu chuẩn. Tỷ lệ trẻ được chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh sớm 30,4%, muộn 69,6%. Tỷ lệ đẻ mổ là 89,2%. Đặc điểm lâm sàng thường gặp nhất là hô hấp 67,1%, chủ yếu là cơn ngừng thở. Đặc điểm cận lâm sàng không đăc hiệu. Tỷ lệ cấy máu dương tính là 27,2%. Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm hay gặp là E. coli và nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là K. pneumonia. Kết luận: Nhiễm khuẩn sơ sinh ở trẻ đẻ non chủ yếu là nhiễm khuẩn sơ sinh muộn, triệu chứng lâm sàng về hô hấp chiếm tỷ lệ cao và cấy máu vi khuẩn hay gặp nhất nhiễm khuẩn sơ sinh sớm là E. Coli, nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là K. pneumonia.
88 Kết quả điều trị tim nhanh nhĩ đơn ổ ở trẻ em bằng năng lượng sóng tần số radio tại Bệnh viện Nhi Trung ương / Đoàn Quốc Hoàn, Ngô Anh Vinh, Đặng Hải Vân, Trương Mạnh Tú // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 182 - 185 .- 610
Nhận xét kết quả điều trị cơn nhịp nhanh nhĩ đơn ổ ở trẻ em tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Nhi Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 32 bệnh nhân được chẩn đoán nhịp nhanh nhĩ đơn ổ bằng phương pháp thăm dò điện sinh lý. Kết quả: Tuổi can thiệp trung bình 54,2 ± 57,3 tháng (nhỏ nhất là 25 ngày tuổi và lớn nhất là 17 tuổi).Tỉ lệ nữ/nam 1,13/1. Ổ tim nhanh nhĩ chủ yếu xuất phát từ vùng nhĩ phải (chiếm 71,9%), trong đó vùng mào nhĩ chiếm tỉ lệ cao nhất (40.6%), tỉ lệ triệt đốt thành công lần đầu là 81,3%, tỉ lệ tái phát sau can thiệp lần đầu là 26,9%, thời gian tái phát cơn có trung vị là 65 ngày. Sau can thiệp hai tháng, các bệnh nhân có giảm chức năng tâm thu thất trái có cải thiện rõ rệt. Không có biến chứng nào trong quá trình tiến hành thủ thuật. Kết luận: Cơn nhịp nhanh nhĩ đơn ổ có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Ổ phát nhịp tim nhanh không xảy ra ngẫu nhiên trong toàn bộ tâm nhĩ mà có sự phân bố tập trung tại các điểm giải phẫu nhất định. Can thiệp điện sinh lý có tầm quan trọng trong điều trị nhịp nhanh nhĩ đơn ổ, giúp cải thiện tốt chức năng tâm thu thất trái, với tỉ lệ thành công cao và nguy cơ biến chứng thấp
89 Đặc điểm lâm sàng và vi sinh ở trẻ em mắc viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng / Lương Thị Liên, Ngô Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Hà, Phạm Văn Dương, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Đình Thành, Trần Duy Mạnh, Nguyễn Thị Diệu Thúy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 185 - 188 .- 610
Viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng là một thách thức đối với bác sỹ lâm sàng. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và vi sinh ở trẻ mắc viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả trên 62 bệnh nhân viêm tai giữa cấp tái diễn hoạc dai dẳng từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025. Kết quả: Trẻ nam mắc viêm tai giữa tái diễn hoặc dai dẳng gặp nhiều hơn trẻ nữ, với tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1 với đa số là trẻ dưới 2 tuổi chiếm 70,9%. Triệu chứng đợt cấp chủ yếu là chảy mũi và ho chiếm lần lượt là 98,4% và 95,2%, triệu chứng sốt chỉ chiếm 54,8%, triệu chứng tại tai ít gặp. Tổn thương thường xuất hiện ở cả 2 bên tai với tỷ lệ 79%, căn nguyên phân lập được chủ yếu là H. influenzae chiếm 53,2%. Kết luận: Viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng chủ yếu gặp trong độ tuổi nhũ nhi. Trẻ thường biểu hiện bằng triệu chứng của các tổn thương lân cận như viêm mũi họng cấp, viêm VA, trong khi các triệu chứng tại tai hay toàn thân như sốt lại ít gặp. Căn nguyên chủ yếu phân lập được là H. influenzae.
90 Chỉ định và kết quả điều trị sỏi thận bằng nội soi ống mềm kỹ thuật số tại Bệnh viện Bạch Mai / Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Long // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 213 - 217 .- 610
Đánh giá chỉ định và kết quả điều trị sỏi thận bằng tán sỏi nội soi ống mềm ngược dòng kỹ thuật số tại Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 123 bệnh nhân được điều trị bằng fURS kỹ thuật số từ 5/2023 đến 7/2025. Các chỉ số gồm đặc điểm chỉ định, thời gian phẫu thuật, tỷ lệ sạch sỏi ngay sau mổ và sau 1 tháng, tổn thương niệu quản theo phân loại Traxer, thời gian nằm viện và thời gian lưu JJ. Kết quả: fURS kỹ thuật số được chỉ định chủ yếu cho bệnh nhân sỏi đài dưới (56,9%) và bể thận (52,0%), kích thước trung bình 12,9 ± 4,5 mm, đa số có triệu chứng đau thắt lưng (98,4%) và chưa từng can thiệp trước đó (87,0%). Thời gian phẫu thuật trung bình 65,04 ± 22,57 phút, thời gian tán sỏi 49,68 ± 21,61 phút. Tỷ lệ sạch sỏi (≤ 4 mm) đạt 75,6% ngay sau mổ và 87,8% sau 1 tháng (p < 0,01). Không ghi nhận tổn thương niệu quản độ ≥ 2, đa số ở độ 1 (69,9%). Thời gian nằm viện trung bình 4,89 ± 4,51 ngày, chủ yếu 3–4 ngày (70,7%). Thời gian lưu JJ trung bình 14,04 ± 8,32 ngày, đa số 8–14 ngày (65,9%). Kết luận: fURS kỹ thuật số là phương pháp an toàn, hiệu quả, tỷ lệ sạch sỏi cao, biến chứng thấp và thời gian hồi phục ngắn, phù hợp triển khai tại các trung tâm ngoại khoa lớn.





