CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
101 Kiến thức, thái độ và rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ ở người chăm sóc / Tống Thị Huế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 113 - 117 .- 610

Khảo sát kiến thức về rối loạn phổ tự kỷ và thái độ, rào cản tiếp cận dịch vụ chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ ở người chăm sóc trẻ tự kỷ. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Kết quả: 150 người chăm sóc trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ được đưa vào nghiên cứu. Kết quả có 73,3% người chăm sóc trẻ đã từng được tiếp cận kiến thức về rối loạn phổ tự kỷ nhưng hầu hết tổng điểm kiến thức ở mức trung bình và dưới trung bình (62,8% và 31,8%). Nguồn tiếp cận kiến thức chủ yếu từ Internet (89,1%), trong khi nguồn từ nhân viên y tế (12,7%) và trường học (9,1%) còn thấp. Kiến thức tốt hơn ở nhóm người chăm sóc có trình độ từ trung cấp trở lên, nhóm có nghề nghiệp là cán bộ viên chức và nhóm sống ở khu vực thành thị (p < 0,05). Có 84,7% người chăm sóc đã có thái độ trì hoãn không cho trẻ đi khám ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường. Khi phát hiện trẻ có bất thường về phát triển 49,4% người chăm sóc đưa trẻ đi khám tại các phòng khám nhi, chỉ 18,1% trẻ được khám tại phòng khám chuyên khoa tâm thần. Rào cản tiếp cận chẩn đoán chủ yếu do còn thiếu kiến thức và nhận thức: Có 66,3% người chăm sóc cho rằng những bất thường mà họ thấy ở trẻ không phải là bệnh nên không cần đi khám, 87,3% người chăm sóc muốn chờ đợi thêm, 44% bị ảnh hưởng bởi ý kiến gia đình; 8,7% từng khám nhưng được bác sĩ kết luận trẻ bình thường hoặc mắc bệnh khác dẫn đến chủ quan. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy phần lớn người chăm sóc vẫn chưa có đủ kiến thức và thái độ chủ động trong việc đưa trẻ đi khám dẫn tới những rào cản tiếp cận chẩn đoán do thiếu hiểu biết. Do đó, việc tăng cường truyền thông, nâng cao kiến thức về rối loạn phát triển cho cộng động là vô cùng quan trọng giúp cải thiện khả năng phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ.

102 Nồng độ huyết thanh một số cytokine (GM-CSF, IL-10, IL-12 và IL-17a) trong bệnh hồng ban đa dạng lan tỏa / Trần Thị Huyền, Nguyễn Thị Hà Vinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 108 - 113 .- 610

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 33 bệnh nhân được chẩn đoán hồng ban đa dạng (erythema multiforme-EM) có thương tổn da lan tỏa tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 4 năm 2017 tới tháng 8 năm 2019 nhằm khảo sát nồng độ huyết thanh một số cytokine. Sử dụng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang (fluorescence covalent microbead immunosorbent assay) phát hiện đồng thời nhiều cytokine: yếu tố kích thích dòng tế bào hạt-đại thực bào (granulocyte-macrophage colony-stimulating factor, GM-CSF), interleukin(IL)-10 và IL-12 và IL-17A. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân EM có thương tổn lan tỏa là 42,2. Có 22 bệnh nhân (66,7%) có thời gian bị bệnh dưới 1 tuần. Có 60,6% bệnh nhân có tiền sử dùng thuốc trước khi bị bệnh. Chỉ có 15,2% bệnh nhân có thương tổn niêm mạc. Ở nhóm EM, nồng độ huyết thanh GM-CSF, IL-12 và IL-17A lần lượt là 5,43±13,22 pg/ml; 0,92±2,19 pg/ml và 0,28±0,29 pg/ml; thấp hơn so với nhóm khỏe mạnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 hay p<0,01. Nồng độ huyết thanh GM-CSF, IL-12 và IL- 17A ở nhóm khỏe mạnh lần lượt là 31,99±31,64 pg/ml; 5,47±4,5 pg/ml và 1,46±2,18 pg/ml. Nồng độ huyết thanh IL-10 của nhóm EM là 9,86±15,29 pg/ml, không khác biệt so với nhóm khỏe mạnh (11,84±11,09 pg/ml). Không có mối tương quan giữa nồng độ huyết thanh các cytokine với tuổi của các bệnh nhân EM.

103 Thực trạng bệnh viêm lợi ở bệnh nhân sau xạ trị ung thư đầu cổ tại Bệnh viện K năm 2023-2024 / Hà Ngọc Chiều, Lê Thị Thuỳ Linh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 105 - 108 .- 610

Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng bệnh viêm lợi của bệnh nhân sau xạ trị ung thư đầu cổ tại bệnh viện K năm 2023-2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 156 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, đã xạ trị ung thư đầu cổ từ tháng 02 năm 2023 đến tháng 9 năm 2024. Các bệnh nhân được thăm khám, đánh giá tình trạng viêm lợi sau điều trị tia xạ 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và trên 3 tháng. Kết quả: Tỷ lệ viêm lợi là 82,1% trong đó tỷ lệ viêm lợi ở nhóm 35-59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (86,0%) và tỷ lệ viêm lợi ở nam giới (86,1%) cao hơn nữ giới (70,7%). Tỷ lệ viêm lợi sau 1 tháng xạ trị là 91,4% và giảm dần sau 2, 3 tháng xạ trị, sau 3 tháng xạ trị tỷ lệ viêm lợi tăng nhẹ. Kết luận: Sau 1, 2 và 3 tháng xạ trị, bệnh nhân ung thư đầu cổ có tỷ lệ bệnh viêm lợi ở mức cao nhưng có xu hướng giảm dần, tuy nhiên từ sau 3 tháng xạ trị tỷ lệ bệnh tăng nhẹ trở lại. Cần tiến hành thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá được chính xác hơn tỷ lệ và sự thay đổi của bệnh trên nhóm bệnh nhân này.

104 Tổng quan ứng dụng kích thích từ trường xuyên sọ lập lại (rTMS) trong phục hồi vận động sau đột quỵ (2015–2025) / Lê Hoàng Ngọc Trâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 369 - 374 .- 610

Tổng quan các bằng chứng về hiệu quả và an toàn của kích thích từ xuyên sọ lặp lại (rTMS) trong phục hồi vận động sau đột quỵ giai đoạn 2015 – 2025. Phương pháp: Tổng quan phạm vi theo hướng dẫn PRISMA-ScR; tìm kiếm PubMed, Google Scholar và các tạp chí y học Việt Nam (tiếng Anh – tiếng Việt) trong khung thời gian 2015 – 2025 với các từ khóa “repetitive transcranial magnetic stimulation”, “rTMS”, “stroke”, “motor recovery”; chọn các nghiên cứu gốc (RCT, quan sát) và tổng quan hệ thống liên quan đến phục hồi vận động sau đột quỵ. Kết quả: Tổng cộng 30 nghiên cứu đáp ứng tiêu chí (27 RCT, 3 nghiên cứu quan sát, 12 tổng quan/meta-analysis). Phần lớn can thiệp dùng rTMS tần số thấp 1 Hz lên bán cầu lành hoặc tần số cao 5–10 Hz/ iTBS lên bán cầu tổn thương, kết hợp phục hồi chức năng chuẩn. So với chứng/sham, rTMS giúp tăng điểm Fugl-Meyer chi trên trung bình ≈5 điểm, cải thiện sức cơ và khả năng sinh hoạt hằng ngày; hiệu quả rõ nhất trong ≤6 tháng đầu và ở bệnh nhân liệt nặng. Không ghi nhận biến cố nghiêm trọng liên quan rTMS; các tác dụng phụ nhẹ (đau đầu, khó chịu da đầu) thoáng qua. Kết luận: rTMS là biện pháp bổ trợ an toàn, tiềm năng giúp tăng tốc và tăng mức độ phục hồi vận động sau đột quỵ, đặc biệt khi áp dụng sớm cùng chương trình tập luyện. Cần thêm RCT đa trung tâm quy mô lớn và nghiên cứu cơ chế để chuẩn hóa giao thức và tối ưu hóa lựa chọn bệnh nhân, đồng thời khuyến khích nghiên cứu tại Việt Nam để khẳng định giá trị thực hành.

105 Nghiên cứu mối liên quan giữa tuổi động mạch, vận tốc sóng mạch cảnh - đùi và mức độ tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát nghi ngờ bệnh mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2024 - 2025 / Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Thị Diễm, Lê Tân Tố Anh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 366 369 .- 610

Xác định tuổi động mạch, vận tốc sóng mạch cảnh – đùi và mối liên quan với mức độ tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát nghi ngờ bệnh mạch vành. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 61 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 06/2024 đến tháng 01/2025. Bệnh nhân được khám lâm sàng, tính tuổi động mạch, đo vận tốc sóng mạch cảnh-đùi (cfPWV) và chụp mạch vành qua da xác định tổn thương. Kết quả: Tuổi trung bình 62,31 ± 9,31 tuổi, nam giới 47,5%. Tuổi động mạch và cfPWV lần lượt là 76,85 ± 7,19 tuổi và 11,35 ± 2,26m/s. Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ tăng cfPWV với OR là 4,14 và những bệnh nhân hẹp nặng động mạch vành có cfPWV trung bình cao hơn nhóm hẹp không nặng, 12,11 ± 1,83m/s so với 10,19 ± 2,39m/s. Trong mô hình hồi quy đa biến, tăng cfPWV là yếu tố nguy cơ độc lập của hẹp nặng mạch vành với OR=4,33. Kết luận: Trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát nghi ngờ bệnh mạch vành, tuổi động mạch cao hơn tuổi thực. Tăng vận tốc sóng mạch cảnh-đùi làm tăng nguy cơ hẹp động mạch vành mức độ nặng.

106 Thực trạng sức khỏe răng miệng ở trẻ 3-5 tuổi tại Bà Rịa - Vũng Tàu : nghiên cứu cắt ngang / Lê Trung Chánh, Hồ Hữu Tiến, Trương Đức Kỳ Trân, Ngô Thị Quỳnh Lan // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 374 - 378 .- 610

Đánh giá tình trạng sức khỏe răng miệng của trẻ em từ 3 đến 5 tuổi tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, căn cứ vào các chỉ số sâu mất trám (smt-r), chỉ số chảy máu khi thăm dò (BOP) và chỉ số Dean (đánh giá tình trạng nhiễm fluor trên răng). Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện vào tháng 5 năm 2024 trên 2387 trẻ mầm non, được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện phân tầng, mẫu nghiên cứu gồm 16 trường mẫu giáo ở khu vực thành thị và nông thôn. Khám lâm sàng các chỉ số smt-r, chỉ số sâu răng, chỉ số BOP và chỉ số Dean tuân theo hướng dẫn của WHO (2013), dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả, kiểm định Chi bình phương và Mann-Whitney (mức ý nghĩa p < 0,05). Kết quả: Chỉ số smt-r tăng dần theo độ tuổi từ 5,15 ở trẻ 3 tuổi đến 8,19 ở trẻ 5 tuổi và cao hơn rõ rệt ở khu vực nông thôn so với thành thị (p < 0,001). Chỉ số sâu răng (S-index) chiếm tỉ lệ rất cao trong chỉ số smt-r. Tỷ lệ BOP dao động từ 6,08% đến 7,73% và không đáng lo ngại. Chỉ số Dean ghi nhận ở mức thấp (0,11 – 0,15), thể hiện tình trạng nhiễm flour trên răng không gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng trẻ mẫu giáo Bà Rịa Vũng Tàu. Kết luận: Sâu răng vẫn là vấn đề cần được quan tâm ở trẻ mầm non tại Bà Rịa – Vũng Tàu, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Vì thế các can thiệp nha khoa cộng đồng như bôi Vecni fluor, giáo dục vệ sinh răng miệng cho phụ huynh và kiểm tra răng miệng định kỳ là cần thiết nhằm cải thiện sức khỏe răng miệng cho trẻ.

107 Khảo sát các yếu tố liên quan tử vong ở bệnh nhân viêm phổi bệnh viện do Acinetobacter baumannii tại Khoa Hô hấp – Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2024–2025 / Đặng Vũ Thông, Vũ Hoài Nam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 361 - 366 .- 610

Viêm phổi bệnh viện do Acinetobacter baumannii đa kháng thuốc tiếp tục là nguyên nhân quan trọng làm gia tăng tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian nằm viện ở bệnh nhân nặng. Việc nhận diện các yếu tố liên quan tử vong giúp bác sĩ lâm sàng tối ưu hóa điều trị và tiên lượng sớm. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân viêm phổi bệnh viện do A. baumannii điều trị tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 76 bệnh nhân viêm phổi bệnh viện có phân lập A. baumannii từ dịch tiết hô hấp, điều trị tại khoa Hô hấp từ 10/2024 đến 04/2025. Các biến số về lâm sàng, cận lâm sàng, kháng sinh đồ và kết cục được thu thập và phân tích. Kết quả: Tỷ lệ tử vong là 46,1%. Nhịp mạch khi nhập viện có sự khác biệt thống kê giữa nhóm tử vong và sống còn. Ngoài ra, giảm lymphocyte, giảm tiểu cầu và giảm eGFR được ghi nhận rõ hơn ở nhóm tử vong. Toàn bộ chủng A. baumannii đều kháng carbapenem (100%) và đa kháng (100%), với tỷ lệ kháng cotrimoxazol 82,9%, gentamicin 97,4%, nhưng còn nhạy với colistin (MIC ≤ 1 ở 98,6%). Sau khi có kháng sinh đồ, tỷ lệ sử dụng colistin tăng lên 67,1%. Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy tiểu cầu thấp liên quan đáng kể đến nguy cơ tử vong (p=0,003). Kết luận: Các chỉ số về huyết học và chức năng thận có thể hỗ trợ nhận diện nhóm bệnh nhân viêm phổi bệnh viện do A. baumannii có nguy cơ tử vong cao do tình trạng đa kháng thuốc.

108 Định danh loài nấm men gây bệnh nấm móng và khảo sát sự nhạy cảm với thuốc kháng nấm / Ngô Thị Minh Châu, Phan Thị Hồng Nhi, Tôn Thất Đông Dương, Đỗ Thị Bích Thảo // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 56-64 .- 610

Nấm móng là bệnh tương đối phổ biến trong các bệnh lý da liễu. Trong các tác nhân nấm men gây bệnh, Candida albicans là loài phổ biến nhất. Ngoài ra bệnh nguyên khác là non - albicans Candida và một số giống nấm men khác. Các loài non - albicans Candida thường ít nhạy cảm với thuốc kháng nấm hơn so với C. albicans. Mục tiêu: 1. Định danh các loài nấm men gây bệnh nấm móng bằng kỹ thuật nuôi cấy trên môi trường sinh màu và thử nghiệm đồng hóa đường bằng test API 20C. 2. Khảo sát sự nhạy cảm với một số thuốc kháng nấm bằng kỹ thuật khuếch tán trên đĩa thạch. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 39 bệnh nhân có tổn thương móng đến khám tại Phòng khám Da liễu, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Da liễu thành phố Huế trong thời gian từ 10/2023 đến 05/2024. Kết quả: C. parapsilosis là loài phổ biến nhất 46%, tiếp đến là C. tropicalis 16%, C. albicans 12%, C. guilliermondii 8%, C. famata 4%. Một số loài nấm men khác gồm T. asahi (12%), T. muicoides (2%) cũng được phân lập. Không ghi nhận có tình trạng đề kháng của Candida spp. với amphotericine B, nystatin, itraconazole, clotrimazole. Tỷ lệ đề kháng của Candida spp. với fluconazole, voriconazole, ketoconazole, miconazole lần lượt là: 32,6%, 25,6%, 9,3%, 27,9%. C. albicans nhạy cảm tốt với hầu hết các thuốc thử nghiệm, trừ fluconazole. Ghi nhận các non - albicans Candida đề kháng với tất cả thuốc azole, trong đó C. tropicalis có tỷ lệ đề kháng cao nhất. Trichosporon spp. nhạy cảm với tất cả các thuốc thử nghiệm, trừ ketoconazole. Kết luận: C. parapsilosis là loài được phân lập nhiều nhất ở các bệnh nhân nấm móng. Các loài non- albicans Candida đề kháng thuốc azole hơn C. albicans. C. tropicalis có tỷ lệ kháng các thuốc azole cao nhất.

109 Đánh giá hiệu quả giảm đau của dexamethasone tĩnh mạch phối hợp gây tê thần kinh đùi trong phẫu thuật thay khớp háng / Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Thị Phương Dung, Hoàng Quốc Thắng // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 66-73 .- 610

Gây tê thần kinh đùi liều đơn là kỹ thuật có hiệu quả giảm đau tốt sau phẫu thuật thay khớp háng. Liệu việc sử dụng dexamethasone tĩnh mạch phối hợp với gây tê thần kinh đùi liều đơn có giúp kéo dài thời gian giảm đau, giảm tổng liều opioid tiêu thụ hay không? Dexamethasone tĩnh mạch giúp kéo dài thời gian giảm đau của gây tê thần kinh đùi, giảm tổng liều morphine tiêu thụ trong 24 giờ sau phẫu thuật thay khớp háng.

110 Hiệu quả của vecni fluor trong phòng ngừa sâu răng ở trẻ 3 tuổi tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu / Lê Trung Chánh, Tôn Thất Đam Triều, Hồ Hữu Tiến, Hoàng Trọng Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 357 - 361 .- 610

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của việc bôi vecni fluor định kỳ trong phòng ngừa tiến triển sâu răng sớm ở trẻ 3 tuổi đang tham gia chương trình nha học đường, tại các thời điểm sau 3, 6 và 9 tháng can thiệp. Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) được tiến hành trên 880 trẻ 3 tuổi từ 16 trường mầm non tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau sàng lọc, 768 trẻ có chỉ số sâu răng s1mt-r > 0 được chọn và chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm can thiệp (n=406) được bôi vecni fluor mỗi 3 tháng; nhóm chứng (n=362) không được bôi vecni fluor. Cả hai nhóm đều đang được hưởng lợi từ chương trình nha học đường hiện hành của tỉnh. Tình trạng sâu răng được đánh giá theo hệ thống ICDAS bởi 4 điều tra viên đã được huấn luyện và chuẩn hóa (Kappa ≥ 0,84), ghi nhận ở hai mức độ: sang thương chưa tạo lỗ (s1) và có tạo lỗ (s3). Các chỉ số s1mt-r, s3mt-r và OHIS được thu thập tại các thời điểm T0, T1 (3 tháng), T2 (6 tháng) và T3 (9 tháng). Phân tích thống kê sử dụng kiểm định Chi bình phương, kiểm định T độc lập và kiểm định T bắt cặp. Kết quả: Chỉ số OHIS tăng ở cả hai nhóm theo thời gian nhưng không có sự khác biệt giữa nhóm (p=0,786). Từ T0 đến T3, chỉ số s1mt-r ở nhóm can thiệp gần như không thay đổi (∆ = 0,02; p=0,928), trong khi nhóm chứng tăng đáng kể (∆ = 0,81; p=0,007); sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p=0,042). Với chỉ số s3mt-r, mức tăng từ T0 đến T3 ở nhóm can thiệp là 0,94 (p<0,001), thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng là 1,66 (p<0,001); sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,013). Kết luận: Việc bôi vecni fluor định kỳ mỗi 3 tháng giúp làm chậm tiến triển sâu răng ở trẻ mầm non, kể cả khi trẻ đang được thụ hưởng chương trình nha học đường. Đây là một biện pháp dự phòng khả thi và hiệu quả, phù hợp để lồng ghép vào chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng học đường tại Việt Nam.