CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
91 Nghiên cứu một số đặc điểm người bệnh được truyền máu tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2021 - 2023 / Nguyễn Văn Huyền, Trần Thu Hà, Vũ Minh Tâm, Phạm Mỹ Ánh, Phạm Quang Vinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 139 - 146 .- 610

Nghiên cứu đặc điểm của bệnh nhân được truyền máu cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan về truyền máu, nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh, từ đó giúp cho việc dự trù và cấp phát máu kịp thời cho các chuyên khoa điều trị. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm và khảo sát đặc điểm phân bố của người bệnh được truyền máu tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2021 - 2023. Đối tượng: Gồm 37.928 bệnh nhân được truyền máu trong quá trình điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ 01/2021 đến ngày 12/2023. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Kết quả: tỷ lệ bệnh nhân nam 60,9% cao hơn nữ 39,1% và gặp nhiều nhất ở độ tuổi > 55 tuổi với tỷ lệ 60,2%. Tỷ lệ nhóm máu hệ ABO ở bệnh nhân truyền máu cao nhất nhóm máu O, thấp nhất nhóm máu AB, tiếp theo nhóm B cao hơn nhóm A, tỷ lệ bệnh nhân truyền máu từ 2-5 lần chiếm tỷ lệ cao nhất 45,3% và có xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ bệnh nhân truyền máu ở chuyên khoa nội chiếm 80,3% cao hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân ngoại khoa chiếm 13,8%. Trong đó nhóm bệnh nội khoa gặp nhiều ở các khoa điều trị tiêu hóa với 18,3%, thận tiết niệu là 13,8%, tiếp theo là Huyết học với 11,3%, Cấp cứu 10,9%, Tim mạch 10,3%,. Nhóm bệnh ngoại khoa gặp tỷ lệ cao nhất ở khoa Gây mê hồi sức với 38,1%, tiếp theo là phẫu thuật tim mạch với 24,0%, ngoại tổng hợp 12,1%, chấn thương chỉnh hình và cột sống (CH&CS) với 11%.

92 Đánh giá tình hình cung cấp máu và chế phẩm máu cho bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (2018-2022) / Hoàng Nhật Lệ, Đặng Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Nhất Quyên, Nguyễn Thị Thu Thủy, Đinh Văn Thể, Đoàn Thị Đức Hạnh, Nguyễn Hoàng Minh, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 132 - 138 .- 610

Đánh giá tình hình cung cấp máu và chế phẩm máu cho bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (2018-2022). Đối tượng: 573.854 đơn vị máu và chế phẩm máu từ tháng 1 năm 2018 đến 31 tháng 12 năm 2022. Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang, hồi cứu Kết quả nghiên cứu: Trong 5 năm 2018- 2022 số lượng máu và chế phẩm máu cung cấp cho bệnh viện Bạch Mai là 573.854 đơn vị chiếm tỷ lệ 21,2%. Trong đó khối hồng cầu 227.376 đơn vị chiếm tỷ lệ 12,6%, khối tiểu cầu 85.376 đơn vị chiếm tỷ lệ 22%, huyết tương tươi 244.512 đơn vị chiếm tỷ lệ 38,1%, tủa lạnh yếu tố VIII 16.590 đơn vị chiếm tỷ lệ 16,4%. Tỷ lệ đáp ứng/dự trù cao nhất là huyết tương, khối hồng cầu, khối tiểu cầu lần lượt là 95,3%; 91,9% và 87,4%, thấp nhất là tủa lạnh yếu tố VIII tỷ lệ đáp ứng chỉ đạt 56,3%. Tỷ lệ đổi trả máu và chế phẩm máu cao nhất là khối tiểu cầu 17.007 đơn vị (tiểu cầu pool 9.912 đơn vị và tiểu cầu máy 7.095 đơn vị) và ít nhất là tủa lạnh yếu tố VIII 58 đơn vị. Tỷ lệ hủy chế phẩm máu cao nhất là huyết tương tươi năm 2018 là 1.140 đơn vị chiếm tỷ lệ 2,30% và thấp nhất năm 2022 là 114 đơn vị chiếm tỷ lệ 0,22%. Tỷ lệ vận chuyển cấp cứu máu và chế phẩm máu cao nhất năm 2022 là 2,2% và thấp nhất là 1,7% năm 2020.

93 Một số kết quả bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoàn thiện phiếu đăng ký hiến máu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương năm 2020-2022 / Đỗ Hoài Biên, Lê Diệu Thúy, Trần Ngọc Quế, Trần Thị Diệp, Nguyễn Thị Hiền, Cao Xuân Hùng, Hà Hữu Nguyện // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 127-131 .- 610

Một số kết quả bước đầu trong hoàn thiện phiếu đăng ký hiến máu (PĐKHM) tại điểm hiến máu trong 3 năm (2020-2022). Đối tượng: 1.150.883 lượt người hiến máu do Viện tiếp nhận. Phương pháp: Cắt ngang, hồi cứu, chọn mẫu toàn bộ. Kết quả: Viện đã thực hiện hoàn thiện PĐKHM đạt 30,8% tăng dần từ 5,5% năm 2020 lên 32,1% năm 2021 và 51,1% năm 2022. Đa dạng các hình thức tiếp đón và tăng dần với năm 2022 tiếp đón qua App Hiến máu tăng gấp 7,4 lần năm 2020 và tương đương với năm 2021, qua Link Hiến máu tăng 9,2 lần năm 2021, qua giấy tờ tuỳ thân tăng 7,3 lần năm 2020 và 1,6 lần năm 2021. In PĐKHM hỗ trợ rút ngắn thời gian tiếp đón từ 4,63 phút xuống 2,18 phút trong mỗi lần tiếp đón. Cùng với việc cải thiện quy trình nhập và quản lý hồ sơ NHM, thời gian nhập mỗi hồ sơ giảm dần, giúp tăng số lượng nhập hồ sơ theo mỗi nhân viên và rút ngắn số ngày hoàn thiện hồ sơ theo điểm hiến máu từ 4,57 ngày xuống còn 2,7 ngày. Kết luận: Hoàn thiện PĐKHM được triển khai tăng dần hàng năm với đa dạng các ứng dụng hỗ trợ NHM đăng ký cũng như tiếp đón linh hoạt qua App, Link, giấy tờ tùy thân. Hiệu quả của hoàn thiện PĐKHM giúp giảm thời gian tiếp đón, rút ngắn thời gian nhập và trả kết quả cho NHM, hướng tới đảm bảo chất lượng đơn vị máu và sự hài lòng của NHM.

94 Thực trạng nhận thức của người hiến máu về giá trị, quản lý và sử dụng giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện năm 2023 / Triệu Thị Biển, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Duy Đông, Phạm Thị Thắm, Phạm Anh Tuấn, Trần Thị Huệ, Trịnh Lan Anh, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 119 - 126 .- 610

Khảo sát thực trạng nhận thức của người hiến máu về giá trị, quản lý và sử dụng giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương năm 2023. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang có phân tích chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng ở 2.843 người hiến máu tình nguyện trong tháng 6, 7/2023. Kết quả: 17% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có nhận thức đầy đủ về giấy chứng nhận (GCN) hiến máu tình nguyện (HMTN), 83% có nhận thức chưa đầy đủ; Tuổi từ 18 – 35, là cán bộ/nhân viên, đã hiến máu ≥2 lần và hiến máu tại các điểm HMCĐ có tỷ lệ nhận thức đầy đủ cao hơn các nhóm còn lại (p<0,05). Kết luận: Nhận thức của người hiến máu về giá trị, quản lý và sử dụng GCN HMTN còn hạn chế; Các yếu tố độ tuổi, số lần hiến máu, nghề nghiệp, địa điểm hiến máu có ảnh hưởng đến mức độ nhận thức của người hiến máu.

95 Khảo sát kiến thức, thái độ về hiến máu tình nguyện của người tham gia hiến máu tại chương trình hiến máu Hành trình đỏ năm 2023 / Trần Ngọc Quế, Chử Nhất Hợp, Phạm Minh Hùng, Nguyễn Diệu Anh, Nguyễn Hà Thanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 113 - 118 .- 610

Khảo sát thực trạng kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan về hiến máu tình nguyện của người tham gia hiến máu tại chương trình Hành Trình Đỏ năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Khảo sát cắt ngang thực hiện trên 1.155 người hiến máu tình nguyện, trong đó 50,3% là nam giới, 49,7% là nữ giới. Kết quả: Các kiến thức được trả lời chính xác cao: độ tuổi hiến máu 90,6%; cân nặng tham gia hiến máu 78,8%; thời gian hiến máu nhắc lại 72,9%. Thái độ ủng hộ người thân tham gia hiến máu đạt 99,6%; có ý định hiến máu nhắc lại đạt 99,5%. Lý do hiến máu để làm gương 37%, để được xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe 27,8%. Kênh truyền thông được nhắc đến nhiều nhất là cơ quan, trường học 49,1%; mạng xã hội, facebook, tiktok…34,6%. Có mối tương quan thuận giữa giới tính với việc tiếp cận thông tin tại cơ quan, nhà trường; mong muốn hiến máu để làm gương. Kết luận: Kiến thức về hiến máu tình nguyện của người tham gia nghiên cứu ở mức độ tốt, họ có thái độ tích cực ủng hộ hoạt động hiến máu và người thân tham gia hiến máu. Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có lý do hiến máu phần lớn là để cứu người, bên cạnh đó là để được trở thành tấm gương, được xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe. Các kênh tuyên truyền vận động mang lại hiệu quả và tiếp cận tốt nhất là cơ quan, trường học, mạng xã hội, facebook, tiktok.

96 Xác định tỷ lệ kiểu hình nhiễm viêm gan B tiềm ẩn ở người hiến máu tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Trần Thị Ngọc Hà, Nguyễn Phương Liên, Trần Khánh Linh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 192 - 200 .- 610

Xác định tỷ lệ kháng huyết thanh trong nhóm viêm gan B tiềm ẩn. Xác định tỷ lệ kiểu hình trong viêm gan B tiềm ẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 61 mẫu máu người hiến có kết quả xét nghiệm HBsAg âm tính và HBV-DNA dương tính. Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang, thực hiện 5 xét nghiệm dấu ấn huyết thanh học: Anti-HBs, Anti-HBc, Anti-HBc IgM, HBeAg, Anti-HBe bằng kỹ thuật hóa phát quang và điện hóa phát quang. Kết quả: Dựa trên xét nghiệm anti-HBc và anti-HBs xác định nhóm OBI kháng huyết thanh âm tính với kiểu hình anti-HBc(-), anti-HBs (-) chiếm tỷ lệ 9,84%; Nhóm OBI kháng huyết thanh dương tính chiếm tỷ lệ 90,06% với 3 kiểu hình: Anti-HBc (+)/anti-HBs (-) chiếm tỷ lệ 45,9%; Anti-HBc (-)/anti-HBs (+) chiếm tỷ lệ 18,03%; Anti-HBc (+)/anti-HBs (+) chiếm tỷ lệ 26,23%. Xét nghiệm 5 dấu ấn huyết thanh học anti-HBc, anti-HBc IgM, anti-HBs, HBeAg, anti- HBe trên những người nhiễm viêm gan B tiềm ẩn giúp phân loại được 7 kiểu hình trong đó kiểu hình thuộc giai đoạn cửa sổ trong nhiễm HBV cấp tính chiếm tỷ lệ 9,84%. Kiểu hình thuộc giai đoạn cấp tính muộn hay giai đoạn hồi phục sớm chiếm tỷ lệ 4,92%. Còn lại là các kiểu hình nhiễm OBI với giai đoạn mạn tính. Kết luận: Nhóm viêm gan B tiềm ẩn kháng huyết thanh âm tính chiếm tỷ lệ chỉ bằng 1/10 nhóm kháng huyết thanh dương tính và hơn 80% tỷ lệ kiểu hình nhiễm viêm gan B tiềm ẩn thuộc giai đoạn mạn tính.

97 Nhân một trường hợp bạch cầu cấp dòng tiền tủy bào phát hiện sau điều trị bạch cầu mạn dòng tủy BCR/ABL dương / Phan Văn Hiếu, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Lê Thanh Chang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 520 - 526 .- 610

Bạch cầu cấp dòng tiền tủy bào (APL) là một dạng bạch cầu cấp đặc biệt, liên quan đến sự chuyển vị giữa nhiễm sắc thể (NST) 15 và 17, tạo ra tổ hợp gen PML-RARA. APL là một trong những dạng bạch cầu cấp nguy hiểm nhất do tình trạng rối loạn đông máu gây ra, nhưng có thể được điều trị hiệu quả bằng all-trans-retinoic acid (ATRA) và arsenic trioxide (ATO). Bạch cầu mạn dòng tủy (CML) là bệnh lý tăng sinh tủy mạn tính liên quan đến sự hiện diện của NST Philadelphia (NST Ph+), kết quả từ sự chuyển vị giữa NST 9 và 22, tạo ra tổ hợp gen BCR-ABL1. Điều trị CML chủ yếu dựa vào các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI). Tuy nhiên sự tiến triển CML Ph+ thành APL là rất hiếm. Trong bài này chúng tôi báo cáo trường hợp người bệnh nam 24 tuổi được chẩn đoán CML Ph+ vào năm 2010 được điều trị bằng imatinib. Sau 14 năm, người bệnh chuyển thành APL với các đột biến đồng thời BCR-ABL1 và PML-RARA, qua đây chúng tôi muốn thảo luận thêm về chẩn đoán và điều trị cho trường hợp bệnh hiếm này.

98 Đánh giá vai trò của xét nghiệm hoạt độ Adamts13 trong bệnh ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Nguyễn Ngọc Sang, Trần Hồng Trúc, Phạm Thanh Thủy Hồng, Phạm Thị Tuyết Minh, Nguyễn Thị Kim Ngân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 510 - 519 .- 610

Mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Xác định mối liên quan giữa xét nghiệm ADAMTS13 với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 trong chẩn đoán TTP. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca, hồi cứu trên tất cả người bệnh nội trú được chỉ định xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 tại bệnh viện Truyền máu Huyết học từ năm 2019-2023. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 127 người bệnh, tỉ lệ người bệnh có giảm hoạt độ ADAMTS13<10% là 46,5%. Nghiên cứu cho thấy khi có càng nhiều triệu chứng của ngũ chứng thì tỉ lệ người bệnh có hoạt độ ADAMTS13<10% càng tăng. Tất cả người bệnh có hoạt độ ADAMTS13<10% đều có điểm PLASMIC ≥5 điểm. Sự tăng tỉ lệ hồng cầu lưới, tăng mảnh vỡ hồng cầu, giảm Haptoglobin, tăng LDH, và giảm PLT có liên quan với sự giảm hoạt độ ADAMTS13. Tại mức ADAMTS13<10% xét nghiệm có độ nhạy là 92,5%, độ đặc hiệu là 74,4%, giá trị tiên đoán dương là 62,7%, giá trị tiên đoán âm là 95,6% trong chẩn đoán TTP. Kết luận: Việc chỉ định xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 ở những người bệnh nghi ngờ TTP là rất cần thiết để xác định chẩn đoán và đưa ra những quyết định điều trị phù hợp nhất cho người bệnh.

99 Bước đầu đánh giá bệnh tồn lưu tối thiểu trên người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy mang đột biến gen NPM1 type a bằng kỹ thuật RQ-PCR / Cao Văn Động, Châu Thúy Hà, Võ Lâm Hoàng Vũ, Phù Chí Dũng, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 377 - 389 .- 610

Xác định bệnh tồn lưu tối thiểu trên người bệnh Bạch cầu cấp dòng tủy mang đột biến gen NPM1 type A bằng kỹ thuật RQ-PCR. Đối tượng: Người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy mang đột biến gen NPM1 type A lúc chẩn đoán tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 10/2022 đến tháng 10/2023. Phương pháp nghiên cứu: Tạo dòng plasmid từ DNA mẫu bệnh nhân bằng kit pGEMT Easy vector TA cloning để xây dựng đường cong chuẩn. Phản ứng RQ-PCR được thực hiện với mẫu nồng độ chuẩn, mồi, đầu dò và 2X PrimeTime® Gene Expression Master Mix (Integrated DNA Technologies-Mỹ) để tối ưu hóa. Xác định bệnh tồn lưu tối thiểu trên người bệnh bằng kỹ thuật RQ-PCR. Kết quả: Chúng tôi đã chuẩn hóa thành công phản ứng RQ-PCR để định lượng đột biến NPM1 type A với độ nhạy 10-5. Dựa trên kết quả động học của bệnh tồn lưu tối thiểu, có 13/17 NB cho thấy mức giảm 3 log10 NPM1 sau điều trị. Kết luận: Kỹ thuật RQ-PCR đường chuẩn có thể xác định dòng đột biến NPM1 type A ở mức thấp, là công cụ hữu ích trong theo dõi tồn lưu tế bào ác tính mang đột biến NPM1 type A.

100 Xác định đột biến gen C-Kit D816V bằng phương pháp real-time PCR trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy tại bệnh viện Bạch Mai / Nguyễn Thị Cúc Nhung, Vũ Hoàng, Vũ Minh Phương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 390 - 398 .- 610

Đột biến gen c-Kit D816V là đột biến trên gen c-Kit tại vị trí codon 816, thay thế acid amin aspatart thành valin, từ đó làm thay đổi sự dẫn truyền tín hiệu. Đột biến này được nhiều nghiên cứu cho thấy như loại đột biến thứ phát trên bệnh lơ xê mi cấp dòng tủy và có ý nghĩa tiên lượng xấu cho nhóm bệnh nhân này. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu là nhận xét đặc điểm đột biến gen C-kit D816V bằng phương pháp real-time PCR và mô tả một số ca bệnh có đột biến gen C-kit D816V. Nghiên cứu được thiết kế là nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc trên 75 bệnh nhân được chẩn đoán lơ xê mi cấp dòng tủy được chẩn đoán lần đầu tại Bệnh viện Bạch Mai. Từ những kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận xét một số đặc điểm của đột biến gen C-Kit D816V được phát hiện bằng phương pháp Real-time PCR, sử dụng bộ kit geneMAP c-Kit D816V Mutation Detection Kit (Genmark, Thổ Nhĩ Kỳ) trên thiết bị Biorad CFX96 (Biorad, Mỹ). Tỷ lệ đột biến c-Kit D816V ở 75 bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy, tại Bệnh viện Bạch Mai là 2,7%. Theo dõi dọc hai trường hợp có đột biến c-Kit D816V đều có kết cục xấu. Trường hợp bệnh nhân trẻ tuổi, thể trạng tốt thì có thời gian tái phát sớm. Bệnh nhân này có thời gian sống toàn bộ là 09 tháng, thời gian sống không bệnh là 02 tháng. Trường hợp bệnh nhân lớn tuổi có thời gian sống thêm rất ngắn. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu về nhận xét tiên lượng của đột biến c-Kit D816V trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy. Những kết quả bước đầu này gợi ý cần thực hiện nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để tìm hiểu về đột biến c-Kit D816V trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy.