CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
11 Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy xương bệnh lý của xương dài do di căn xương / Phạm Thanh Nhã, Lê Văn Thọ, Ngô Viết Nhuận // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 474 - 480 .- 610

Di căn xương là nguyên nhân phổ biến nhất trong những tổn thương hủy xương ở người trên 40 tuổi. Các sự cố liên quan xương do di căn gây tăng đau đáng kể, mất chức năng và kết hợp với tỉ lệ tử vong cao. Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi thực hiện một nghiên cứu mô tả các trường hợp gãy xương bệnh lý của xương dài do di căn xương được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình từ 9/2023 đến 9/2024. Kết quả: 20 trường hợp được bao gồm trong nghiên cứu, trong đó có 16 trường hợp ở xương đùi, 2 trường hợp ở xương cánh tay và 2 trường hợp ở xương chày. Các bệnh nhân được điều trị phẫu thuật bằng đóng đinh nội tủy có hoặc không kèm theo tăng cường xi măng, kết hợp xương nẹp vít có hoặc không kèm theo tăng cường xi măng và thay khớp bán phần có xi măng. Kết luận: Phẫu thuật giúp giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư di căn xương. Phương pháp cắt bướu và kết hợp xương tăng cường xi măng hoặc thay khớp nên là phương pháp được chọn để tránh thất bại dụng cụ trong điều trị gãy bệnh lý vùng đầu gần xương đùi do di căn.

12 Điều trị phẫu thuật bảo tồn chi ung thư xương tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình / Lê Văn Thọ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 449 - 466 .- 610

Ung thư xương là loại ung thư có độ ác cao, thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên. Vị trí thường gặp ở vùng gần gối - xa khuỷu. Bệnh thường tiến triển nhanh và cho di căn sớm. Trước kỷ nguyên hóa trị, đoạn chi được lựa chọn hàng đầu, tuy nhiên dự hậu vẫn rất xấu, đa số thường chết trong vòng 1 năm. Sự phát triển của đa hóa trị liệu trong hơn 30 năm qua đã cải thiện dự hậu rất nhiều, tỉ lệ sống 5 năm đã gia tăng đáng kể, từ 30% lên đến 75%, và phẫu thuật bảo tồn chi luôn là sự lựa chọn hàng đầu trong việc điều trị loại bướu này. Tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP. HCM (BVCTCHTPHCM), chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật bảo tồn chi cho các ung thư xương từ 25 năm qua, với kết quả đạt được rất đáng khích lệ. Nhiều công trình nghiên cứu về phẫu thuật bảo tồn chi đã được báo cáo, cũng như một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên khoa 2 đã được bảo vệ thành công. Trong nội dung bài viết này, chúng tôi chủ yếu trình bày tổng hợp về các phương pháp tái tạo khuyết hổng sau khi cắt bướu, đã được thực hiện tại BVCTCHTPHCM, cũng như bàn luận về các ưu khuyết điểm của từng phương pháp.

13 Kết quả phẫu thuật bảo tồn chi bằng cắt rộng bướu xương và ghép xương mác có cuống mạch / Bùi Hoàng Lạc, Tống Xuân Vũ, Lê Văn Thọ, Lê Chí Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 440 - 448 .- 610

Đánh giá kết quả về chỉnh hình và ung bướu học của phẫu thuật bảo tồn chi bằng cắt rộng bướu xương và ghép xương mác có cuống mạch. Đối tượng và phương pháp: 45 trường hợp bướu xương ác tính và giáp biên ác ở xương cánh tay, xương quay, xương chày được phẫu thuật tại Khoa Bệnh học Cơ – Xương - Khớp, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP. HCM từ 2005 đến 2020. Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, đánh giá lành xương theo Hsu, phì đại xương ghép theo De Boer và Wood, chức năng chi theo MSTS. Đánh giá tỷ lệ tái phát tại chỗ, hóa ác, di căn xa và tử vong.Thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống thêm không bệnh. Kết quả: 1. Kết quả về chỉnh hình: Lành xương ghép là 100%, thời gian lành xương trung bình là 5,20 ± 0,68 tháng. Phì đại xương ghép có 43,9%. Chức năng chi trung bình theo MSTS là 81% ± 8,65%. 2. Kết quả về ung bướu học: Tái phát tại chỗ 4,4%, không ghi nhận hóa ác, tỷ lệ di căn và tử vong 8 trường hợp(17,8%). Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 155,3 ± 10,1tháng, Thời gian trung bình sống thêm không bệnh là 150,2 ± 10,1 tháng.Tỷ lệ sống thêm toàn bộ và tỷ lệ sống thêm không bệnh sau 5 năm là 79,1%. Kết luận: Phẫu thuật bảo tồn chi các bướu xương ác tính và giáp biên ác bằng phương pháp cắt rộng bướu và ghép xương mác có cuống mạch cho kết quả tốt về mặt chỉnh hình và ung bướu học.

14 Bệnh nang ấu trùng sán dải heo ở tủy sống : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Hoàng Hạnh Dung, Lê Ngọc Diệu Thảo, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Hồ Ngọc Trâm, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 560 - 566 .- 610

Bệnh nang ấu trùng sán dải heo ở hệ thần kinh trung ương là bệnh lý truyền nhiễm phổ biến gây ra bởi sự kí sinh của nang ấu trùng thuộc loài Taenia solium ở não, não thất, tủy sống và khoang dưới nhện. Tuy nhiên, thực thể này khi tồn tại ở vị trí tủy sống - ống sống lại là bệnh cảnh hiếm gặp, chỉ chiếm dưới 5% các trường hợp bệnh nang ấu trùng ở hệ thần kinh trung ương. Bệnh thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý viêm tủy, bệnh lý u ác tính trên lâm sàng và hình ảnh học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ, 56 tuổi, nhập viện vì đau vùng thắt lưng và yếu hai chi dưới. Trên hình ảnh cộng hưởng từ, tổn thương nằm ở vị trí tủy thắt lưng – cùng từ L2 đến S3, có tín hiệu cao không đồng nhất, giới hạn rõ, xâm lấn xương đốt sống và xương cùng. Mẫu sinh thiết khối tổn thương cho thấy nhiều ổ viêm mạn tính dạng viêm hạt cùng với sự hiện diện của các cấu trúc dạng nang hướng đến nang ấu trùng sán dải heo, giúp xác định chẩn đoán bệnh nang ấu trùng ở tủy sống.

15 U hắc tố thần kinh ngoại bì phôi ở trẻ nhũ nhi : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Hoàng Hạnh Dung, Lê Ngọc Diệu Thảo, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Hồ Ngọc Trâm, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 552 - 559 .- 610

U hắc tố thần kinh ngoại bì phôi ở trẻ nhũ nhi là một thực thể hiếm gặp, có nguồn gốc từ tế bào mào thần kinh, xảy ra chủ yếu trong một năm đầu đời, đặc biệt là giai đoạn từ 3 đến 6 tháng tuổi. Hầu hết u xảy ra ở xương vùng sọ và mặt, phổ biến nhất là xương hàm trên. Chính vì tốc độ phát triển nhanh của u, kèm theo khả năng xâm lấn, biến dạng cấu trúc xung quanh đòi hỏi việc phát hiện và chẩn đoán kịp thời, nhằm đưa ra hướng điều trị chính xác và thích hợp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhi nam, 5 tháng tuổi, nhập viện vì khối sưng má phải, vùng xương hàm trên. Bệnh nhi được phẫu thuật bóc trọn u và gửi bệnh phẩm thực hiện xét nghiệm mô bệnh học thường quy. Trên vi thể, mô u hiện diện hai dân số tế bào, bao gồm tế bào giống nguyên bào thần kinh có kích thước nhỏ và tế bào biểu mô sản xuất hắc tố, kích thước lớn hơn. Các tế bào này sắp xếp thành dạng dây, dạng bè hoặc dạng đám, xâm nhập vào mô đệm với mạng lưới mạch máu dày đặc và giàu thành phần sợicollagen. Các tế bào biểu mô chứa hắc tố này bao quanh các tế bào giống nguyên bào thần kinh, tạo thành cấu trúc dạng đám và dạng ống tuyến. Hình ảnh mô bệnh học phối hợp với kết quả hoá mô miễn dịch giúp xác định chẩn đoán u hắc tố thần kinh ngoại bì phôi.

16 Lymphôm tế bào lớn thoái sản giả dạng carcinôm di căn hạch / Phạm Huỳnh Đình Triệu, Lương Anh Khoa, Nguyễn Đức Duy, Bùi Thị Huyền Thương, Trần Hương Giang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 545 - 551 .- 610

Lymphôm tế bào lớn thoái sản (ALCL) là một thực thể lymphôm hiếm gặp có tiên lượng kém. ALCL có phổ hình thái rộng, có thể giả dạng nhiều loại khối u ác tính khác về mô bệnh học và gây khó khăn trong tiếp cận chẩn đoán bệnh. Chúng tôi báo cáo một trường hợp ALCL ALK âm tính ở một bệnh nhân nữ, 80 tuổi với mô bệnh học chồng lấp với carcinôm di căn hạch chưa rõ cơ quan nguyên phát. Với kiểu hình xâm lấn hạch trên mẫu hạch thượng đòn ban đầu, bệnh nhân được chẩn đoán carcinôm di căn hạch dựa trên các dữ kiện lâm sàng nghèo nàn, vì thế các chỉ định hóa mô miễn dịch ban đầu theo định hướng carcinôm thay vì lymphôm. Khảo sát hình ảnh học phát hiện tình trạng hạch toàn thân là dấu chỉ quan trọng giúp tiếp cận ca bệnh này bên cạnh hóa mô miễn dịch. Từ đó chúng tôi nhận thấy được tầm quan trọng của sự phối hợp chặt chẽ giữa lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh trong việc nhận diện đúng ALCL. Vai trò của dấu ấn p63 cũng được bàn luận trong báo cáo này.

17 Nghiên cứu giá trị chẩn đoán của hóa mô miễn dịch với C3d và C4d trong bệnh bóng nước dạng pemphigus / Lưu Nguyễn Anh Thư, Trần Hương Giang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 433 - 439 .- 610

Xác định giá trị chẩn đoán (độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương- PPV, gíá trị tiên đoán âm-NPV) của hóa mô miễn dịch với bổ thể C3d và C4d so với miễn dịch huỳnh quang trực tiếp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu với 162 ca bóng nước được chẩn đoán xác định bằng kết hợp lâm sàng – mô bệnh học- miễn dịch huỳnh quang so sánh với hóa mô miễn dịch C3d và C4d, thực hiện tại Bộ môn Mô phôi - Giải phẫu bệnh Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ ngày 01/09/2019 đến 01/05/2024. Kết quả: Nghiên cứu có 61 ca bóng nước trong thượng bì (chiếm 37,7%) và 101 ca bóng nước dưới thượng bì (chiếm 62,3%). Vị trí của C3d: 27 ca âm tính (16,7%); 26 ca dương tính ở trần bóng nước (6%); 65 ca dương tính ở sàn bóng nước (40,1%) và 44 ca dạng lưới (27,2%). Vị trí của C4d: 87 ca âm tính (53,7%); 35 ca dương tính ở sàn bóng nước (21,6%); 24 ca dương tính ở trần bóng nước (14,8%) và 16 ca dạng lưới (9,9%). C3d có độ nhạy 95,4%, độ đặc hiệu 30,67%; PPV 61,48%, NPV 85,19%, độ chính xác 65,43%. C4d có độ nhạy 65,5%, độ đặc hiệu 76%; PPV 76%, NPV 65,5%, độ chính xác 68,46%. Giá trị chẩn đoán khi kết hợp C3d và C4d trong BP: độ nhạy 62,5%, độ đặc hiệu 83,3%, PPV 81,4%, NPV 65,9%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy khi kết hợp cả hai dấu ấn thì độ đặc hiệu và PPV đạt gần 82%; trong khi đó độ nhạy và NPV khoảng 63%. Hóa mô miễn dịch có thể được sử dụng như một phương pháp hỗ trợ chẩn đoán ban đầu và là công cụ bổ sung quan trọng khi không thể thực hiện miễn dịch huỳnh quang hoặc kết quả không rõ ràng. Cụ thể, khi lâm sàng và mô bệnh học phù hợp, kế đến là C3d và C4d đều dương tính dạng đường thì chẩn đoán là BP (dương giả thấp 18%); khi C3d hoặc C4d âm tính thì cần thực hiện miễn dịch huỳnh quang trực tiếp. Đặc biệt, việc thực hiện C3d và C4d có ý nghĩa quan trọng trong nhiều trường hợp không thể nhuộm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp hoặc không thể sinh thiết lại bóng nước; ngoài ra khi nghi ngờ kết quả miễn dịch huỳnh quang bị dương giả thì có thể kết hợp thêm C3d và C4d.

18 Lymphôm hodgkin với phản ứng u hạt : một nhầm lẫn trong chẩn đoán từ tế bào học đến giải phẫu bệnh / Trần Nguyễn Kim Thủy, Giang Mỹ Ngọc, Nguyễn Hồng Ngọc, Nguyễn Đức Quang, Thái Anh Tú // .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 519 - 529 .- 610

Lymphôm Hodgkin (HL) là một khối u tân sinh có nguồn gốc từ tế bào B của trung tâm mầm, đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào Hodgkin và Reed-Sternberg (HRS) với tỷ lệ thấp (0,1-10%) xen lẫn trong nền giàu tế bào miễn dịch phản ứng. Trong lymphôm, môi trường vi mô tế bào không phải u xung quanh các tế bào HRS ngày càng được công nhận là một yếu tố quan trọng trong sinh học và sự tiến triển của HL, cũng như trong tiên lượng và đáp ứng với điều trị. Nó thay đổi theo phân loại mô học và trạng thái liên quan EBV. Các tế bào lymphô nền trong hầu hết các trường hợp là tế bào T kèm theo số lượng bạch cầu ái toan, mô bào, bạch cầu trung tính và tương bào khác nhau. U hạt dạng biểu mô có thể khu trú hoặc đôi khi chiếm ưu thế. Trong một số trường hợp, phản ứng này có thể lan tỏa, khiến các tế bào u bị che khuất, đặc biệt khi mật độ tế bào khối u thấp. Điều này dễ dẫn đến nhầm lẫn với tổn thương lành tính trong các kết quả tế bào học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 26 tuổi đến khám với tình trạng nổi hạch cổ. Hình ảnh học gợi ý lymphôm, và chọc hút bằng tế bào bằng kim nhỏ cho thấy có các tế bào dạng biểu mô chiếm ưu thế và rải rác các tế bào Hodgkin và Reed-Sternberg. Sinh thiết trọn hạch xác nhận chẩn đoán HL với phản ứng u hạt. Hóa mô miễn dịch cho thấy các tế bào u dương tính mạnh với CD30 và biểu hiện PAX5 yếu, khẳng định chẩn đoán.

19 U sợi sinh xương thể thanh xuân dạng thể cát tái phát ở xương trán : báo cáo ca bệnh hiếm gặp và hồi cứu y văn / Phạm Thị Như Diễm, Lương Thị Ngọc Châu, Phạm Hồng Tài, Trần Hương Giang, Đoàn Thị Phương Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 497 - 502 .- 610

U sợi sinh xương thể thanh xuân dạng thể cát (JPOF) là một loại u lành tính nhưng hiếm gặp, với đặc điểm phát triển nhanh và tỷ lệ tái phát cao, đặc biệt ở vị trí xương sọ mặt. Chúng tôi báo cáo trường hợp một bệnh nhân nữ, 19 tuổi, với khối u tái phát hai lần tại vùng xương trán, xâm lấn vào xoang cạnh mũi. Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u. Chẩn đoán JPOF cần dựa trên tam giác chẩn đoán bao gồm lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh. Đặc điểm mô bệnh học đặc trưng của khối u là sự tăng sinh của các cầu xương giống thể cát trên nền mô đệm sợi. Các lựa chọn điều trị hàng đầu bao gồm cắt bỏ toàn phần hoặc một phần khối u, tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân. Việc chẩn đoán và điều trị JPOF đòi hỏi sự phối hợp đa ngành và theo dõi chặt chẽ, do nguy cơ tái phát cao ngay cả sau phẫu thuật toàn bộ.

20 Khảo sát nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất tại khoa Ung Bướu Bệnh viện Đà Nẵng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan / Lê Quốc Tuấn, Võ Lê Uyên, Trần Thụy Diệu Thùy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 649 - 659 .- 610

Khảo sát nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất tại khoa Ung Bướu Bệnh viện Đà Nẵng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 người bệnh ung thư đang điều trị nội trú sử dụng hóa chất gây độc tế bào tại Khoa Ung Bướu – Bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 58,5 ± 10,3, tỷ lệ nam/nữ là 1,38. Có đến 68,7% người bệnh sức khỏe còn khá tốt (với chỉ số hoạt động Karnofsky 80 - 100 điểm). Chiếm đa số là giai đoạn IV (di căn và tái phát) (58,7%). Ph ần lớn điều trị hóa chất đường tiêm truyền chiếm tỷ lệ 84,7%. Hầu hết người bệnh có vấn đề sức khỏe (93,3%) và 78,7% có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ. Điểm trung bình vấn đề sức khỏe chung là 54 ± 16,1, lớn hơn điểm trung bình nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chung là 46,3 ± 17,2 và có mối tương quan thuận chặt chẽ với hệ số tương quan r là 0,907, có ý nghĩa thống kê. Những yếu tố liên quan ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến vấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chung của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất là giới tính, đặc điểm tài chính, tình trạng lao động, nhóm chỉ số Karnofsky, đường dùng thuốc. Kết luận: Hầu hết người bệnh tham gia nghiên cứu đều có vấn đề sức khỏe (93,3%) và phần lớn đều có nhu cầu cần nhân viên y tế quan tâm chăm sóc giảm nhẹ (78,7%). Việc đánh giá các vấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư (có tương quan thuận chặt chẽ có ý nghĩa với hệ số r là 0,907) sẽ giúp nhóm chăm sóc đưa ra các can thiệp và quản lý các vấn đề cũng như đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người bệnh qua đó cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.