CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
11 Phẫu thuật nội soi điều trị viêm xoang trán do nấm Aspergillus đồng nhiễm Staphylococcus epidermidis đa kháng biến chứng áp xe dưới cốt mạc ổ mắt: Báo cáo ca bệnh / Hà Minh Lợi, Nguyễn Thị Thanh Minh, Nguyễn Văn Luận // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 704-719 .- 610
Chúng tôi báo cáo một ca bệnh rất hiếm gặp tại Việt Nam cũng như trên thế giới được phát hiện và điều trị thành công tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương. Viêm xoang trán do nấm Aspergillus đồng nhiễm S. epidermidis đa kháng kháng sinh gây biến chứng áp xe dưới cốt mạc, ở vị trí phần cao góc trên trong ổ mắt, với triệu chứng lâm sàng không điển hình, gây khó khăn trong chẩn đoán và phẫu thuật để loại bỏ nấm trong xoang trán cũng như giải phóng ổ áp xe dưới cốt mạc ổ mắt. Người bệnh đã được phẫu thuật tiếp cận hoàn toàn dưới nội soi mà không cần mở thêm đường ngoài, đạt được hiệu quả tốt.
12 Nghiên cứu tác dụng chống mệt mỏi của Sữa dưỡng Nhật Bảo trên động vật thực nghiệm / Trần Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thanh Loan, Trần Sách Việt // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 730-740 .- 610
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng chống mệt mỏi của Sữa dưỡng Nhật Bảo (CSTD) trên động vật thực nghiệm. Chuột nhắt chủng Swiss được gây mệt mỏi bằng cách thực hiện bơi và bám trên trục quay Rotarod hàng ngày trong 1 tuần liên tục. Sau đó, chuột được uống nước cất/sulbutiamin liều 96 mg/kg/ngày hoặc CSTD liều 15,6 và 31,2 g/kg/ngày trong 4 tuần liên tục. Tác dụng chống mệt mỏi của CSTD đã được xác định thông qua đánh giá sức bám, sức kéo của chuột, thử nghiệm bơi cưỡng bức và xác định các chỉ số sinh hóa. CSTD liều 15,6 g/kg/ngày có xu hướng làm tăng cân nặng, kéo dài thời gian bám trên trục quay Rotarod, kéo dài thời gian bơi và tăng sức kéo của chuột nhắt trắng so với mô hình, tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. CSTD liều 31,2 g/kg/ngày có tác dụng làm tăng cân nặng, kéo dài thời gian bám trên trục quay Rotarod, kéo dài thời gian bơi và tăng sức kéo của chuột nhắt trắng có ý nghĩa thống kê so với mô hình. Ngoài ra, CSTD liều 31,2 g/kg/ngày làm tăng nồng độ glucose; giảm hoạt độ AST, ALT và nồng độ BUN trong máu chuột. Như vậy, CSTD liều 31,2 g/kg/ngày có tác dụng chống mệt mỏi trên động vật thực nghiệm.
13 Hiệu quả của chương trình Vivifrail trên chức năng vận động và nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương / Dương Thị Kim Ngân, Nguyễn Huy Ngọc, Vũ Thị Thanh Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 720-729 .- 610
Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 72 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 từ 60 tuổi trở lên có hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT). Bệnh nhân được phân thành nhóm can thiệp (n = 36) tham gia chương trình Vivifrail và nhóm chứng (n = 36) được chăm sóc thông thường. Các chỉ số được đánh giá tại thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và sau 6 tháng, bao gồm chức năng vận động (Timed Up and Go, TUG) và điểm nguy cơ ngã (Fall Risk Index-21, FRI-21). Có 66 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu sau 6 tháng theo dõi. Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học, đái tháo đường, và lão khoa giữa hai nhóm (p > 0,05). Sau 6 tháng can thiệp, thời gian thực hiện TUG của nhóm can thiệp giảm trung bình 3,8 giây từ 15,6 ± 5,9 giây xuống 11,8 ± 2,9 giây, nhóm chứng tăng 1,1 giây từ 15,3 ± 5,5 giây lên 16,4 ± 6,4 giây. Điểm FRI-21 của nhóm can thiệp giảm trung bình 4,1 điểm từ 11,4 ± 3,3 điểm xuống 7,3 ± 3,0 điểm, nhóm chứng không có sự thay đổi. Mức thay đổi về thời gian TUG và điểm FRI-21 ở nhóm can thiệp tốt hơn so với nhóm chứng tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng (p < 0,05). Chương trình Vivifrail giúp cải thiện đáng kể chức năng vận động và giảm nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có HCDBTT.
14 Khả năng gây kích ứng da và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium bôi ngoài da trên mô hình gây bỏng nhiệt thực nghiệm / Trần Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thanh Loan, Trần Việt Anh, Trần Trung Kiên, Hoàng Yến Chi, Nguyễn Mai Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 741-750 .- 610
Nghiên cứu đánh giá khả năng gây kích ứng da của Medicell Plus Premium (MPP) trên thỏ và ảnh hưởng toàn thân của MPP bôi ngoài da trên chuột cống trắng bị bỏng nhiệt. Đánh giá khả năng gây kích ứng da được tiến hành theo hướng dẫn của OECD và ISO 10993-10. Chuột được gây bỏng nhiệt trên da lưng bằng dụng cụ kim loại, sau đó bôi MPP trong 21 ngày. Các chỉ số huyết học, sinh hóa, vi thể gan và thận của chuột được đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy MPP không gây kích ứng da trên thỏ. MPP liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không ảnh hưởng đến các chỉ số huyết học, mức độ hủy hoại tế bào gan, chức năng gan và chức năng thận. Ngoài ra, cấu trúc vi thể gan và thận của chuột của lô bôi MPP không có sự khác biệt rõ rệt so với lô chứng sinh học. Như vậy, MPP bôi ngoài da ở liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không gây độc tính toàn thân sau 21 ngày bôi thuốc thử trên mô hình gây bỏng thực nghiệm.
15 Tác động của chế độ ăn bổ sung dây thìa canh đến dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường thực nghiệm / Nông Văn Diệp, Nguyễn Đức Quân, Đỗ Thị Trang, Trần Thị Hương Giang, Trần Huy Thịnh, Nguyễn Huy Hoàng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 751-759 .- 610
Nghiên cứu đánh giá tác động của bổ sung dây thìa canh (Gymnema sylvestre) lên dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường. Tổng cộng 48 chuột đực Swiss được chia thành 4 nhóm: Nhóm 1 - đối chứng, Nhóm 2 - béo phì, Nhóm 3 - đái tháo đường, và Nhóm 4 - đái tháo đường có can thiệp bằng chế độ ăn. Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose đường tiêm phúc mạc (IPGTT) cho thấy Nhóm 2 và 3 có rối loạn dung nạp glucose rõ rệt, đặc biệt Nhóm 3 có glucose máu tăng cao và giảm chậm. Nhóm 4 được bổ sung ăn dây thìa canh có mức tăng glucose thấp hơn và giảm nhanh hơn, cho thấy cải thiện dung nạp glucose. Đồng thời, các chỉ số cholesterol, triglycerid, ALT và AST ghi nhận giảm đáng kể so với Nhóm 2 và 3 phản ánh xu hướng cải thiện rối loạn lipid và giảm tổn thương gan (thoái hóa mỡ, viêm, rối loạn cấu trúc) đáng kể ở nhóm 4. Kết quả cho thấy dây thìa canh có tiềm năng hỗ trợ kiểm soát rối loạn chuyển hóa glucose, chuyển hoá lipid và giảm tổn thương gan trong đái tháo đường thực nghiệm.
16 Hàm lượng vitexin, isovitexin và hoạt tính ức chế α-glucosidase của cao chiết vỏ đậu xanh / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Ngọc Linh, Vũ Thị Thoa, Lê Văn Long, Nguyễn Thị Nguyệt, Đỗ Thị Trang, Nguyễn Thị Quyên, Đào Thị Ngoãn // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 760-772 .- 610
Vỏ đậu xanh là phụ phẩm phát sinh với khối lượng lớn trong chế biến đậu xanh nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm định lượng vitexin và isovitexin trong cao chiết vỏ đậu xanh bằng HPLC-DAD, xác định hàm lượng polyphenol toàn phần, hàm lượng flavonoid toàn phần, đánh giá hoạt tính ức chế α-glucosidase in vitro và sử dụng docking phân tử để hỗ trợ gợi ý tương tác của các hợp chất chính với đích liên quan α-glucosidase. Vỏ đậu xanh được thu từ cơ sở chế biến tại Hưng Yên, đã được sấy khô theo quy trình chế biến tại cơ sở sản xuất trước khi bàn giao, sau đó mẫu được bảo quản kín ở ngăn mát tủ lạnh, nghiền nhỏ và chiết siêu âm bằng methanol hoặc ethanol 50%; Cao chiết ethanol 50% được ký hiệu VRE50. Kết quả cho thấy VRE50 có hiệu suất chiết 5,45%, chứa vitexin 12,38% và isovitexin 10,77% trong cao chiết, cao hơn về mặt định lượng so với cao methanol. VRE50 có hàm lượng polyphenol toàn phần 48,56 ± 1,46 mg GAE/g cao chiết và hàm lượng flavonoid toàn phần 145,66 ± 4,37 mg QE/g cao chiết. VRE50 ức chế α-glucosidase với IC50 = 148,36 ± 5,49 µg/mL, so với acarbose là 120,99 ± 8,31 µg/mL trong cùng điều kiện thử nghiệm. Docking trên protein 3TOP cho thấy vitexin và isovitexin có khả năng tương tác với vùng gắn kết của đích liên quan α-glucosidase; tuy nhiên, kết quả docking chỉ được sử dụng như bằng chứng hỗ trợ, không thay thế thử nghiệm enzym in vitro. Nghiên cứu cung cấp cơ sở ban đầu cho hướng khai thác phụ phẩm vỏ đậu xanh giàu vitexin và isovitexin có tiềm năng ức chế α-glucosidase trong điều kiện in vitro.
17 Xác nhận giá trị sử dụng của Etest penicillin và ceftriaxone trên các chủng Streptococcus pneumoniae / Nguyễn Thị Ánh, Trần Minh Châu, Phạm Hồng Nhung // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 773-781 .- 610
Xác định chính xác nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) có vai trò quan trọng trong định hướng điều trị kháng sinh trên lâm sàng. Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận giá trị sử dụng của Etest penicillin và ceftriaxone trên 50 chủng Streptococcus pneumoniae. Các chỉ số đồng thuận giá trị (EA), đồng thuận phân loại (CA), lỗi rất lớn (VME), lỗi lớn (ME) và lỗi nhỏ (mE) được tính toán theo tiêu chuẩn của CLSI M52. EA và CA của Etest penicillin lần lượt là 96,0% và 74,0%; VME, ME và mE lần lượt là 2,0%, 0,0% và 26,0%. EA và CA của Etest ceftriaxone lần lượt là 94,0% và 62,0%; VME, ME và mE lần lượt là 4,0%, 0,0% và 38,0%. Mặc dù có sự đồng thuận EA cao nhưng các tiêu chí CA, mE không phù hợp do các giá trị MIC của S. pneumoniae phân bố sát các giá trị breakpoint phiên giải. Do vậy cần mở rộng bộ chủng thử nghiệm để có được đánh giá chính xác hơn.
18 Gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc chính cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa / Trịnh Thị Hồng Nhung, Nguyễn Bá Cần, Phạm Đắc Quân, Lê Trọng Tấn, Phạm Thị Lan Thanh, Trịnh Anh Viên // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 782-791 .- 610
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 186 người chăm sóc chính tại Trung tâm Thận – Lọc máu và Khoa Nội thận – Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa nhằm mô tả gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc chính cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp, sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc bao gồm thông tin nhân khẩu – xã hội của người chăm sóc, đặc điểm người bệnh và thang đo Zarit Burden Interview (ZBI). Kết quả cho thấy điểm gánh nặng chăm sóc trung vị là 45 (IQR: 37 – 51) trên tổng điểm 88. Đa số người chăm sóc có gánh nặng chăm sóc từ trung bình đến nặng (62,9%). Các nhóm chịu gánh nặng cao hơn gồm người chăm sóc chính là bố/mẹ, trình độ học vấn thấp, làm nội trợ hoặc đã nghỉ hưu, thu nhập thấp và chăm sóc trong thời gian dài. Kết quả nhấn mạnh nhu cầu xây dựng các chương trình hỗ trợ nhằm giảm gánh nặng cho các nhóm nguy cơ cao.
19 Tư duy phản biện và một số yếu tố liên quan của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Hùng Vương năm 2026 / Dương Na Ly, Đăng Thị Loan // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 792-801 .- 610
Tư duy phản biện là một năng lực thiết yếu trong đào tạo sinh viên điều dưỡng và đóng một vai trò quan trọng để phát triển năng lực ra quyết định lâm sàng, nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị người bệnh. Tại Việt Nam còn hạn chế các nghiên cứu về tư duy phản biện trên đối tượng sinh viên điều dưỡng tại khu vực miền Bắc. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tư duy phản biện và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Hùng Vương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 194 sinh viên Điều dưỡng năm 2, 3, 4 Trường Đại học Hùng Vương. Tư duy phản biện được đo bằng thang Critical Thinking Self Assessment Scale (CTSAS); niềm tin vào năng lực bản thân được đánh giá bằng thang đo General Self-Efficacy Scale (GSES). Kết quả cho thấy điểm trung bình Tư duy phản biện của sinh viên điều dưỡng là 173,3 ± 44,4. Niềm tin vào năng lực bản thân, năm học, sinh viên có việc làm thêm và kinh nghiệm thực tập lâm sàng có liên quan với tư duy phản biện của sinh viên điều dưỡng. Các chương trình đào tạo cần lồng ghép các phương pháp dạy học khác nhau và tạo môi trường thực hành giúp sinh viên phát triển tư duy phản biện hiệu quả.
20 Gánh nặng chăm sóc người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa 2025 - 2026 / Ngô Thanh Thúy, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thị Thúy Hồng, Cầm Bá Thức // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 802-811 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 173 người chăm sóc chính của người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2025 – 2026, sử dụng thang điểm Zarit Burden Interview (ZBI-22). Kết quả cho thấy điểm gánh nặng chăm sóc trung bình là 27,56 ± 12,68; trong đó 48,0% người chăm sóc có gánh nặng ở mức trung bình và 16,1% ở mức nghiêm trọng trở lên. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy, mối quan hệ vợ/chồng, là người chăm sóc duy nhất và sự phụ thuộc của người bệnh là các yếu tố liên quan làm gia tăng gánh nặng chăm sóc. Kết luận, người chăm sóc người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối đang phải đối mặt với gánh nặng đáng kể và cần được hỗ trợ phù hợp trong chăm sóc toàn diện.





