CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
261 Đánh giá kết quả phác đồ hóa trị tân bổ trợ phối hợp hóa xạ trị đồng thời ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An / Thái Đình Hiếu, Nguyễn Viết Bình, Hoàng Thị Diệp // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 61 - 71 .- 610

Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị và một số tác dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị tân bổ trợ kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc tiến hành trên 39 người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật điều trị hóa chất tân bổ trợ phác đồ Docetaxel - Cisplatin - 5Flourouracil (TCF) sau đó hóa xạ trị đồng thời với Carboplatin AUC 1.5 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ an từ tháng 01/2018 đến tháng 8/2023. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 56,1 ± 5,71; 100% nam giới; giai đoạn IV chiếm phần lớn (80,7 %); tỉ lệ đáp ứng toàn bộ 76,9%; tỉ lệ kiểm soát bệnh 94,9%; trung vị thời gian PFS là 8,5 ± 0,98 tháng; trung vị thời gian sống còn toàn bộ là 18 ± 3,4 tháng. Độc tính: Độc tính thường gặp là hạ bạch cầu, trong đó hạ bạch cầu độ 3 chiếm 25,6% và hạ độ 4 chiếm 17,9%. Độc tính khác đều ở mức độ nhẹ và hồi phục khi ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ hóa trị tân bổ trợ TCF kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật có tỉ lệ đáp ứng cao, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và sống còn toàn bộ dài, độc tính phác đồ dung nạp tốt, do đó có thể lựa chọn điều trị bước 1 cho các trường hợp UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật cần bảo tồn thanh quản.

262 Ứng dụng vạt đảo mũi má cuống trên tái tạo khuyết hổng vùng mặt / Đỗ Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Xuân Trực, Đặng Thanh Hào, Nguyễn Đăng Khoa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 23 - 31 .- 610

Đánh giá hiệu quả của vạt đảo mũi má cuống trên tái tạo khuyết hổng trong phẫu thuật ung thư da mặt. Phương pháp: Mô tả loạt ca ung thư da mặt được điều trị bằng phẫu thuật tận gốc, tái tạo khuyết hổng bằng vạt đảo mũi má cuống trên từ 01/2022 đến 8/2024 tại Khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 7/2024, chúng tôi đã thực hiện 31 ca phẫu thuật tái tạo vùng mặt sử dụng vạt đảo mũi má cuống trên. Tỉ số nam/nữ là 10/21. Tuổi trung bình là 66 ± 1,8 (62 - 69tuổi); Xếp giai đoạn T1 có 5 trường hợp, T2 có 20 trường hợp, T3 có 5 trường hợp, T4 có 1 trường hợp. Kết quả giải phẫu bệnh - mô học sau mổ với 90,3% carcinôm tế bào đáy và 9,7% carcinôm tế bào gai, 90,3% trường hợp có diện cắt âm tính. Thời gian theo dõi trung bình là 12 tháng và không có trường hợp nào tái phát. Diện tích khuyết hổng trung bình là 11 ± 1,1cm2. Diện tích vạt trung bình là 20,3 ± 2cm2 với diện tích nhỏ nhất là 16,3cm2 và lớn nhất là 24,3cm2. Kết quả thẩm mỹ rất tốt đạt 45,2%, tốt đạt 35,5%, trung bình đạt 16,1% và xấu là 3,2%. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình khuyết hổng bằng vạt đảo mũi má cuống trên sau phẫu thuật ung thư da vùng mặt là một trong những lựa chọn giúp tạo hình tốt khuyết hổng tại chỗ, đảm bảo thẩm mỹ, thời gian phục hồi nhanh, không cần phẫu thuật thì hai.

263 Khảo sát đáp ứng về phân tử sâu trên người bệnh bạch cầu mạn dòng tủy điều trị với Imatinib / Dương Thị Minh Nhật, Lê Vũ Hà Thanh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 399 - 406 .- 610

Xác định tỉ lệ người bệnh đạt đáp ứng sinh học phân tử sâu (DMR: Deep Molecular response) cộng dồn theo thời gian Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu 202 người bệnh (NB) bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT) giai đoạn mạn mới chẩn đoán tại bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2024. Kết quả: Tuổi trung vị là 43 (18-83). Tỉ lệ NB đạt MR4 tăng dần theo thời gian tại thời điểm 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng lần lượt là 3,5% (95% KTC: 1,5 – 5,5%), 22,3% (95% KTC: 16 – 28,6%) và 41,6% (95% KTC: 34-49,2%). Kết luận: NB BCMDT điều trị Imatinib 400mg/ ngày có tỉ lệ đạt DMR tăng dần trong thời gian nghiên cứu. Điều này giúp xem xét những NB điều trị Imatinib trên 3 năm đạt DMR vào nhóm đối tượng lui bệnh khi không điều trị (TFR- Treatment-free remission).

264 Bước đầu áp dụng kỹ thuật RQ-PCR đánh giá tồn lưu tế bào ác tính bệnh bạch cầu cấp dòng tủy có chuyển vị CBFB/MYH11 / Châu Thúy Hà, Cao Văn Động, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phù Chí Dũng, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 417 - 424 .- 610

Triển khai kỹ thuật RQ-PCR định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11. Đối tượng: Mẫu người bệnh có mang tổ hợp gen CBFB/MYH11 type A đã xác định trước bằng kỹ thuật RT-PCR. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu triển khai kỹ thuật mới. Kết quả: Chúng tôi đã thành công ứng dụng kỹ thuật RQ-PCR trong định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11. RQ-PCR định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11 được chuẩn hoá ở nghiên cứu này đạt giới hạn phát hiện 10-5. Toàn bộ 6 người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi có bệnh tồn lưu tối thiểu CBFB/MYH11 dương tính sau giai đoạn tấn công và 3/3 người bệnh có bệnh tồn lưu tối thiểu CBFB/MYH11 âm tính khi kết thúc điều trị. Kết luận: Đây là công cụ hữu ích nhằm đánh giá bệnh tồn lưu tối thiểu, giúp định hướng điều trị và tiên lượng cho người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy mang tổ hợp gen CBFB/MYH11 lúc chẩn đoán.

265 Khảo sát bất thường di truyền tế bào ở bệnh nhân loạn sản tủy tại bệnh viện Chợ Rẫy / Phan Công Hoàng, Hoàng Anh Vũ, Hoàng Thị Thúy Hà, Lê Bảo Ngọc, Lê Hùng Phong, Nguyễn Ngọc Mai, Mạc Hồng Phước, Lê Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Thị Thùy Dung, Dương Hoàng Quỳnh An, Nguyễn Thị Thanh Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 425 - 433 .- 610

Khảo sát đặc điểm di truyền tế bào trên nhiễm sắc thể đồ tủy xương của bệnh nhân loạn sản tủy. Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng loạn sản tủy theo tiêu chuẩn của WHO 2016 tại khoa Huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 5 năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 98 bệnh nhân loạn sản tủy có trung bình tuổi là 61,4 ± 1,2 tuổi, nam giới chiếm 53,06%, trong đó 39,8% bệnh nhân có công thức nhiễm sắc thể bất thường. Tỉ lệ blast giữa nhóm có bất thường di truyền tế bào cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có bất thường di truyền tế bào. Trong tổng số 98 BN, có 59 BN (60,2%) có công thức nhiễm sắc thể bình thường, 12 BN (12,24%) bất thường di truyền tế bào số lượng NST, 12 BN (12,24%) đa tổn thương, 11 BN (11,22%) bất thường di truyền tế bào NST đơn lẻ và 4 BN (4,08%) có bất thường di truyền tế bào số lượng cũng như cấu trúc NST. Theo phân nhóm tiên lượng WPSS, bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao và trung bình chiếm tỉ lệ lần lượt là 38,78%, 30,61%. Bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao theo tiêu chẩn IPSS-R chiếm tỉ lệ lần lượt là 29,59%, 26,53%, 25,51% và 18,37%. Tần suất bất thường di truyền tế bào thêm nhiễm sắc thể số 8 xuất hiện cao ở 3 nhóm bệnh SLD, MLD, EB-2 lần lượt là 50%, 35,29% và 33,33%. Kết luận: Bất thường di truyền tế bào ở bệnh nhân có chỉ số blast cao hơn so BN không có bất thường di truyền tế bào, bệnh nhân phân bố tập trung ở nhóm tiên lượng nguy cơ cao và nguy cơ trung bình, trong đó bất thường di truyền thường gặp nhất là thêm nhiễm sắc thể số 8.

266 Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính ở bệnh nhân tại bệnh viện E / Trần Thị Vân Hà, Đặng Bảo Châu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 425 - 433 .- 610

Khảo sát các yếu tố liên quan đến một kết quả kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính trên các bệnh nhân tại bệnh viện E. Đối tượng: 110 bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA 23 profile) tại Khoa Huyết học, Bệnh viện E. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, Thống kê T-test, Chi-q test. Kết quả: Nhóm nghiên cứu bao gồm 110 bệnh nhân bao gồm 56 bệnh nhân với triệu chứng lâm sàng đã được phân loại, khuyến cáo cho các bệnh tự miễn và 54 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng không điển hình rõ ràng; 74 (67,3%) bệnh nhân dương tính với ít nhất một trong 23 tự kháng thể kháng nhân (ANA) và 36 (32,7%) bệnh nhân cho kết quả âm tính. Nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng của giới tính tới tỷ lệ ANA dương tính (nữ có tỷ lệ cao hơn nam) với p = 0,026 nhưng sự khác biệt giữa ba nhóm tuổi 0 – 20; 21 – 50; 51 – 90 tuổi không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cho thấy mặc dù có mối tương quan giữa tỷ lệ ANA dương tính và nhóm có triệu chứng lâm sàng điển hình nhưng kết quả ANA trên tổng thể nghiên cứu sàng lọc có thể bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng lâm sàng không điển hình và còn bị ảnh hưởng bởi giới tính cũng như độ tuổi.

267 Đặc điểm tế bào, mô tủy xương và mối liên quan với bất thường di truyền ở bệnh nhân tăng tiểu cầu tiên phát tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2018-2023 / Nguyễn Vũ Bảo Anh, Nguyễn Ngọc Dũng, Cao Hà My // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 450 - 457 .- 610

Mô tả đặc điểm tế bào, mô tủy xương và so sánh các đặc điểm trên giữa các loại đột biến gen trong bệnh tăng tiểu cầu tiên phát (ET). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 316 bệnh nhân ET tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2018-2023. Kết quả: phần lớn bệnh nhân ET có số lượng bạch cầu (SLBC) tăng (> 11 G/L; 66,5%), số lượng tiểu cầu (SLTC) rất cao (> 1000 G/L; 52,8%), 52,8% tăng cả SLBC > 11 G/L và SLTC ≥ 1000 G/L. 82,9% bệnh nhân có mật độ tế bào tủy tăng, 91,8% có độ xơ tủy là MF-0. Đặc điểm mẫu tiểu cầu thường gặp gồm: kích thước lớn (95,6%), nhân lớn và tăng múi (hình san hô) (96,8%), đám rời rạc (54,1%) hoặc đám nhỏ 3-6 mẫu tiểu cầu (38,9%). Bệnh nhân có đột biến JAK2 có trung vị huyết sắc tố (Hb) cao hơn, trung vị SLBC cao hơn và trung vị SLTC thấp hơn so với bệnh nhân có đột biến CALR, MPL và triple-negative. Chỉ có 3/316 bệnh nhân không có bất thường nhân mẫu tiểu cầu, và đều không mang đột biến JAK2. Kết luận: nghiên cứu đã mô tả cụ thể các đặc điểm tế bào và mô học tủy xương thường gặp trong ET; các bệnh nhân có đột biến khác nhau có nhiều điểm khác biệt về chỉ số máu ngoại vi, song khá đồng đều về đặc điểm mô học tủy xương.

268 Xác định thời gian sống còn của hội chứng thực bào máu ở người lớn tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Nguyễn Thị Mỹ Linh, Huỳnh Thiện Ngôn, Nguyễn Quốc Thành // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 465 - 473 .- 610

Xác định thời gian sống còn của hội chứng thực bào máu ở người lớn tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, người bệnh từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán Hội chứng thực bào máu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 01 năm 2024. Kết quả nghiên cứu: 109 người bệnh được chẩn đoán Hội chứng thực bào máu với tuổi trung vị là 45 tuổi, dao động từ 17 đến 86 tuổi. Trong đó, 62 bệnh nhân (56,9%) là nam. Các triệu chứng lâm sàng hay gặp là sốt 98,2%, lách to 80,7%. Về đặc điểm cận lâm sàng, tất cả người bệnh đều có hình ảnh thực bào trong tủy đồ và tăng Ferritin. Yếu tố kích hoạt HCTBM thường gặp nhất là nhiễm trùng ở 52 bệnh nhân (47,7%) với tác nhân là EBV chiếm 36,7%. Thời gian sống còn toàn bộ trung vị là 80 ngày. Tỉ lệ sống còn 1 năm ước đoán là 30,9%. Tỉ lệ tử vong chung là 60,6% với 34 ca tử vong trong 30 ngày đầu tiên, chiếm 31,2%. Bệnh nhân nhóm chưa rõ yếu tố kích hoạt có thời gian sống trung vị ngắn nhất (16 ngày), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (p = 0,015). lớn có đặc điểm lâm sàng, yếu tố kích hoạt phức tạp, thời gian sống trung vị ngắn ngày.

269 Bước đầu khảo sát đặc điểm lâm sàng, sinh học, đáp ứng điều trị trên người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy người lớn có đột biến CEBPA tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Lê Huỳnh Ngọc Hân, Cao Văn Động, Ngô Ngọc Ngân Linh, Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 492 - 498 .- 610

Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) là bệnh lý ung thư huyết học phổ biến nhất trong nhóm bệnh bạch cầu cấp người lớn. Đột biến CEBPA liên quan cơ chế bệnh sinh BCCDT và tiên lượng bệnh. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu bước đầu đánh giá đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT de novo người lớn mang đột biến CEBPA bằng phác đồ tấn công A7D3 tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học (BV TMHH). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca, hồi cứu gồm 20 người bệnh (NB) được chẩn đoán BCCDT có mang đột biến CEBPA và điều trị đặc hiệu tại BV TMHH từ tháng 02/2020 đến tháng 12/2023. Kết quả: Tất cả NB được điều trị với phác đồ A7D3, tỉ lệ NB đạt lui bệnh hoàn toàn sau tấn công là 95%. Độc tính không phải huyết học thường gặp nhất là sốt giảm bạch cầu hạt (90%), nhiễm trùng được xác định ở 35% NB. Kết luận: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT người lớn có đột biến CEBPA bằng phác đồ A7D3 bước đầu cho thấy sự hiệu quả của phác đồ này.

270 Đánh giá tồn lưu tế bào ác tính trên người bệnh đa u tủy xương bằng phương pháp F-PCR kết hợp điện di mao quản các kiểu tái sắp xếp gen IG / Lê Huỳnh Ngọc Hân, Cao Văn Động, Ngô Ngọc Ngân Linh, Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 492 - 498 .- 610

Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) là bệnh lý ung thư huyết học phổ biến nhất trong nhóm bệnh bạch cầu cấp người lớn. Đột biến CEBPA liên quan cơ chế bệnh sinh BCCDT và tiên lượng bệnh. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu bước đầu đánh giá đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT de novo người lớn mang đột biến CEBPA bằng phác đồ tấn công A7D3 tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học (BV TMHH). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca, hồi cứu gồm 20 người bệnh (NB) được chẩn đoán BCCDT có mang đột biến CEBPA và điều trị đặc hiệu tại BV TMHH từ tháng 02/2020 đến tháng 12/2023. Kết quả: Tất cả NB được điều trị với phác đồ A7D3, tỉ lệ NB đạt lui bệnh hoàn toàn sau tấn công là 95%. Độc tính không phải huyết học thường gặp nhất là sốt giảm bạch cầu hạt (90%), nhiễm trùng được xác định ở 35% NB. Kết luận: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT người lớn có đột biến CEBPA bằng phác đồ A7D3 bước đầu cho thấy sự hiệu quả của phác đồ này.