CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
261 Khảo sát đáp ứng về phân tử sâu trên người bệnh bạch cầu mạn dòng tủy điều trị với Imatinib / Dương Thị Minh Nhật, Lê Vũ Hà Thanh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 399 - 406 .- 610

Xác định tỉ lệ người bệnh đạt đáp ứng sinh học phân tử sâu (DMR: Deep Molecular response) cộng dồn theo thời gian Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu 202 người bệnh (NB) bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT) giai đoạn mạn mới chẩn đoán tại bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2024. Kết quả: Tuổi trung vị là 43 (18-83). Tỉ lệ NB đạt MR4 tăng dần theo thời gian tại thời điểm 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng lần lượt là 3,5% (95% KTC: 1,5 – 5,5%), 22,3% (95% KTC: 16 – 28,6%) và 41,6% (95% KTC: 34-49,2%). Kết luận: NB BCMDT điều trị Imatinib 400mg/ ngày có tỉ lệ đạt DMR tăng dần trong thời gian nghiên cứu. Điều này giúp xem xét những NB điều trị Imatinib trên 3 năm đạt DMR vào nhóm đối tượng lui bệnh khi không điều trị (TFR- Treatment-free remission).

262 Bước đầu áp dụng kỹ thuật RQ-PCR đánh giá tồn lưu tế bào ác tính bệnh bạch cầu cấp dòng tủy có chuyển vị CBFB/MYH11 / Châu Thúy Hà, Cao Văn Động, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phù Chí Dũng, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 417 - 424 .- 610

Triển khai kỹ thuật RQ-PCR định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11. Đối tượng: Mẫu người bệnh có mang tổ hợp gen CBFB/MYH11 type A đã xác định trước bằng kỹ thuật RT-PCR. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu triển khai kỹ thuật mới. Kết quả: Chúng tôi đã thành công ứng dụng kỹ thuật RQ-PCR trong định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11. RQ-PCR định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11 được chuẩn hoá ở nghiên cứu này đạt giới hạn phát hiện 10-5. Toàn bộ 6 người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi có bệnh tồn lưu tối thiểu CBFB/MYH11 dương tính sau giai đoạn tấn công và 3/3 người bệnh có bệnh tồn lưu tối thiểu CBFB/MYH11 âm tính khi kết thúc điều trị. Kết luận: Đây là công cụ hữu ích nhằm đánh giá bệnh tồn lưu tối thiểu, giúp định hướng điều trị và tiên lượng cho người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy mang tổ hợp gen CBFB/MYH11 lúc chẩn đoán.

263 Khảo sát bất thường di truyền tế bào ở bệnh nhân loạn sản tủy tại bệnh viện Chợ Rẫy / Phan Công Hoàng, Hoàng Anh Vũ, Hoàng Thị Thúy Hà, Lê Bảo Ngọc, Lê Hùng Phong, Nguyễn Ngọc Mai, Mạc Hồng Phước, Lê Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Thị Thùy Dung, Dương Hoàng Quỳnh An, Nguyễn Thị Thanh Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 425 - 433 .- 610

Khảo sát đặc điểm di truyền tế bào trên nhiễm sắc thể đồ tủy xương của bệnh nhân loạn sản tủy. Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng loạn sản tủy theo tiêu chuẩn của WHO 2016 tại khoa Huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 5 năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 98 bệnh nhân loạn sản tủy có trung bình tuổi là 61,4 ± 1,2 tuổi, nam giới chiếm 53,06%, trong đó 39,8% bệnh nhân có công thức nhiễm sắc thể bất thường. Tỉ lệ blast giữa nhóm có bất thường di truyền tế bào cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có bất thường di truyền tế bào. Trong tổng số 98 BN, có 59 BN (60,2%) có công thức nhiễm sắc thể bình thường, 12 BN (12,24%) bất thường di truyền tế bào số lượng NST, 12 BN (12,24%) đa tổn thương, 11 BN (11,22%) bất thường di truyền tế bào NST đơn lẻ và 4 BN (4,08%) có bất thường di truyền tế bào số lượng cũng như cấu trúc NST. Theo phân nhóm tiên lượng WPSS, bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao và trung bình chiếm tỉ lệ lần lượt là 38,78%, 30,61%. Bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao theo tiêu chẩn IPSS-R chiếm tỉ lệ lần lượt là 29,59%, 26,53%, 25,51% và 18,37%. Tần suất bất thường di truyền tế bào thêm nhiễm sắc thể số 8 xuất hiện cao ở 3 nhóm bệnh SLD, MLD, EB-2 lần lượt là 50%, 35,29% và 33,33%. Kết luận: Bất thường di truyền tế bào ở bệnh nhân có chỉ số blast cao hơn so BN không có bất thường di truyền tế bào, bệnh nhân phân bố tập trung ở nhóm tiên lượng nguy cơ cao và nguy cơ trung bình, trong đó bất thường di truyền thường gặp nhất là thêm nhiễm sắc thể số 8.

264 Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính ở bệnh nhân tại bệnh viện E / Trần Thị Vân Hà, Đặng Bảo Châu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 425 - 433 .- 610

Khảo sát các yếu tố liên quan đến một kết quả kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính trên các bệnh nhân tại bệnh viện E. Đối tượng: 110 bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA 23 profile) tại Khoa Huyết học, Bệnh viện E. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, Thống kê T-test, Chi-q test. Kết quả: Nhóm nghiên cứu bao gồm 110 bệnh nhân bao gồm 56 bệnh nhân với triệu chứng lâm sàng đã được phân loại, khuyến cáo cho các bệnh tự miễn và 54 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng không điển hình rõ ràng; 74 (67,3%) bệnh nhân dương tính với ít nhất một trong 23 tự kháng thể kháng nhân (ANA) và 36 (32,7%) bệnh nhân cho kết quả âm tính. Nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng của giới tính tới tỷ lệ ANA dương tính (nữ có tỷ lệ cao hơn nam) với p = 0,026 nhưng sự khác biệt giữa ba nhóm tuổi 0 – 20; 21 – 50; 51 – 90 tuổi không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cho thấy mặc dù có mối tương quan giữa tỷ lệ ANA dương tính và nhóm có triệu chứng lâm sàng điển hình nhưng kết quả ANA trên tổng thể nghiên cứu sàng lọc có thể bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng lâm sàng không điển hình và còn bị ảnh hưởng bởi giới tính cũng như độ tuổi.

265 Đặc điểm tế bào, mô tủy xương và mối liên quan với bất thường di truyền ở bệnh nhân tăng tiểu cầu tiên phát tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2018-2023 / Nguyễn Vũ Bảo Anh, Nguyễn Ngọc Dũng, Cao Hà My // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 450 - 457 .- 610

Mô tả đặc điểm tế bào, mô tủy xương và so sánh các đặc điểm trên giữa các loại đột biến gen trong bệnh tăng tiểu cầu tiên phát (ET). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 316 bệnh nhân ET tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2018-2023. Kết quả: phần lớn bệnh nhân ET có số lượng bạch cầu (SLBC) tăng (> 11 G/L; 66,5%), số lượng tiểu cầu (SLTC) rất cao (> 1000 G/L; 52,8%), 52,8% tăng cả SLBC > 11 G/L và SLTC ≥ 1000 G/L. 82,9% bệnh nhân có mật độ tế bào tủy tăng, 91,8% có độ xơ tủy là MF-0. Đặc điểm mẫu tiểu cầu thường gặp gồm: kích thước lớn (95,6%), nhân lớn và tăng múi (hình san hô) (96,8%), đám rời rạc (54,1%) hoặc đám nhỏ 3-6 mẫu tiểu cầu (38,9%). Bệnh nhân có đột biến JAK2 có trung vị huyết sắc tố (Hb) cao hơn, trung vị SLBC cao hơn và trung vị SLTC thấp hơn so với bệnh nhân có đột biến CALR, MPL và triple-negative. Chỉ có 3/316 bệnh nhân không có bất thường nhân mẫu tiểu cầu, và đều không mang đột biến JAK2. Kết luận: nghiên cứu đã mô tả cụ thể các đặc điểm tế bào và mô học tủy xương thường gặp trong ET; các bệnh nhân có đột biến khác nhau có nhiều điểm khác biệt về chỉ số máu ngoại vi, song khá đồng đều về đặc điểm mô học tủy xương.

266 Xác định thời gian sống còn của hội chứng thực bào máu ở người lớn tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Nguyễn Thị Mỹ Linh, Huỳnh Thiện Ngôn, Nguyễn Quốc Thành // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 465 - 473 .- 610

Xác định thời gian sống còn của hội chứng thực bào máu ở người lớn tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, người bệnh từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán Hội chứng thực bào máu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 01 năm 2024. Kết quả nghiên cứu: 109 người bệnh được chẩn đoán Hội chứng thực bào máu với tuổi trung vị là 45 tuổi, dao động từ 17 đến 86 tuổi. Trong đó, 62 bệnh nhân (56,9%) là nam. Các triệu chứng lâm sàng hay gặp là sốt 98,2%, lách to 80,7%. Về đặc điểm cận lâm sàng, tất cả người bệnh đều có hình ảnh thực bào trong tủy đồ và tăng Ferritin. Yếu tố kích hoạt HCTBM thường gặp nhất là nhiễm trùng ở 52 bệnh nhân (47,7%) với tác nhân là EBV chiếm 36,7%. Thời gian sống còn toàn bộ trung vị là 80 ngày. Tỉ lệ sống còn 1 năm ước đoán là 30,9%. Tỉ lệ tử vong chung là 60,6% với 34 ca tử vong trong 30 ngày đầu tiên, chiếm 31,2%. Bệnh nhân nhóm chưa rõ yếu tố kích hoạt có thời gian sống trung vị ngắn nhất (16 ngày), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (p = 0,015). lớn có đặc điểm lâm sàng, yếu tố kích hoạt phức tạp, thời gian sống trung vị ngắn ngày.

267 Bước đầu khảo sát đặc điểm lâm sàng, sinh học, đáp ứng điều trị trên người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy người lớn có đột biến CEBPA tại bệnh viện Truyền máu Huyết học / Lê Huỳnh Ngọc Hân, Cao Văn Động, Ngô Ngọc Ngân Linh, Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 492 - 498 .- 610

Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) là bệnh lý ung thư huyết học phổ biến nhất trong nhóm bệnh bạch cầu cấp người lớn. Đột biến CEBPA liên quan cơ chế bệnh sinh BCCDT và tiên lượng bệnh. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu bước đầu đánh giá đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT de novo người lớn mang đột biến CEBPA bằng phác đồ tấn công A7D3 tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học (BV TMHH). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca, hồi cứu gồm 20 người bệnh (NB) được chẩn đoán BCCDT có mang đột biến CEBPA và điều trị đặc hiệu tại BV TMHH từ tháng 02/2020 đến tháng 12/2023. Kết quả: Tất cả NB được điều trị với phác đồ A7D3, tỉ lệ NB đạt lui bệnh hoàn toàn sau tấn công là 95%. Độc tính không phải huyết học thường gặp nhất là sốt giảm bạch cầu hạt (90%), nhiễm trùng được xác định ở 35% NB. Kết luận: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT người lớn có đột biến CEBPA bằng phác đồ A7D3 bước đầu cho thấy sự hiệu quả của phác đồ này.

268 Đánh giá tồn lưu tế bào ác tính trên người bệnh đa u tủy xương bằng phương pháp F-PCR kết hợp điện di mao quản các kiểu tái sắp xếp gen IG / Lê Huỳnh Ngọc Hân, Cao Văn Động, Ngô Ngọc Ngân Linh, Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Tấn Bỉnh, Phan Thị Xinh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 492 - 498 .- 610

Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) là bệnh lý ung thư huyết học phổ biến nhất trong nhóm bệnh bạch cầu cấp người lớn. Đột biến CEBPA liên quan cơ chế bệnh sinh BCCDT và tiên lượng bệnh. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu bước đầu đánh giá đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT de novo người lớn mang đột biến CEBPA bằng phác đồ tấn công A7D3 tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học (BV TMHH). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca, hồi cứu gồm 20 người bệnh (NB) được chẩn đoán BCCDT có mang đột biến CEBPA và điều trị đặc hiệu tại BV TMHH từ tháng 02/2020 đến tháng 12/2023. Kết quả: Tất cả NB được điều trị với phác đồ A7D3, tỉ lệ NB đạt lui bệnh hoàn toàn sau tấn công là 95%. Độc tính không phải huyết học thường gặp nhất là sốt giảm bạch cầu hạt (90%), nhiễm trùng được xác định ở 35% NB. Kết luận: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, sinh học, kết quả điều trị BCCDT người lớn có đột biến CEBPA bằng phác đồ A7D3 bước đầu cho thấy sự hiệu quả của phác đồ này.

269 Đánh giá kết quả điều trị lơ xê mi kinh dòng tủy có bất thường nhiễm sắc thể phối hợp tại Trung tâm Huyết học - Truyền máu, bệnh viện Bạch Mai / Phạm Thị Hằng, Vũ Minh Phương, Nguyễn Thị Lan Hương, Trần Phương Vinh, Nguyễn Thanh Bình Minh, Hàn Viết Trung, Nguyễn Tuấn Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 367 - 376 .- 610

Đánh giá kết quả điều trị của bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng tuỷ (CML) có bất thường nhiễm sắc thể phối hợp (ACAs). Đối tượng: Các bệnh nhân CML giai đoạn mạn tính được điều trị bằng các thuốc ức chế tyrosin kinase (TKIs) tại Trung tâm Huyết học- Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai từ 2012 đến 12/2022. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập hồi cứu. Kết quả: Các ACAs phổ biến nhất bao gồm đột biến nhiễm sắc thể (NST) phức tạp (30,5%), biến thể Ph (23,7%), trisomy 8 (13,6%) và hai NST Ph (8,5%). Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về huyết học sau 3 tháng là 86,4%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền tế bào sau 12 tháng điều trị là 35,6%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về di truyền phân tử là 49,1%. Tỷ lệ còn sống đến thời điểm hiện tại là 61,0%. Tỷ lệ sống trên 5 năm là 68,8%. Thời gian sống toàn bộ (OS), thời gian sống thêm không sự kiện (EFS) của nhóm có ACAs thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có ACAs Kết luận: Bệnh nhân CML có ACAs được điều trị TKIs có tỷ lệ đáp ứng kém hơn, tỷ lệ tử vong cao hơn, OS và EFS thấp hơn.

270 Khảo sát tình trạng thiếu máu và các yếu tố liên quan truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố / Bùi Đoàn Xuân Linh, Huỳnh Nghĩa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 183-191 .- 610

Khảo sát tình trạng thiếu máu và các yếu tố liên quan truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu trên 137 trẻ sinh non, dưới 7 ngày tuổi nhập viện tại bệnh viện Nhi Đồng Thành phố từ 8/2019 đến 3/2020. Kết quả: Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ sơ sinh non tháng nhập viện trong vòng 7 ngày đầu đời là 26% (36/137 ca). Tỉ lệ truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng là 30,6% (42/137) trong đó nhóm thiếu máu lúc nhập viện: có 50% (18/36) trẻ sau đó có truyền máu trong 7 ngày đầu nhập viện, nhóm không thiếu máu lúc nhập viện mà thiếu máu xuất hiện trong 7 ngày đầu nhập viện, phải truyền máu: 23,7% (24/101). Nhóm tuổi thai < 32 tuần, nguy cơ truyền máu giảm 25% khi tuổi thai tăng thêm một tuần, nhiễm trùng làm tăng nguy cơ truyền máu lên 3,02 lần ở nhóm truyền máu so với nhóm không truyền máu (p < 0,05). Kết luận: Trong thực hành lâm sàng, chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng cần lưu ý chẩn đoán thiếu máu ở trẻ sinh non đặc biệt những trẻ có tuổi thai lúc sinh < 32 tuần hoặc những trẻ có CNLS< 1500g. Cần có hướng dẫn thực hành truyền máu cụ thể, thống nhất trong chọn chế phẩm máu ở trẻ sơ sinh và nhất là trong trường hợp chưa xác định được nhóm máu hệ ABO (ghi nhận tồn tại 2 quần thể hồng cầu ABO ở trẻ sơ sinh), thứ tự ưu tiên lựa chọn nhóm máu của chế phẩm máu hồng cầu lắng, tiểu cầu, huyết tương tươi đông lạnh trong trường hợp trẻ cần truyền nhiều chế phẩm máu cùng đợt nhập viện. Nên có những nghiên cứu khoa học đánh giá toàn diện và theo dõi các trẻ sinh non thiếu máu có chỉ định truyền máu về miễn dịch trước truyền máu và sau truyền máu.