CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
231 Cost of diabetes treatment from the payer’s perspective and related factors in the Central Region of Vietnam = Chi phí điều trị đái tháo đường theo quan điểm người chi trả và một số yếu tố liên quan tại khu vực miền Trung, Việt Nam / Nguyen Dac Quynh Anh, Nguyen Song Hieu // .- 2025 .- Số 06(73) .- P. 110-116 .- 610
The objective of this study was to estimate the direct costs of diabetes treatment from the payer's perspective and to identify factors related to costs of patients in central region of Vietnam. A cross-sectional descriptive study, and a method of estimating disease costs, were conducted on 1059 diabetes patients being treated at Cam Le District Health Center – Danang city and Hue city Health Center, from January 2022 to April 2023.
232 Một số yếu tố liên quan đến bề dày lớp mỡ thượng tâm mạc ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện 199 / Nguyễn Đắc Quỳnh Anh, Lâm Quan Thuận // .- 2025 .- Số 06(73) .- Tr. 117-123 .- 610
Mô tả bề dày và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bề dày lớp mỡ thượng tâm mạc ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện 199.
233 Thực trạng quản lý sử dụng thiết bị y tế tại Bệnh viện 199, Bộ Công an, thành phố Đà Nẵng năm 2024 / Phạm Thị Thu Trang, Phạm Bá Hiền, Phạm Quỳnh Anh, Nguyễn Song Hiếu, Nguyễn Đắc Quỳnh Anh, Lưu Nguyễn Thành Nhân // .- 2025 .- Số 06(73) .- Tr. 124-133 .- 610
Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng thiết bị tại Bệnh viện 199, Bộ Công an năm 2024 và một số yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, quan sát ngẫu nhiên 40 thiết bị y tế tại 20 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, đồng thời phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và nhân viên vận hành.
234 Động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Mắt TP. Đà Nẵng năm 2024 / Trần Minh Trang, Phạm Bá Hiền, Chu Huyền Xiêm, Nguyễn Song Hiếu, Trần Thanh Việt // .- 2025 .- Số 06(73) .- Tr. 134-143 .- 610
Đánh giá động lực làm việc của nhân viên y tế Bệnh viện Mắt TP. Đà Nẵng, từ đó làm cơ sở tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện trong công tác quản lý bệnh viện.
235 Analysis of the testing capability and actual requirements : a case study at the Da Nang Quality Control Center in 2021 = Phân tích năng lực kiểm nghiệm so với yêu cầu thực tế tại Trung tâm Kiểm nghiệm Đà Nẵng năm 2021 / Le Thi Thanh Minh, Nguyen Thi Nhon, Hoang Ha, Ha Hai Anh // .- 2023 .- Số 04 (59) - Tháng 8 .- P. 105-112 .- 610
These limitations are not exclusive to DQCC but are prevalent in other testing centers as well. The study highlights the need for attention and investment from higher-level organizations to overcome these challenges. By addressing equipment shortages, providing standardized materials and chemicals, and enhancing the overall testing infrastructure, DQCC can improve its capabilities, adhere to international standards, and ensure the quality of pharmaceutical products. Future research should focus on improving testing capacity for tablets, injections, and herbal/traditional drugs to meet the increasingly strict requirements and variety of dosage forms of the pharmaceutical sector.
236 Đánh giá tình trạng nhiễm trùng huyết tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học - bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2017 đến 6 tháng đầu năm 2024 / Trần Thanh Tùng, Trương Phạm Hồng Diễm, Nguyễn Thị Ngọc Sang // .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 260 - 267 .- 610
Đánh giá tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân tại đơn vị Ghép tế bào thuộc khoa Huyết học tại bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng được thực hiện cấy bệnh phẩm với kết quả dương tính điều trị tại Khoa huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2018 đến hết tháng 6/2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 33 bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng với 37 kết quả cấy dương tính trong tổng số 314 lượt nhập viện (10,5%). Bệnh nhân nam chiếm 42,4%. Tuổi trung vị là 38 (27-53) tuổi. Đa số tác nhân được phân lập là vi khuẩn gram âm (81,8%), trong đó nhiều nhất là Klebsiella pneumoniae đa kháng, tiếp đến là Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa với tỉ lệ lần lượt là 45,5%, 27,3%, 12,1%. Tỉ lệ Klebsiella pneumoniae và E.coli đề kháng với carbapenem lần lượt là 80,0% và 22,0%. Tác nhân gram dương chiếm 15,2% gồm ba loại chính là Streptococcus spp. (9,1%), Staphylococcus aureus (3,0%) và Staphylococcus epidermidis (3,0%), tất cả còn nhạy với vancomycin. Có 1 trường hợp cấy máu dương tính với vi nấm Candida tropicalis. Phần lớn bệnh nhân có chỉ số CRP tăng với giá trị trung vị là 99,1 (4,2 - 324) (mg/L) và giá trị procalcitonin không tăng với giá trị trung vị là 0,33 (0,07 – 18,3) (ng/ml). Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%. Kết luận: Tỉ lệ nhiễm trùng huyết có phân lập được tác nhân gây bệnh tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học- Bệnh viện Chợ Rẫy là 10,5% lượt nhập viện. Tác nhân vi khuẩn thường gặp nhất là gram âm, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là K. pneumoniae đa kháng. Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%.
237 Đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ Docetaxel, Carboplatin và Trastuzumab ở bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III / Trần Thanh Vy, Phan Thị Hồng Đức, Nguyễn Hoàng Quý // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 91 - 101 .- 610
Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Lợi ích của trastuzumab khi kết hợp vào hóa trị tân hỗ trợ trong bệnh ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính đã được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab tại khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú nguyên phát có giải phẫu bệnh là carcinôm xâm nhiễm, giai đoạn II, III theo AJCC 8th. Kết quả: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021 chúng tôi thu nhận được 124 trường hợp carcinôm vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, trong đó có 121 trường hợp được phẫu thuật sau hóa trị tân hỗ trợ. Giai đoạn bướu trước điều trị hơn 50% bệnh nhân ở giai đoạn cT4, 71,2% có di căn hạch trên lâm sàng và giai đoạn III chiếm 74,2%. Tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được hóa trị tân hỗ trợ đủ 6 chu kỳ. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) là 82,3%, trong đó tỷ lệ đáp ứng lâm hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là 12,9%, 69,4%, 14,5% và 3,2%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học tại bướu là 62%, tại hạch là 72,7% và tại bướu và hạch (tpCR) là 52,9%. Độc tính hóa trị tân hỗ trợ: 5,6% giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3 – 4, 8,1% giảm hồng cầu độ 3 – 4, 2,4% giảm tiểu cầu độ 3, và không có trường hợp nào tăng nhịp tim và suy tim, chỉ có 3,2% trường hợp giảm LVEF ≥ 15%. Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy phác đồ hóa trị tân hỗ trợ docetaxel, carboplatin và trastuzumab có tỷ lệ đáp ứng lâm sàng toàn bộ và đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học cao. Trong khi đó, độc tính hóa trị tân hỗ trợ thấp và có thể theo dõi, kiểm soát được.
238 Nghiên cứu tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý trong phẫu thuật cắt giáp và nạo hạch cổ nhóm vi tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 / Võ Duy Phi Vũ, Trần Thị Anh Tường, Trần Sơn Vũ, Huỳnh Thanh Hổ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 3 - 8 .- 610
Cắt tuyến phó giáp không chủ ý (IP) là một biến chứng không phải không thường gặp khi phẫu thuật tuyến giáp trong điều trị ung thư tuyến giáp. IP có thể làm tăng biến chứng giảm canxi máu tạm thời hay vĩnh viễn sau mổ. Tuy vậy, IP vẫn còn ít được nghiên cứu. Mặc dù các yếu tố nguy cơ của IP chưa biết hết nhưng phẫu thuật viên nên nỗ lực hết sức để bảo tồn tuyến phó giáp. Đối tượng - phương pháp: Chúng tôi hồi cứu 195 ca ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023. Phân tích đơn biến được chúng tôi phân tích để tìm các yếu tố nguy cơ của IP trong nghiên cứu này. Kết quả: Nghiên cứu có 195 ca cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI có hay không có kết hợp nạo hạch cổ bên. Tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý là 8,7%. Có 1 trường hợp tuyến phó giáp nằm trong bệnh phẩm tuyến giáp, còn lại nằm trong bệnh phẩm hạch nhóm VI. Không có yếu tố nguy cơ nào làm tăng IP có ý nghĩa thống kê và IP cũng không làm tăng nguy cơ giảm canxi do suy phó giáp sau phẫu thuật. Kết luận: Cắt tuyến phó giáp không chủ ý không phải hiếm gặp ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Nên áp dụng kỹ thuật mới trong quang phổ cận hồng ngoại để tăng tỉ lệ bảo tồn tuyến phó giáp trong phẫu thuật tuyến giáp nhất là khi có nạo hạch cổ nhóm VI.
239 Vai trò của thời gian nhân đôi thyroglobulin trong đánh giá tái phát, di căn ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa / Nguyễn Quang Cường, Lê Thị Thùy Trang, Lê Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Duy Trì // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 9 - 16 .- 610
Mối liên quan giữa Tg-DT với biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. So sánh hiệu quả của việc sử dụng Tg-DT và Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: 47 bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính, được chụp 18F – FDG PET/CT nhằm đánh giá tái phát, di căn tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2024. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu. Kết quả: 18F – FDG PET/CT phát hiện được tổn thương tái phát ở 34 bệnh nhân (72,3%), trong đó phát hiện di căn xa ở 13 bệnh nhân (27,6%). Tg-DT thấp hơn có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có PET/CT dương tính so với nhóm PET/CT âm tính (p = 0,03) cũng như giữa nhóm có di căn xa và không có di căn xa (p = 0,04). Phân tích đường cong ROC, Tg-DT có độ chính xác cao hơn Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Ngưỡng cut-off Tg-DT ≤ 29 tháng cho độ nhạy 88,2% và độ đặc hiệu 69,2% trong dự đoán PET/CT dương tính, trong khi Tg-DT ≤ 23 tháng cho độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 84,6% và 41,2% trong dự đoán hình ảnh di căn xa trên PET/CT. Kết luận: Tg-DT là một chỉ số có giá trị tốt hơn Tg đơn thuần trong dự đoán kết quả tái phát, di căn trên 18F – FDG PET/CT ở bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính.
240 Đánh giá bước đầu phẫu thuật đoạn chậu trong ung thư phụ khoa initial / Nguyễn Duy Thư, Nguyễn Văn Tiến, Phan Viết Việt Bảo, Nguyễn Hoàng Duy Thanh, Trần Quang Kiên, Nguyễn Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Yến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 287 - 298 .- 610
Đoạn chậu (PE) được chỉ định trong các trường hợp ung thư vùng chậu tái phát, tiến triển không đáp ứng với hóa xạ trị hoặc phẫu thuật giảm nhẹ. Mặc dù phẫu thuật có tỷ lệ biến chứng cao nhưng lại là phương pháp điều trị duy nhất còn hiệu quả. Phương pháp: Hồi cứu mô tả những bệnh nhân trải qua PE từ tháng 10 năm 2022 đến nay tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Kết quả: 48 bệnh nhân được phẫu thuật do ung thư phụ khoa tái phát, rò sau điều trị hoặc được chẩn đoán ngay từ đầu với tỷ lệ bệnh lần lượt là 36 (75%), 6 (12.5%) và 6 (12.5%). Đo ạn chậu toàn phần là 28 trường hợp (58%), đoạn chậu trước là 8 trường hợp (16%) và sau là 12 trường hợp (25%). Theo phân loại Clavien Dindo biến chứng sớm mức độ II và III lần lượt xảy ra ở 43.8% và 31.2%. Không có trường hợp tử vong nào được quan sát trong vòng 30 ngày. Biến chứng muộn sau 30 ngày có 15 bệnh nhân (31.2%) trong đó biến chứng về niệu chiếm phần đa số . Kết luận: Đoạn chậu là cơ hội cuối cùng ở những bệnh nhân có bệnh tái phát cũng như tiến triển. Phẫu thuật khả thi với tỷ lệ biến chứng chấp nhận được đi kèm với lợi ích lâu dài. Qua nghiên cứu, chúng tôi mong muốn cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho việc xác định những bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ phẫu thuật.





