CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
1971 Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Lê Hoài Thương, Trần Ngọc Ánh, Đậu Quang Liêu // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 92-100 .- 610

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Hầu hết bệnh nhân có chức năng gan ở giai đoạn Child-Pugh A. AFP tăng là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư tế bào gan. Ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến triển, giai đoạn mà các phương pháp can thiệp có sự hạn chế về lợi ích điều trị, vẫn chiếm tỷ lệ còn khá cao. Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết về các chương trình phòng ngừa và giám sát để chẩn đoán bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tế bào gan ở giai đoạn sớm hơn song song với việc cải thiện chất lượng chẩn đoán và điều trị để giảm cả tỷ lệ mắc bệnh tử vong.

1972 Suy giảm hoạt động thị giác và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thị giác ở bệnh nhân đục thủy tinh thể được khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Ngô Thị Xuân Thao, Ngô Thị Tiên, Trần Hải, Lại Văn Hiếu // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 101-109 .- 610

Nghiên cứu nhằm mô tả suy giảm hoạt động thị giác và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thị giác ở bệnh nhân đục thủy tinh thể được khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tỷ lệ bệnh nhân bị suy giảm hoạt động thị giác ở bệnh nhân mắc bệnh đục thủy tinh thể là rất cao, có thể gặp ở các mức độ từ suy giảm tối thiểu cho đến mức độ rất nghiêm trọng. Các yếu tố: Tuổi, mức độ đục thủy tinh thể có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến mức độ suy giảm hoạt động thị giác và trình độ học vấn có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch (p<0,05). Việc khảo sát các hoạt động thị giác và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến suy giảm hoạt động thị giác ở bệnh nhân mắc đục thủy tinh thể là việc làm rất cần thiết giúp cho các bác sĩ chuyên khoa Mắt có thêm thông tin sớm về tình hình bệnh của bệnh nhân và đề ra các chỉ định hợp lý, kịp thời hơn trong điều trị đục thủy tinht thể.

1973 Kết quả bước đầu trong tái tạo tổn khuyết khoang miệng bằng vạt dưới cằm / Lê Ngọc Sơn, Đặng Triệu Hùng // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 110-115 .- 610

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả bước đầu trong tái tạo tổn khuyết khoang miệng bằng vạt dưới cằm. Vạt dưới cằm đã được công nhận là một vạt tại chỗ hữu ích để tạo hình khoang miệng với độ tin cậy cao, tổn thương ở vị trí cho vạt thấp và thời gian phẫu thuật ngắn, trong khi vẫn duy trì được chức năng nói và nuốt. Ở những bệnh nhân có khối u chưa xâm lấn qua khoang giữa, vạt dưới cằm có cuốn mạch bên đối diện là một lựa chọn đầy hứa hẹn nhờ vào cung xoay rộng và có thể nạo vét hạch cổ cùng bên mà không ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của cuốn mạch. Phương pháp phẫu thuật tái tạo tổn khuyết khoang miệng bằng vạt dưới cằm là lựa chọn tạo hình thích hợp cho các tổn khuyết sau cắt bỏ khối u khoang miệng, ít biến chứng và kết quả phục hồi chức năng nói, nuốt tốt.

1974 Tình trạng lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh khám nam học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Bùi Đình Oanh, Nguyễn Hoài Bắc, Chu Thị Chi // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 116-122 .- 610

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả tình trạng lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh khám nam học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Hiện nay, tỷ lệ nam giới mắc các bệnh lý về nam khoa ngày càng phổ biến. Khác với nữ giới, nam giới thường hay trì hoãn việc đi khám do tâm lý xấu hổ, ngại ngùng làm các triệu chứng của bệnh nặng thêm. Có rất nhiều nghiên cứu về lo âu với các bệnh lý khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về lo âu ở bệnh nhân nam khoa. Việc xác định tỷ lệ lo âu của bệnh nhân khám giúp bác sĩ có thể lựa chọn cách thức giao tiếp phù hợp khi thăm khám, chú trọng đến yếu tố tâm lý để kịp thời phát hiện và điều trị những rối loạn tâm lý kèm theo bên cạnh việc điều trị chính.

1975 Chẩn đoán căn nguyên nốt đơn độc ở phổi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Lê Hoàn, Vũ Văn Giáp, Đinh Thị Thanh Hồng, Nguyễn Thị Như Quỳnh, Trần Khánh Chi, Lê Minh Hằng // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 123-130 .- 610

Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả các đặc điểm về lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên nốt đơn độc phổi, từ đó giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm kinh nghiệm trong việc đưa ra quyết định quản lý theo dõi các tổn thương này nhằm chẩn đoán và điều trị kịp thời các nốt phổi gợi ý ác tính và tránh những can thiệp không cần thiết với các nốt phổi đơn độc có tính chất lành tính. Nốt đơn độc ở phổi được định nghĩa là tổn thương đơn độc trên X quang phổi với kích thước <=3cm, xung quanh là nhu mô phổi lành không gây xẹp phổi, không kèm hạch trung thất hay tràn dịch màng phổi. Đây là dạng tổn thương phổi khá thường gặp, có thể do nhiều nguyên nhân gây nên. Các nguyên nhân lành tính bao gồm: u lao, harmatoma, hạch lympho tại phổi, sarcoidosis, u nấm. Các căn nguyên ác tính gồm: ung thư phổi, ung thư di căn phổi, u lympho…

1976 Xác định căn nguyên nhiễm trùng đường hô hấp dưới cộng đồng bằng kỹ thuật chuỗi phản ứng polymerase đa mồi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Lê Hoàn, Lê Minh Hằng, Định Thị Thanh Hồng, Trần Khánh Chi, Trần Minh Châu, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Như Quỳnh // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 131-137 .- 610

Nhằm xác định căn nguyên nhiễm trùng đường hô hấp dưới cộng đồng bằng kỹ thuật chuỗi phản ứng polymerase đa mồi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nhiễm trùng đường hô hấp dưới là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới. Chẩn đoán căn nguyên giúp định hướng cho điều trị và quản lý. Multiplex PCR là một kỹ thuật mới được áp dụng rộng rãi trên thế giới để chẩn đoán căn nguyên nhiễm trùng nhưng vẫn chưa được áp dụng phổ biến tại Việt Nam. Qua báo cáo chùm ca bệnh bước đầu sử dụng PCR trong việc chẩn đoán căn nguyên nhiễm trùng hô hấp dưới cho thấy vai trò và ưu điểm nổi trội của PCR so với phương pháp nuôi cấy thông thường.

1977 Mối liên quan giữa bụi mịn với số người bệnh cao tuổi mắc tai biến mạch máu não tại 05 bệnh viện tại thành phố Đà Nẵng năm 2019 / Ngô Văn Toàn, Lê Vũ Thúy Hương, Trần Thị Thoa, Nguyễn Thị Khánh Linh, Trần Quỳnh Anh // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 138-145 .- 610

Nhằm nghiên cứu mối liên quan giữa bụi mịn với số người bệnh cao tuổi mắc tai biến mạch máu não tại 05 bệnh viện tại thành phố Đà Nẵng năm 2019. Bụi mịn là những hạt bụi có đường kính rất nhỏ, chỉ có thể được phát hiện bằng kính hiển vi điện tử, bụi mịn có thể xuyên qua hàng rào phổi vào hệ thống máu. Phơi nhiễm mạn tính với các hạt góp phần vào nguy cơ phát triển các bệnh lý tim mạch và hô hấp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây gia tăng tỷ lệ nhập viện và tỷ lệ tử vong của tai biến mạch máu não ở người già. Bằng chứng cho thấy bụi mịn kích hoạt phản ứng viêm và gây tổn thương oxy hóa. Bụi mịn có thể làm tăng sự hình thành mảng bám trong mạch máu và có thể ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh tự động, điều khiển nhịp tim. Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về mối liên quan giữa sự gia tăng nồng độ bụi mịn trong không khí ảnh hưởng tới sức khỏe người cao tuổi, đặc biệt là những người có nguy cơ mắc bệnh tai biến mạch máu não tại thành phố Đà Nẵng.

1978 Hiệu quả của bài tập tiếng Việt cho bệnh nhân liệt dây thần kinh quặt ngược một bên sau cắt tuyến giáp toàn bộ / Phạm Thị Bích Đào, Lê Minh Đạt, Trần Văn Tâm, Phạm Anh Dũng, Phạm Thị Bích Thủy, Mai Thị Mai Phương, Bùi Thị Mai // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 146-153 .- 610

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của bài tập tiếng Việt cho bệnh nhân liệt dây thần kinh quặt ngược một bên sau cắt tuyến giáp toàn bộ. Tỷ lệ phẫu thuật cắt tuyến giáp có xu hướng tăng dần, đi kèm với phẫu thuật này là những thay đổi về giọng sau phẫu thuật, đặc biệt là tổn thương dây thần kinh hồi quy sau phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy bài tập có hiệu quả đối với người bệnh liệt một bên dây thần kinh thanh quản quặt ngược sau phẫu thuật tuyến giáp toàn bộ. Chỉ số về chất giọng cải thiện tới 80% với nhóm được tập và 30% với nhóm không được tập theo bài tập.

1979 Phẫu thuật cố định cột sống ít xâm lấn và giải ép gián tiếp trong chấn thương mất vững cột sống vùng ngực – thắt lưng / Trần Trung Kiên, Kiều Đình Hùng, Bùi Văn Sơn // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 160-168 .- 610

Trình bày phẫu thuật cố định cột sống ít xâm lấn và giải ép gián tiếp trong chấn thương mất vững cột sống vùng ngực – thắt lưng. Chấn thương mất vững cột sống vùng ngực – thắt lưng cần được phẫu thuật cố định cột sống giải ép để bệnh nhân vận động sớm, tránh các biến chứng do bất động lâu. Ngoài ưu điểm của phẫu thuật ít xâm lấn thì vẫn có thể đạt được mức nắn chỉnh góc gù, tái cấu trúc ống sống giải phóng chèn ép thần kinh và duy trì chiều cao thân đốt sống. Phẫu thuật cố định cột sống ít xâm lấn và giải ép gián tiếp có hiệu quả cao và an toàn, đặc biệt trong các trường hợp chấn thương mất vững cột sống vùng bản lề cột sống ngực – thắt lưng.

1980 Kết quả bước đầu điều trị thoát vị đĩa đệm L5/S1 bằng phẫu thuật nội soi liên bảng sống / Nguyễn Vũ, Lê Đức Tâm // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2021 .- Số 11(Tập 147) .- Tr. 177-185 .- 610

Nghiên cứu đánh giá kết quả bước đầu điều trị thoát vị đĩa đệm L5/S1 bằng phẫu thuật nội soi liên bảng sống. Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là tình trạng di lệch khu trú của nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong khoang gian đốt. Khối thoát vị chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh gây triệu chứng đau, yếu hoặc tê bì theo phân bố cảm giác của rễ thần kinh với khoanh tủy tương ứng. Vị trí thường gặp nhất là L4/L5 và L5/S1, do hai đĩa đệm này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống. Phẫu thuật nội soi liên bảng sống là can thiệp ít xâm lấn, và là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả trong thoát vị đĩa đệm tầng L5/S1.