CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
131 Theo dõi đặc điểm vết mổ phẫu thuật chỉnh hình chi dưới bằng công cụ đánh giá vết mổ SWAT tại bệnh viện Quân Y 175 / Trịnh Thị Thơm // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 74-83 .- 610

Đánh giá và theo dõi vết mổ đóng vai trò thiết yếu trong chăm sóc hậu phẫu. Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ chuẩn hóa để hỗ trợ đánh giá trong thực hành vẫn còn hạn chế. Mô tả đặc điểm vết mổ sau phẫu thuật chỉnh hình chi dưới bằng công cụ SWAT, xác định điểm số SWAT, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) và các yếu tố liên quan. Đặc điểm vết mổ phù hợp với quá trình lành thương. Điểm SWAT giảm dần qua 3 lần đánh giá. Tỷ lệ NKVM là 3,1%. Các yếu tố liên quan gồm: phẫu thuật cấp cứu, vị trí phẫu thuật và các đặc điểm vết mổ như da tấy đỏ, mép vết mổ, số lượng và tính chất dịch.

132 Nghiên cứu góc QRS - T trên điện tâm đồ bề mặt ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên / Nguyễn Anh Vũ // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 14-24 .- 610

Nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên là một thể của hội chứng động mạch vành cấp, là một yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong và tỉ lệ xuất hiện các biến cố tim mạch, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong phương pháp điều trị. Phân tầng nguy cơ sớm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên đóng vai trò rất quan trọng trong việc tối ưu hóa điều trị. Góc QRS - T ở mặt phẳng trán của điện tâm đồ bề mặt là một trong những dấu hiệu hiện đã và đang được chứng minh có vai trò trong đánh giá và tiên lượng mức độ nặng của bệnh nhân Nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên. Mục tiêu: 1: Khảo sát góc QRS - T trên điện tâm đồ bề mặt ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên. 2: Tìm hiểu mối liên quan và tương quan giữa góc QRS - T trên điện tâm đồ bề mặt với nồng độ hs - Troponin T huyết thanh, phân suất tống máu thất trái, phân độ Killip và tình trạng rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 bệnh nhân được chẩn đoán Nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên tại Khoa Cấp cứu Tim mạch - Can thiệp, Bệnh viện Trung ương Huế từ ngày 06/02/2023 đến ngày 15/01/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình của quần thể nghiên cứu là 65,76 ± 11,5 tuổi, tỉ lệ bệnh nhân ≥ 65 tuổi chiếm 56,9%, tỉ lệ nam giới chiếm 67,0%. Điểm cắt tối ưu của góc f(QRS - T) trong nghiên cứu của chúng tôi là 84,500, có giá trị tiên lượng bệnh nhân Nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên có độ nhạy là 80,0% và độ đặc hiệu là 63,5% với diện tích dưới đường cong là 0,78. Giá trị trung bình của góc f(QRS - T) cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có phân độ Killip II - IV, phân tầng nguy cơ TIMI - STEMI trung bình - cao, suy tim EF giảm và tình trạng rối loạn nhịp so với các phân nhóm tương đương. Chúng tôi ghi nhận được có mối tương quan nghịch giữa góc f(QRS - T) với phân suất tống máu thất trái (LVEF) với r = - 0,36 và p < 0,001. Có mối liên quan và tương quan giữa góc f(QRS - T) với phân suất tống máu thất trái, phân độ Killip, tình trạng rối loạn nhịp. Kết luận: Điểm cắt tối ưu của góc f(QRS - T) là 84,500 có giá trị xác định ranh giới giữa giá trị của góc f(QRS - T) lên mức độ nặng của bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên. Có mối liên quan và tương quan giữa giá trị của góc f(QRS - T) với phân suất tống máu thất trái, tình trạng rối loạn nhịp, phân độ Killip, phân tầng nguy cơ TIMI dành cho bệnh nhân STEMI.

133 Đánh giá hiệu quả các phương thức dùng thuốc qua khoang ngoài màng cứng trong giảm đau trong chuyển dạ sinh thường / Lê Đình Trà Mân // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 49-55 .- 610

Sinh con là một trải nghiệm vô cùng vui vẻ, tuy nhiên quá trình chuyển dạ là một trong những trải nghiệm nhiều đau đớn nhất mà phụ nữ trải qua trong đời. Giảm đau ngoài màng cứng với nhiều phương thức duy trì liều ropivacain khác nhau nhằm nỗ lực đạt được những tiêu chuẩn của giảm đau lý tưởng, đem lại sự thoải mái và hài lòng cho sản phụ. Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm đau chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng ropivacain giữa ba phương pháp tiêm ngắt quãng, do bệnh nhân tự kiểm soát hoặc truyền liên tục. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả mô tả tiến cứu có so sánh trên 150 sản phụ được gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong chuyển dạ sinh thường tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 07/2023 đến tháng 07/2024. Nghiên cứu phân tích ba nhóm, mỗi nhóm 50 sản phụ: nhóm ngắt quãng thực hiện tiêm ngắt quãng 7 ml thuốc tê ropivacain 0,1% + fentanyl 2 mcg/ml mỗi 45 phút; nhóm kiểm soát duy trì liều thuốc tê thấp 5 ml/giờ và sử dụng PCA khi sản phụ đau; nhóm liên tục duy trì liều thuốc tê 10 ml/giờ. Ở cả ba nhóm, sản phụ khi đau được tiêm liều giải cứu là 5ml thuốc tê. Kết quả: Phương pháp tiêm ngắt quãng từng liều thuốc tê trong khoang ngoài màng cứng đem lại hiệu quả giảm đau tốt nhất. Tỷ lệ sản phụ có điểm VAS trung bình sau gây tê và VAS ≥ 4 sau tê 1 giờ của nhóm tiêm ngắt quãng đều thấp hơn nhóm bệnh nhân tự kiểm soát và truyền liên tục (92%, 28% và 66%; p < 0,05). Tỷ lệ cần liều giải cứu của nhóm tiêm ngắt quãng và nhóm bệnh nhân tự kiểm soát thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm truyền liên tục (8% và 4% so với 38%). Tổng liều thuốc tê sử dụng của nhóm tiêm ngắt quãng là 46,5 mg, nhóm bệnh nhân tự kiểm soát 42,7 mg và cao nhất là nhóm truyền liên tục với 52,3 mg. 96% sản phụ rất hài lòng và 4% hài lòng vừa với phương pháp tiêm ngắt quãng. Các tác dụng không mong muốn không có sự khác biệt ở cả ba nhóm nghiên cứu. Kết luận: Phương pháp tiêm ngắt quãng từng liều mang lại hiệu quả tốt nhất để giảm đau trong chuyển dạ và nên được ứng dụng trên lâm sàng.

134 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng chọn lựa thuốc sinh học của bác sĩ và bệnh nhân trong điều trị bệnh vảy nến mức độ trung bình nặng / Nguyễn Thị Hồng Chuyên, Nguyễn Thị Mai Xuân, Văn Thế Trung // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 17-23 .- 610

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng chọn lựa thuốc sinh học của bác sĩ và bệnh nhân trong điều trị bệnh vảy nến mức độ trung bình - nặng. Thuộc tính có tầm quan trọng tương đối (Relative importance – RI) cao nhất ở nhóm bệnh nhân là chi phí (RI: 29,3%) và ở nhóm bác sĩ là hiệu quả dài hạn (RI: 39,3%). Bệnh nhân quan tâm tần suất điều trị (RI: 19,5%) và tỉ lệ nhiễm trùng nghiêm trọng (RI: 14,6%) hơn so với bác sĩ. Thuộc tính ít ảnh hưởng đến lựa chọn của bệnh nhân và bác sĩ là hiệu quả duy trì sau ngưng thuốc và hiệu quả ngắn hạn. Chi phí điều trị là thuộc tính quan trọng nhất đối với bệnh nhân vảy nến ở Việt Nam, trong khi hiệu quả dài hạn là thuộc tính được ưu tiên nhất khi bác sĩ lựa chọn thuốc sinh học. Kết quả nghiên cứu góp phần đưa ra quyết định chung giữa bác sĩ và bệnh nhân nhằm cải thiện sự tuân thủ của bệnh nhân cũng như hiệu quả điều trị.

135 Khe hở giữa hai răng cửa giữa hàm trên ở người Việt trưởng thành / Huỳnh Hữu Thục Hiền // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 102-107 .- 610

Xác định tỉ lệ hở kẽ răng cửa giữa hàm trên người Việt trưởng thành; (2) Mối liên quan giữa tình trạng hở kẽ răng cửa giữa hàm trên và đặc điểm thắng môi trên. Nghiên cứu cắt ngang mô tả khảo sát sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận khe hở hơn 0,5 mm giữa hai răng cửa giữa trên bằng cách dùng thước giấy. Tất cả sinh viên cũng được khám đánh giá vi trí thắng môi trên theo phân loại Mirko (1974) và hình dạng thắng theo phân loại Sewerin (1971). Sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát cảm nhận thẩm mỹ, chức năng và nhu cầu điều trị đối với sinh viên có hở kẽ. Kết quả: Qua khám đánh giá 1.597 sinh viên gồm 962 nữ (60,2%) và 635 nam (39,8%) ghi nhận có 92 người có tình trạng hở kẽ giữa (5,76%). Trong đó có 29 nam (31,52%) và 63 nữ (68,49%), không có sự khác biệt giới tính về tình trạng hở kẽ giữa. Có khác biệt có ý nghĩa về vị trí thắng môi giữa nhóm có và không có hở kẽ giữa (p <0,01), những người có vị trí thắng môi bám thấp có tỉ lệ hở kẽ giữa cao hơn so với người có vị trí bám bình thường. Khả năng có khe hở giữa hai răng cửa hàm trên cao gấp 9,81 lần ở nhóm thắng môi trên bám bất thường so với nhóm có vị trí bám bình thường (OR=9,81. 95%CI=5,21-18,7). Kết luận: Tỉ lệ khe hở kẽ giữa trong mẫu nghiên cứu là 5,76%. Có mối liên quan giữa khe hở giữa hai răng cửa với vị trí bám của thắng môi trên.

136 Thực trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính / Nguyễn Đình Luân // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 8-16 .- 610

Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng gặp phổ biến ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) và có ảnh hưởng xấu đến tiến triển, nguy cơ đợt cấp và tiên lượng. Đánh giá và can thiệp kịp thời về dinh dưỡng giúp nâng cao hiệu quả quản lý người bệnh. SDD gặp với tỷ lệ cao ở người BPTNMT, đặc biệt ở nhóm D. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ số BMI, SGA, MNA là phương pháp không xâm lấn, dễ thực hiện và có tính chính xác cao. Mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng SDD và nguy cơ của bệnh cho thấy tầm quan trọng của việc sàng lọc và can thiệp dinh dưỡng sớm trong việc quản lý BPTNMT.

137 Khảo sát sự phân bố subtype của HIV-1 tại Đông Nam á và Việt Nam theo cơ sở dữ liệu Los Alamos / Bùi Minh Trí // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 138-142 .- 610

Do bản chất không đồng nhất và không ngừng tiến hóa của HIV, các biện pháp điều trị, dự phòng và phát triển vắc-xin đòi hỏi phải có hiểu biết cập nhật về sự phân bố của các subtype HIV trong quần thể. Các nghiên cứu trước đây chưa phân tích sự phân bố subtype HIV-1 tại Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên việc phân tích dữ liệu của các bệnh nhân nhiễm HIV-1 trên cơ sở dữ liệu trình tự HIV của Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos. Dữ liệu được chọn lọc dựa trên những tiêu chí cụ thể và tiến hành phân tích phân bố subtype HIV-1 tại khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Kết quả: Thông qua việc phân tích 6.603 dữ liệu của khu vực Đông Nam Á, CRF01_AE (5.679/6.603 – 86%) chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là subtype B (426/6.603 – 6,5%) và CRF33_01B (98/6.603 – 1,5%). Subtype CRF33_01B chỉ xuất hiện tại Malaysia (98%) và Indonesia (2%). Tại Việt Nam, CRF01_AE chiếm tỷ lệ trên 97% qua các giai đoạn. Trong giai đoạn 2012- 2021, có sự xuất hiện của các subtype CRF mới: CRF07_BC (0,1%), CRF109_0107 (0,4%) và CRF127_07109 (0,4%). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy sự đa dạng của HIV-1 theo khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Subtype CRF01_AE chiếm tỷ lệ cao nhưng một số quốc gia có sự xuất hiện và phổ biến của các chủng CRF khác. Vì vậy, việc tiếp tục giám sát dịch tễ học của HIV-1 là rất quan trọng đối với việc thiết kế, thử nghiệm và triển khai vắc-xin phòng ngừa.

138 Khảo sát phương pháp và kết quả điều trị bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương / Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thanh Tú, Đinh Thị Mai, Vũ Thị Hạnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 134 - 138 .- 610

Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát phương pháp và kết quả điều trị bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 454 bệnh án chẩn đoán tăng huyết áp, từ 1/2022 đến 12/2022 tại khoa Lão – Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương. Kết quả: 81,5% bệnh nhân được điều trị Y học hiện đại kết hợp Y học cổ truyền. Bệnh nhân phần lớn được điều trị 1 loại thuốc hạ huyết áp (51,3%). Thuốc chẹn kênh canxi là thuốc hạ áp được sử dụng nhiều nhất (45,8%). 94,7% bệnh nhân được sử dụng thuốc cổ truyền trong đó thuốc thang sử dụng nhiều nhất với 91,9%; dạng hoàn là 21,8%; chè hạ áp chiếm 7,0% và 5,1% bệnh nhân được kết hợp phương pháp không dùng thuốc. 89% bệnh nhân tăng huyết áp đạt mục tiêu điều trị. Kết luận: Phương pháp Y học hiện đại kết hợp Y học cổ truyền điều trị tăng huyết áp đã cải thiện triệu chứng, chỉ số huyết áp và đạt kết quả điều trị tốt. Tuy nhiên, cần phối hợp thuốc hạ huyết áp ngay từ đầu và tăng cường bào chế và sử dụng chế phẩm thuốc cổ truyền và phương pháp không dùng thuốc để tăng hiệu quả điều trị

139 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng - mô bệnh học 135 bệnh nhân ung thư hắc tố da tại Bệnh viện K giai đoạn 2016 - 2024 / Vũ Thanh Phương, Đỗ Anh Tú, Nguyễn Văn Chủ, Bùi Phương Linh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 126 - 130 .- 610

Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của 135 bệnh nhân ung thư hắc tố da tại Bệnh viện K. Phương pháp: Bệnh nhân ung thư hắc tố da, có u nguyên phát, được chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật triệt căn tại Bệnh viện K. Thiết kế nghiên cứu mô tả tiến cứu. Kết quả: Bệnh hay gặp 40 đến 60 tuổi, nữ/nam = 1,01, làm ruộng chiếm đa số 56,4%, thời gian mắc bệnh trên 6 tháng 66,2%, ung thư phát triển trên nền nốt ruồi 34,1%. Vị trí u chi dưới 49,6%, trong đó u ở gan bàn chân 35,5%, ung thư phát triển trên nền da sừng hóa 43,0%, đau chói tại u 43,7%, đen loang lổ 65,9%. Thể lan tràn nông 52,6%, Clark V 46,7%, giai đoạn thẳng đứng 72,6%. Tỷ lệ nhân chia > 6 nhân chia/1 mm2 38,5%. Nhân vệ tinh 34,8%, loét u 48,1%, tế bào lympho xâm nhập thưa 46,7%, u xâm nhập mạch 77,8%. Di căn hạch khu vực 48,1%, di căn hạch trung gian 5,9%, xếp pT3 là 41,5% và pT4 là 54,8%, xếp pN0 51,9%, giai đoạn II, III là 51,9% và 48,1%. Kết luận: Nữ/nam = 1,01. Đặc điểm lâm sàng hay gặp: khoảng tuổi từ 40 đến 60, nông dân làm ruộng, thời gian mắc bệnh trên 6 tháng, trên nền da là nốt ruồi và da sừng hóa, ở chi dưới đặc biệt ở gan bàn chân, đau chói tại u, màu sắc đen loang lổ, di căn hạch khu vực. Mô bệnh học hay gặp: thể lan tràn nông, độ dầy u cao, mức độ xâm lấn Clark cao, giai đoạn phát triển thẳng đứng, tỷ lệ phân bào cao, u xâm nhập mạch và loét u.

140 Thực trạng kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu tại bệnh viện E / Nguyễn Thị Nga, Đỗ Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Sơn, Lê Hạ Long Hải // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 117 - 122 .- 610

Nhiễm khuẩn tiết niệu là bệnh lý phổ biến với khả năng tái phát cao. Tình trạng lây nhiễm các chủng vi khuẩn kháng thuốc gây giảm hiệu quả điều trị và tăng gánh nặng về chi phí. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định các vi khuẩn thường gặp và mức độ kháng kháng sinh của chúng trong mẫu cấy nước tiểu tại Bệnh viện E. Kết quả: E. coli là tác nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn tiết niệu với tỉ lệ 30,9%. Tiếp sau là P. aeruginosa, K. pneumoniae, E. faecium và E. faecalis với tỉ lệ lần lượt là 14%, 10%, 8,1% và 4,3%. E. coli kháng cao nhất với trimethoprim/sulfamethoxazole (100%), nhạy cảm cao nhất với ertapenem (98,2%). Tỉ lệ E. coli sinh ESBL là 54,6%. K. pneumoniae kháng cao nhất với trimethoprim/sulfamethoxazole (100%); nhạy cảm cao nhất với amikacin (68,5%). Tỉ lệ K. pneumoniae sinh ESBL là 22,4%. P. aeruginosa kháng cao nhất với levofloxacin (92,6%) và nhạy cảm nhất với piperacillin/tazobactam (41,2%). E. faecium kháng hoàn toàn với penicillin; ampicillin; và ciprofloxacin. Tỉ lệ E. faecium kháng vancomycin là 11,1% và chưa thấy xuất hiện chủng kháng linezolid. E. faecalis kháng cao nhất với tetracycline (91,4%); 100% số chủng còn nhạy cảm với linezolid và vancomycin. Kết luận: Các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu hàng đầu là E. coli; P. aeruginosa; K. pneumoniae; E. faecium và E. faecalis đã kháng lại hầu hết các kháng sinh thử nghiệm với mức độ đề kháng khác nhau.