CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Y
111 Mô tả biến đổi chức năng thận và khảo sát một số yếu tố liên quan sau can thiệp nội mạch ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới / Nguyễn Duy Tân, Lâm Thảo Cường, Nguyễn Mạnh Hùng // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 694-701 .- 610
Trong nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 35 bệnh nhân thiếu máu chi dưới mạn tính đe dọa chi được can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2025 đến 03/2025, chúng tôi ghi nhận creatinin huyết thanh và eGFR trong vòng 24 giờ trước thủ thuật và khoảng 24 giờ sau can thiệp có sử dụng iodixanol, đồng thời khảo sát bước đầu một số yếu tố liên quan với biến đổi chức năng thận sau thủ thuật. Kết quả cho thấy tỷ lệ tổn thương thận cấp sớm trong 24 giờ liên quan thuốc cản quang là 5,7%, trong khi tỷ lệ CA-AKI Moderate là 14,3%. Ở phân tích so sánh hai nhóm, nhóm có CA-AKI Moderate có eGFR nền thấp hơn nhóm không có biến cố nhưng mối liên quan này không đạt ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy Firth đơn biến. Nhìn chung, biến đổi chức năng thận sớm sau can thiệp nội mạch cần được lưu ý ở bệnh nhân CLTI được can thiệp nội mạch. Do cỡ mẫu nhỏ, số biến cố ít và thời gian theo dõi ngắn, các kết quả cần được diễn giải chủ yếu theo hướng mô tả và gợi ý giả thuyết.
112 Thực trạng tiêm vắc xin phòng một số bệnh truyền nhiễm của sinh viên y khoa Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên giai đoạn 2022 - 2025 / Nguyễn Thị Quyên, Hoàng Diệu Hương Linh, Nguyễn Tiến Hưng, Trần Thế Hoàng, Bùi Hồng Việt, Nguyễn Trà My // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 702-713 .- 610
Tiêm chủng vắc xin là biện pháp phòng bệnh đặc hiệu giúp cơ thể tạo miễn dịch chủ động nhân tạo phòng các bệnh truyền nhiễm. Nghiên cứu cắt ngang khảo sát trực tiếp trên 1195 sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên nhằm mô tả thực trạng tiêm vắc xin phòng một số bệnh truyền nhiễm của sinh viên y khoa giai đoạn 2022 - 2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ tiêm rất cao với vắc xin COVID-19 (97,4%), các vắc xin khác có tỷ lệ tiêm thấp như Cúm, viêm gan B, HPV (dưới 30%). Đặc biệt tỉ lệ tiêm các vắc xin như Tả, Thương hàn, Phế cầu, Viêm gan A, Não mô cầu đều rất thấp (dưới 10%). Yếu tố liên quan đến tiêm chủng bao gồm đặc điểm cá nhân, yếu tố kinh tế xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ. Việc triển khai các chương trình tiêm chủng tích hợp trong trường học, kết hợp với tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe và chính sách hỗ trợ chi phí là cần thiết nhằm nâng cao tỷ lệ bao phủ vắc xin trong nhóm sinh viên y khoa
113 Ảnh hưởng của gemcitabine lên xâm lấn và biểu hiện E-Cadherin của tế bào ung thư đường mật trong gan / Nguyễn Thị Mai Ly // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 714-721 .- 610
Khảo sát tác động của Gemcitabine lên đặc tính xâm lấn và biểu hiện E-Cadherin của tế bào ung thư đường mật trong gan. Tế bào ung thư đường mật trong gan kháng Gemcitabine (SZ1-G28) được tạo lập và duy trì tại phòng nghiên cứu. Đặc tính xâm lấn được so sánh giữa tế bào kháng và không kháng (SZ1-P) khi có và không có Gemcitabine bằng thí nghiệm xâm lấn. Biểu hiện của E-Cadherin của SZ1-G28 và SZ1-P được đánh giá bằng thử nghiệm western blot. SZ1-G28 tăng xâm lấn so với tế bào không kháng. Gemcitabine 20 µg/mL thúc đẩy sự xâm lấn của tế bào SZ1-P. Hơn nữa, SZ1-G28 giảm biểu hiện của E-Cadherin so với tế bào SZ1-P. Kháng Gemcitabine và điều trị bởi Gemcitabine làm tế bào ác tính và linh hoạt hơn, gây tăng xâm lấn tế bào ung thư đường mật trong gan. Đồng thời, biểu hiện của E-Cadherin giảm ở tế bào SZ1-G28, so với SZ1-P. Kết quả gợi ý rằng kháng và điều trị với Gemcitabine làm tế bào ung thư đường mật trong gan trở nên ác tính hơn trên thực nghiệm, liên quan đến sự giảm biểu hiện của E-Cadherin.
114 Đánh giá hiệu năng mô hình Gail điều chỉnh và Gail-Rosner-Colditz trong dự báo nguy cơ ung thư vú tại Việt Nam / Trần Thị Thanh Hương, Lưu Ngọc Minh, Nguyễn Hương Giang, Bùi Thị Oanh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 722-729 .- 610
Nghiên cứu hồi cứu 31.016 phụ nữ tham gia sàng lọc ung thư vú, ghi nhận 19 trường hợp ung thư vú, nhằm đánh giá hiệu năng của mô hình Gail điều chỉnh và mô hình kết hợp Gail-Rosner-Colditz. Dữ liệu được chia ngẫu nhiên bằng phương pháp lấy mẫu phân tầng thành tập huấn luyện 60% và tập kiểm tra 40%; mất cân bằng dữ liệu được xử lý bằng giảm mẫu ngẫu nhiên kết hợp SMOTE. Hiệu năng được đánh giá bằng ROC-AUC, PR-AUC và chỉ số Brier; các yếu tố liên quan với nguy cơ mắc ung thư vú được phân tích bằng hồi quy logistic phạt Firth. Mô hình kết hợp làm tăng ROC-AUC ở cả ba thuật toán; Weighted Kernel Logistic Regression đạt ROC-AUC cao nhất 0,662 ± 0,062. Tuổi có liên quan với nguy cơ mắc ung thư vú, trong khi sinh 2 con và sinh 3 con có liên quan với giảm nguy cơ mắc so với nhóm chưa sinh con. Mô hình kết hợp Gail-Rosner-Colditz cho hiệu năng dự báo cao hơn mô hình Gail điều chỉnh, nhưng giá trị dự báo vẫn còn hạn chế do số biến cố thấp.
115 Đáp ứng sớm sau điều trị I-131 ở trẻ em ung thư tuyến giáp thể biệt hóa và giá trị tiên lượng của thyroglobulin / Đỗ Thị Hằng Na, Phạm Lâm Sơn, Nguyễn Quang Toàn, Nguyễn Thế Tân, Lê Quang Hiển, Phạm Văn Thái // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 730-738 .- 610
Đánh giá đáp ứng sớm sau điều trị I-131 lần đầu và xác định giá trị tiên lượng của nồng độ Thyroglobulin (Tg) kích thích trước điều trị ở bệnh nhi ung thư tuyến giáp thể biệt hóa. Nghiên cứu trên 50 người bệnh dưới 18 tuổi điều trị tại bệnh viện K từ tháng 11/2019 đến tháng 2/2026. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn sau điều trị I-131 lần đầu là 34,0%. Nồng độ Tg kích thích trước điều trị có liên quan với kết quả điều trị, xu hướng giảm rõ rệt tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn khi Tg tăng (p < 0,001). Phân tích hồi quy đa biến xác định Tg là yếu tố dự báo độc lập đối với đáp ứng. Phân tích ROC cho thấy Tg có khả năng phân biệt tốt giữa các nhóm đáp ứng (AUC = 0,882; 95% CI: 0,791 - 0,974), với ngưỡng cắt tối ưu 7,30 ng/mL (độ nhạy 88,2%, độ đặc hiệu 69,7%). Nồng độ Tg kích thích trước điều trị là yếu tố tiên lượng có giá trị trong dự đoán đáp ứng sớm sau I-131 ở trẻ em ung thư tuyến giáp thể biệt hóa.
116 Đặc điểm tác nhân vi sinh và tình trạng đồng nhiễm ở trẻ em tiêu chảy tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Lâm Thị Bích Ngọc, Trần Minh Châu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 739-746 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên mẫu phân lỏng của 81 bệnh nhi có triệu chứng tiêu chảy điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2025 đến tháng 07/2025. Kết quả tỷ lệ dương tính với ít nhất một tác nhân là 88,9%, tỷ lệ đồng nhiễm là 48,6%. Rotavirus (32,1%) và Norovirus GI/GII (21,0%) là tác nhân virus được phát hiện hàng đầu. Tác nhân vi khuẩn được phát hiện hàng đầu là enteropathogenic Escherichia coli (EPEC; 25,9%) và enteroaggregative Escherichia coli (EAEC; 19,8%), chủ yếu được ghi nhận dưới dạng đồng nhiễm, cụ thể 14/15 ca dương tính với gen eaeA và 18/20 ca với gen aggR. Ngược lại, các tác nhân xâm nhập như Salmonella spp. chủ yếu gây nhiễm đơn với tỷ lệ cao hơn (66,7%). Các tổ hợp đồng nhiễm 3 tác nhân trở lên xuất hiện thường xuyên, trong đó đồng nhiễm virus – vi khuẩn chiếm ưu thế (23/35), điển hình là tổ hợp Rotavirus kết hợp EPEC và EAEC. Kỹ thuật Real-time PCR đa mồi kết hợp với phân tích giá trị Ct có thể hỗ trợ diễn giải kết quả trong bối cảnh lâm sàng; tuy nhiên, việc phiên giải giá trị Ct cần hết sức thận trọng và chỉ nên được dùng để tham khảo bổ sung khi phân tích.
117 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở người bệnh xơ gan có huyết khối tĩnh mạch cửa / Hữu Quang Minh, Nguyễn Thị Vân Hồng, Đào Việt Hằng // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 747-753 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của 49 người bệnh xơ gan có huyết khối tĩnh mạch cửa và mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng người bệnh xơ gan với mức độ tắc nghẽn của huyết khối tĩnh mạch cửa. Nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2024 đến tháng 06/2025. Độ tuổi trung bình của người bệnh là 60,6 ±1,8; đa số là nam giới (73,5%). Lách to và đau tức bụng là triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất (67,3% và 61,2%). Biến chứng xuất huyết tiêu hóa hay gặp nhất chiếm 61,2%. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc xơ gan và mức độ tắc nghẽn tĩnh mạch cửa (p < 0,05). Mức độ tắc nghẽn cũng có mối liên quan mật thiết với biến chứng xuất huyết tiêu hoá, cụ thể trong các người bệnh có tiền sử xuất huyết tiêu hóa, tỷ lệ tắc nghẽn toàn phần cao hơn so với tắc nghẽn bán phần (83,3% và 16,7%) (p < 0,05). Nhóm người bệnh mắc xơ gan trên 5 năm có tỷ lệ tắc nghẽn toàn phần cao hơn rõ rệt so với nhóm tắc nghẽn bán phần với tỷ lệ lần lượt là 100% và 60,5% với p < 0,05.
118 Kết quả dài hạn phẫu thuật điều trị bất thường trở về tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim ở trẻ sơ sinh / Nguyễn Hữu Nhật, Đoàn Quốc Hưng, Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Minh Vương, Nguyễn Lý Thịnh Trường // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 754-762 .- 610
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá kết quả dài hạn phẫu thuật điều trị bất thường trở về các tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim trong thời kỳ sơ sinh tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2025. Tổng số 116 bệnh nhân được nghiên cứu hồi cứu có tuổi trung bình là 8 ngày (IQR, 2,0 - 17,2 ngày), cân nặng trung bình của các bệnh nhân là 3,1 kg (2,8 - 3,4 kg). Có 9 bệnh nhân (7,8%) tử vong sớm sau phẫu thuật, và 10 bệnh nhân (8,6%) tử vong muộn sau phẫu thuật. Thời gian theo dõi trung bình sau phẫu thuật là 3,75 năm, và 16 bệnh nhân (13,8%) cần phẫu thuật lại do hẹp miệng nối tĩnh mạch phổi nhĩ trái trong thời gian theo dõi. Mặc dù kết quả sớm sau phẫu thuật điều trị bất thường trở về các tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim ở trẻ sơ sinh là tốt, nhưng tỷ lệ tử vong muộn sau phẫu thuật vẫn đáng kể.
119 Đặc điểm hình ảnh và các yếu tố gợi ý ác tính của tổn thương vú trên nhũ ảnh cắt lớp / Lê Thị Kim Cúc, Hoàng Thị Ngọc Hà, Hồ Xuân Tuấn // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 763-771 .- 610
Ung thư vú là bệnh ác tính phổ biến ở nữ giới, trong đó nhũ ảnh cắt lớp (Digital Breast Tomosynthesis – DBT) ngày càng được ứng dụng rộng rãi để phát hiện và đặc tả tổn thương. Nghiên cứu cắt ngang trên 101 bệnh nhân với 113 tổn thương có xác nhận mô bệnh học (05/2024 – 07/2025) cho thấy các dấu hiệu như vôi hóa nghi ngờ, tăng đậm độ bất đối xứng và biến dạng cấu trúc xuất hiện nhiều hơn ở nhóm ác tính (p < 0,05). Trong các tổn thương tạo khối, u ác thường có hình dạng không đều, bờ tua gai hoặc không xác định và đậm độ cao hơn so với u lành (p < 0,001). Phân tích đa biến cho thấy sự hiện diện của khối, vôi hóa nghi ngờ và bất đối xứng vẫn duy trì ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Riêng trong nhóm tổn thương tạo khối, bờ tua gai hoặc không xác định và đậm độ cao là các đặc điểm vẫn duy trì ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy DBT có giá trị trong nhận diện một số đặc điểm hình ảnh gợi ý ác tính của tổn thương vú.
120 Kết quả sống còn toàn bộ trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn, có đột biến EGFR, điều trị bước 1 bằng afatinib tại Bệnh viện K / Vũ Hà Thanh, Nguyễn Thị Thái Hòa, Tạ Văn Tờ, Trương Công Minh, Nguyễn Tuấn Anh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 772-783 .- 610
Afatinib là thuốc ức chế tyrosine kinase thế hệ thứ 2 được phê duyệt để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa. Nghiên cứu hồi cứu trên 230 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIC/IV, ung thư biểu mô tuyến, có đột biến EGFR, điều trị bước 1 bằng Afatinib tại Bệnh viện K (1/2018 - 10/2024) theo dõi đến tháng 9/2025 nhằm đánh giá sống còn toàn bộ (OS) và tính an toàn. Với thời gian theo dõi trung vị là 28,2 tháng, mOS đạt 27,8 tháng. Không ghi nhận sự khác biệt OS theo tình trạng di căn não (p = 0,479), trong khi di căn gan liên quan đến giảm OS có ý nghĩa (20,9 so với 28,8 tháng; p = 0,025). Nhóm đột biến thường gặp (L858R, Del19) có OS cao hơn so với đột biến không thường gặp (p < 0,05). Không có sự khác biệt OS giữa các mức liều. Điều trị bước 2 với Osimertinib cho mOS cao nhất (29,0 tháng). Tác dụng không mong muốn chủ yếu là tiêu chảy và độc tính da (61,3%), đa số mức độ nhẹ-trung bình, không ghi nhận độc tính ≥ độ 3.





