Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng nhân lực y tế liên quan đến tập huấn kiến thức, trang thiết bị phòng hộ, nhiệm vụ, các vấn đề tâm lý và mắc bệnh khi tham gia phòng chống COVID-19 của nhân viên y tế tuyến xã tại một số tỉnh trọng điểm trong năm 2021, 2022.
Đại dịch COVID-19 đã gây ra rất nhiều áp lực tâm lý, sức khỏe tâm thần đối với cộng đồng, người dân, đặc biệt là nhân viên y tế - những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào công tác phòng, chống dịch COVID-19. Các nghiên cứu khảo sát tình trạng sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế trong thời điểm dịch bệnh là cần thiết để có những chính sách, biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng sức khỏe, điều kiện làm việc của nhân viên y tế. Chúng tôi đánh giá biểu hiện trầm cảm, lo âu, stress của nhân viên y tế trong đại dịch COVID-19 bằng nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 135 nhân viên y tế tại Bệnh viên Thận Hà Nội. Phương pháp thu thập số liệu bằng bảng hỏi tự điền, thông qua phần mềm thu thập và quản lý dữ liệu trực tuyến REDCap.
Nghiên cứu thuần tập tiến cứu được thực hiện nhằm mô tả tỷ lệ tái nhiễm trong nhóm nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh và Bệnh viện Hữu nghị Đa Khoa tỉnh Nghệ An, và sự khác nhau giữa hai bệnh viện theo từng đặc điểm về nhân khẩu, nghề nghiệp và lịch sử tiêm chủng. Tổng số 448 nhân viên y tế tế đã tham gia nghiên cứu từ tháng 6-2022 đến tháng 2-2023.
U lympho ác tính không Hodgkin nguyên phát tại tim là một bệnh lý hiếm gặp. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu trên số lượng lớn bệnh nhân u lympho ác tính không Hodgkin tại tim, phần lớn là các báo cáo ca bệnh hoặc báo cáo tổng hợp từ các ca bệnh. Tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, từ trước đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào u lympho ác tính không Hodgkin nguyên phát tại tim. Nhân một trường hợp bệnh trên lâm sàng, chúng tôi xin báo cáo và tham khảo y văn để cung cấp thêm một số thông tin về bệnh. Bệnh nhân nam 60 tuổi được chẩn đoán u lympho ác tính không Hodgkin nguyên phát tại tim. Bệnh nhân có biểu hiện đau ngực trái, được chụp CT Scanner phát hiện khối u ở nhĩ trái, mô bệnh học là u lympho ác tính không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa, typ không tâm mầm, CD 20 (+). Bệnh nhân được hóa trị liệu phác đồ RCHOP + RCVP.
Vú to đàn ông có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do tác dụng phụ của thuốc. Bài báo này giới thiệu ca bệnh vú to đàn ông thứ phát sau điều trị HIV bằng thuốc ARV. Thể tích vú của bệnh nhân tăng nhanh trong khoảng thời gian ngắn và tình trạng kéo dài hơn 1 năm. Phẫu thuật thu gọn tuyến bảo tồn quầng núm vú bằng vạt cuống nuôi trung bì mỡ được thực hiện thành công cắt bỏ 800g mô tuyến vú bên phải và 750g bên trái. Sau mổ, vết mổ liền thương tốt, quầng núm vú sống toàn bộ. Theo dõi sau mổ 1 năm, không thấy tái phát, ngực phẳng, quầng núm vú ở vị trí thích hợp, cảm giác tốt. Điều trị phẫu thuật thu gọn tuyến bảo tồn quầng núm vú bằng vạt cuống nuôi trung bì là một phương pháp cho hiệu quả thẩm mỹ cao và phục hồi cảm giác tốt. Phẫu thuật này giống như thu gọn vú phì đại ở nữ giới, chỉ định tốt cho các trường hợp vú to đàn ông thể tích lớn, có thể áp dụng cho vú to thứ phát sau điều trị thuốc ARV ở nam giới mắc HIV mang lại hiệu quả như bệnh nhân thông thường.
Thoát vị hoành kiểu Morgagni hay thoát vị Morgagni hiếm gặp ở bệnh nhân trưởng thành. Lựa chọn kỹ thuật mổ vẫn dựa trên kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Chúng tôi thông báo một bệnh nhân nữ, 73 tuổi có biểu hiện đau tức ngực 1 tháng, không đau bụng, không buồn nôn. Chụp cắt lớp vi tính thấy đại tràng và mạc nối lớn thoát vị qua cơ hoành lên khoang màng phổi hai bên. Nội dung thoát vị là đại tràng ngang và mạc nối lớn được đưa trở lại ổ bụng. Đường kính lỗ thoát vị ở bên phải là 30x50mm, bên trái là 85x17mm. Phục hồi giải phẫu bằng khâu chân cơ hoành vào thành bụng trước, che đường khâu bằng dây chằng liềm và dây chằng tròn. Bệnh nhân nằm viện 12 ngày, không biến chứng. Khám sau 11 tháng, người bệnh khỏe mạnh, và chưa tái phát.
Tìm hiểu sức ảnh hưởng của hiểu biết của khách hàng về Blockchain tại ngân hàng đến xu hướng gửi tiền của họ. Đây là nghiên cứu định lượng, với dữ liệu thu thập từ 437 người sử dụng dịch vụ ngân hàng tại miền Bắc Việt Nam. Kết quả cho thấy nhận thức của phần lớn khách hàng về ứng dụng của Blockchain ở mức cơ bản và trung bình. Mức độ nhận thức có ảnh hưởng tới ý định hành vi thông qua trung gian là cảm nhận cá nhân về uy tín ngân hàng và niềm tin cá nhân, nhưng không thông qua những lợi ích tới chất lượng dịch vụ mà khách hàng nghĩ Blockchain mang lại.
Nền kinh tế xã hội luôn luôn biến đổi không ngừng vì vậy môi trường kinh doanh của doanh nghiệp cũng chịu sự ảnh hưởng. Kinh tế thị trường luông thay đổi, phát triển, nó tác động rất lớn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra sức cạnh tranh ngày càng mạnh. Các doanh nghiệp luôn luôn phải tìm hướng đổi mới, phát triển nguồn lức sẵn có, tìm kiếm nguồn lực mới để cải tiến sản xuất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện thị trường thay đổi thì một trong những điều quan trọng chính là việc quản trị chi phí kinh doanh.
Nghiên cứu này xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính quốc tế tại các công ty ở Việt Nam cũng như mức độ sẵn sàng áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS. Nhóm nghiên cứu chọn Lý thuyết về Hành vi có kế hoạch (TPB), kết hợp với lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) làm khung khái niệm. Dựa trên các nghiên cứu tiền nhiệm, nhóm tác giả xây dựng mô hình với biến điều tiết mới sự tư vấn của kế toán viên. Các biến thái độ của ban giám đốc, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đều được chia thành các biến nhỏ hơn để phân tích kĩ hơn xuyên suốt bài nghiên cứu. Nghiên cứu này hệ thống lại các kết quả nghiên cứu tiền nhiệm, từ đó phát triển khung lý thuyết, và đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) của doanh nghiệp.
Bài viết nghiên cứu khái quát về công nghệ số, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng, nghiên cứu thực trạng, nhận diện thách thức và đưa ra một số kiến nghị cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong kỷ nguyên số.