Kết hôn là quyền chính đáng của công dân được Hiến pháp và pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Xuất phát từ mục tiêu đảm bảo cho việc xác lập quan hệ hôn nhân lành mạnh và bền vững, thể hiện đúng tinh thần và cơ sở của quan hệ hôn nhân là dựa trên tình yêu chân chính giữa đôi bên, nhà làm luật nghiêm cấm hành vi lừa dối kết hôn. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ phân tích khái niệm, đặc điểm và các cơ sở để nhận diện hành vi lừa dối kết hôn, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lừa dối kết hôn nhằm hạn chế tình trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật do có hành vi lừa dối.
Sự phát triển khoa học – công nghệ song hành cùng yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm sáng tạo mới. Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với những đối tượng mới đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý bảo hộ thích đáng đối với thành quả lao động sáng tạo của con người. Nội dung bài viết tập trung đánh giá khả năng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với ba đối tượng: trí tuệ nhân tạo và sản phẩm tạo ra từ trí tuệ nhân tạo, NFT, công nghệ in 3D và sản phẩm liên quan đến công nghệ in 3D.
Vấn đề xác định thiệt hại trong tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự. Trải qua thực tiễn thi hành, các quy định của pháp luật có liên quan đã bộc lộ một số điểm còn thiếu sót, hạn chế dẫn đến tình trạng chưa áp dụng thống nhất trong cách thức xác định thiệt hại của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bài viết nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến xác định thiệt hại trong vụ án hình sự và thực tiễn thi hành thông qua một số “đại án”, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số ý kiến bình luận xoay quanh vấn đề này.
Bài viết trình bày một số văn bản pháp lý nền tảng của Liên hợp quốc về bảo vệ trẻ em khỏi các hành vi bóc lột và lạm dụng tình dục trên không gian mạng; Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em trên không gian mạng; Nhận diện những dạng hành vi xâm hại tình dục trẻ em trên không gian mạng; Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm hại tình dục trẻ em và việc thực hiện trên không gian mạng. Bài viết cũng đặt ra những câu hỏi mang tính tranh luận pháp lý về việc nên hay không nên tội phạm hóa một số dạng hành vi về xâm hại tình dục trẻ em trên môi trường mạng, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
Hợp tác quốc tế trên biển là một trong những nội dung hợp tác quan trọng trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và là hướng hợp tác chính trong tiến trình hội nhập hưởng đến Cộng đồng ASEAN. Hợp tác trên biển bao gồm nhiều vấn đề hợp tác cụ thể, bảo gồm kết nối hàng hải, an ninh và an toàn hàng hải, tìm kiếm và cứu nạn, an toàn và an ninh của các hệ thống thông tin liên lạc trên biển, quản lý và bảo vệ hệ sinh thái hàng hải, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường biển và nguồn lợi thủy sản và du lịch sinh thái. Với vị trí địa chính trị và tầm quan trọng đặc biệt về kinh tế, an ninh, quốc phòng, hợp tác giữa các quốc gia ASEAN có tác động không nhỏ đến hòa bình, an ninh và sự ổn định của khu vực và trên thế giới. Mặc dù vậy, hợp tác trên biển của ASEAN đối mặt với những khó khăn và thách thức không nhỏ, đặc biệt là những thách thức đến từ tình thế “tiến thoái lưỡng nan” trong quan hệ giữa các quốc gia ASEAN với những cường quốc trong khu vực và trên thế giới, nỗ lực tìm đến sự cân bằng giữa chủ quyền quốc gia và lợi ích chung của khu vực và hạn chế về mặt thể chế và cơ chế giám sát thực thi những cam kết của các quốc gia thành viên. Bài viết nghiên cứu vai trò và phân tích những thách thức pháp lý tác động đến hợp tác trên biển của ASEAN, từ đó thảo luận về những giải pháp nhằm tháo gỡ các thách thức và thúc đẩy hợp tác trên biển của ASEAN một cách hiệu quả.
Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động quản trị rủi ro đến chất lượng dồn tích trong các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020. Bằng cách áp dụng mô hình bình phương thông thường nhỏ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp có hoạt động quản trị rủi ro hiệu quả sẽ làm giảm chất lượng dồn tích, qua đo nâng cao chất lượng lợi nhuận. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chứng minh được các nhân tố khác bao gồm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), hệ số thanh toán nhanh, tuổi doanh nghiệp và tỷ lệ sở hữu nhà nước đều có những tác động nhất định đến chất lượng dồn tích trong các doanh nghiêp niêm yết tại Việt Nam.
Bài viết phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng CBTT BCTC của các doanh nghiệp ngành sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng CBTT BCTC của các doanh nghiệp ngành sản xuất niêm yết chỉ ở mức trung bình và chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố chính gồm: quy mô doanh nghiệp, số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đã nộp trong năm và tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề xuất một số khuyến nghị cho các bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng CBTT BCTC của các doanh nghiệp ngành sản xuất niêm yết tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố trong 5 nhân tố được đề xuất trong mô hình nghiên cứu có tác động đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa theo mức độ tác động từ cao đến thấp là: Chuyên gia bên ngoài, Sự hỗ trợ của nhà Quản trị cấp cao, Trình độ nhân viên kế toán, và Mức độ trang bị CNTT. Dựa trên kết quả đạt được tác giả đưa ra những gợi ý về hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kế toán của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Qua kết quả khảo sát 172 cán bộ kế toán đang làm việc tại các bệnh viện công chuyển sang tự chủ tài chính tại Tp. Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu chỉ ra 5 nhân tố: Hệ thống văn bản pháp luật, Hệ thống công nghệ thông tin, Trình độ của nhân viên kế toán, Sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao, Kết quả tài chính ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán (biến phụ thuộc) và giải thích 57.3 sự biến đổi của biến phụ thuộc. Nghiên cứu này giúp các bệnh viện công lập chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính có những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán để tổ chức ngày càng phát triển vững mạnh.
Nghiên cứu thực hiện phân tích 160 mẫu khảo sát tại các DN Nhật Bản ngành công nghệ thông tin trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Kỹ thuật phân tích bao gồm thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, hồi quy tuyến tính. Có 05 nhân tố có tác động tích cực đến vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí theo phương pháp cải tiến liên tục “Kaizen costing” tại các DN Nhật Bản tại TP. Hồ Chí Minh, gồm: Nhân tố áp lực cưỡng ép, phong cách lãnh đạo, định hướng chiến lược, cạnh tranh và năng lực kế toán viên.