Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết về vốn xã hội, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, lý thuyết lựa chọn nhà cung cấp và các công trình nghiên cứu trước đây về vốn xã hội và kết quả kinh doanh để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất về tác động của vốn xã hội ngoài doanh nghiệp đến tăng trưởng kinh doanh của các doanh nghiệp bất động sản nhà ở tại đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các nhân tố trong mô hình đều có mối quan hệ tác động giống như mô hình lý thuyết được tác giả đề xuất.
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Sự ổn định của chính trị, xã hội, sự phát triển kinh tế địa phương luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức địa phương. Vì vậy, bài viết phân tích hiện trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình hiện nay; từ đó đề xuất một sô giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong trong thời gian tới.
Bài báo nhằm mục tiêu nghiên cứu, đánh giá chất lượng lao động của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên. Trên cơ sở các dữ liệu được điều tra, khảo sát, thu thập và sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh dữ liệu, kết quả của nghiên cứu cho thấy hiện nay phần lớn lao động tại công ty ở độ tuổi thanh niên và trung niên, đa phần là có trình độ chuyên môn kỹ thuật và đã được qua đào tạo. Tuy nhiên, mức thu nhập của lao động tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên thấp hơn mức trung bình của cả nước và so với lao động nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Vì vậy, Công ty cần có những giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Đến nay, Việt Nam có 23 trường đại học thực hiện tự chủ theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ; về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017. Tự chủ đại học bao gồm tự chủ về nhân sự, học thuật, tổ chức và tài chính, trong đó tự chủ tài chính là nội dung có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các tự chủ khác của các trường đại học. Dó đó, trong khuôn khổ bài viết này sẽ tập trung phân tích và đánh giá về tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập; đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tự chủ tài chính của các trường đại học công lập, thực hiện mực tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Tây Bắc không những là nơi hội tụ đầy đủ những điều kiện cần và đủ để phát triển mạnh mẽ loại hình du lịch sinh thái mà còn trở thành tuyến du lịch quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam. Chính vì vậy, bài viết lựa chọn phương pháp Delphi nhằm xác định các yếu tố điều kiện với các chỉ số đánh giá phát triển loại hình du lịch sinh thái của Tây Bắc; đề xuất xây dựng một khung nghiên cứu để mở ra cho những nghiên cứu tiếp theo là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Cùng với xu thế phát triển kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin thì ngành Báo chí cũng đã không ngừng thay đổi, phát triển để đáp ứng nhu cầu cho công chúng, trong đó quy mô và chất lượng nhân lực ngành Báo là yếu tố cốt yếu cho sự thay đổi này. Bài viết nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực Báo Nghệ An, chỉ ra một số tồn tại đối với số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Báo Nghệ An trong thời gian tới.
Tự chủ là xu hướng phát triển bắt buộc, điều kiện cần thiết cho các trường đại học ở Việt Nam, đặc biệt là trong tình hình hiện nay. Kể từ khi Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/10/2014 có hiệu lực, những mô hình mẫu thử nghiệm của cơ chế tự chủ đã đạt được một số kết quả tích cực. Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn một số nhược điểm và thiếu sót. Bằng cách đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ ở một số trường đại học, bài viết đề xuất một số giải pháp cho các tổ chức giáo dục đại học phát huy tính chủ động và sáng tạo và cải thiện hiệu suất, nâng cao khả năng cạnh tranh và đa dạng hóa các hình thức giáo dục để đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước.
Vấn đề năng lượng và môi trường là một trong những thách thức chính đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Sự tăng trưởng nhu cầu toàn cầu về năng lượng dấy lên những lo lắng về vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất, nhất là các khu vực, quốc gia đang có sự phát triển nhanh chóng như khu vực châu Á. Trong bối cảnh hiện nay, khi chưa thể chuyển đổi ngay lập tức từ các nguồn năng lượng truyền thống sang các nguồn năng lương tái tạo thì khí tự nhiên được coi là một cầu nối quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng trên thế giới nói chung. Điều này đã làm cho thị trường khí đốt trên thế giới có những chuyển biến mạnh mẽ trong thời gian qua, tạo ra nhiều cơ hội cho thị trường các khu vực nhất là khu vực có nhu cầu về khí đốt cao như khu vực châu Á. Bài báo sẽ phân tích chỉ ra những điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường khí đốt ở châu Á.
Tập trung phân tích về vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam đã được triển khai từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20 và sẽ còn tiếp tục được duy trì trong thời gian tới. Trong bối cảnh khả năng tạo việc, làm trong nước còn hạn chế thì đưa người lao động ra nước ngoài làm việc là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thời gian tới, để tiếp tục thực hiện tốt việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần phải có những thay đổi về quy định nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu về mô hình mái xanh cho loại mái tole và có độ dốc khoảng 20%, dựa trên thực nghiệm với kĩ thuật vườn trên mái để so sánh nhiệt độ và độ ẩm bên trong mô hình đối chứng và mô hình hồng cây trên mái. Kết quả của nghiên cứu này là nhiệt độ trung bình bên trong mô hình trồng cây trên mái giảm từ (1,5-2,4)°C, đồng thời độ ẩm tăng. Từ đó cho thấy một hướng đi mới cho các công trình mái tole trong việc cải thiện các điều kiện vi khí hậu, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường. Đồng thời đây cũng là giải pháp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.