Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) Việt Nam nằm trong top 5 nước xuất khẩu cà phê rang xay lớn nhất thế giới bên cạnh Mexico, Colombia, Brazil và Cộng hòa Dominicana. Tuy nhiên, ngành cà phê Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức do biến động giá cả và cán cân cung - cầu. Hiện giá cà phê giảm sâu tới 40% so với thời điểm năm 2010, khiến nông dân trồng cà phê gặp khó khăn và có xu hướng giảm diện tích trồng, giảm đầu tư cho cây cà phê dẫn đến năng suất, chất lượng cà phê bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, cà phê Việt Nam đang tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất, xuất khẩu cà phê dạng thô của Việt Nam chiếm tới 10% trong tổng sản lượng cà phê nhân, chưa tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm, chưa tạo ra chuỗi sản xuất sâu.
Kể từ khi thành lập đến nay, các khu kinh tế cửa khẩu (KTCK) ở Việt Nam đã có những đóng góp rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của các tỉnh biên giới. Sự phát triển của các khu KTCK này tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng. Nhờ việc hình thành và phát triển các KTCK, tiềm năng và ưu thế của các địa phương biên giới đã được phát huy, hoạt động giao lưu, buôn bán với các địa phương của các nước láng giềng đã được mở rộng.
Trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự thích nghi với tình hình mới để phát triển, Toàn cầu hóa sẽ giúp các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng các mối quan hệ và tìm kiếm các nhà đầu tư hoặc đối tác để xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển và mở rộng thị trường.
Trước sức ép phải tuân thủ CSR trong các Hiệp định thương mại khi tham gia các tổ chức kinh tế thế giới, trước thực trạng và yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhận thức lại vấn đề CSR, hiểu được những nghĩa vụ cơ bản nhất của CSR, mối liên hệ biện chứng giữa CSR đến sự phát triển của doanh nghiệp đến mở rộng thị trường. Tác giả bài viết đưa ra một số quan điểm trách nhiệm xã hội làm tham chiếu, xu hướng quyết định mua của khách hàng có liên quan đến CSR. Đồng thời đưa một nội dung trong quy trình thực hiện CSR trong chiến lược phát triển trong kinh doanh của doanh nghiệp có thể vận dụng trong bối cảnh hiện nay
Các tổ chức thường xuyên phải đối mặt với các thách thức về cung cầu trong một thị trường biến động nhanh chóng như hiện tại. Để có thể thích nghi với cạnh tranh khốc liệt trên thị trường và đáp ứng được sự thay đổi chóng mặt của công nghệ, nội bộ các tổ chức cần có mức gắn kết cao giữa các thành viên. Tổ chức lúc này cần đối mặt với thách thức quản trị mức gắn kết của nhân viên mình xuyên suốt các quá trình để đảm bảo sự bền vững.
Bài nghiên cứu hướng đến mục tiêu phân tích mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế thông qua việc tiến hành tổng hợp lý thuyết, hệ thống hóa, và phân nhóm các lý thuyết liên quan. Cụ thể hơn, bài viết phân tích các dòng lý thuyết phân cấp tài khoá trước đây để làm rõ những điểm hạn chế của các dòng lý thuyết này. Từ đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các hướng nghiên cứu tiềm năng liên quan đến việc xem xét các kênh truyền dẫn nội sinh về phân cấp – tăng trưởng, tập trung vào ba chủ đề chính: (1) Phân cấp – vốn con người hay vốn xã hội – tăng trưởng; (2) Tương tác giữa phân cấp – thể chế – công nghệ nội sinh và tăng trưởng; (3) Phân cấp đồng hành với phát triển bền vững, với thể chế, chính trị, xã hội và thị trường.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm ứng dụng phương pháp máy học trong khai thác ý kiến khách hàng trực tuyến. Trước tiên, nghiên cứu này tiến hành thu thập tự động 15.480 ý kiến bình luận của khách du lịch về các khách sạn tại Việt Nam trên trang Agoda.com, sau đó thực hiện huấn luyện các mô hình máy học để tìm ra mô hình phù hợp nhất với bộ dữ liệu huấn luyện và áp dụng mô hình này để dự báo ý kiến cho toàn bộ tập dữ liệu. Kết quả cho thấy các phương pháp Logistic Regression (LR) và Support Vector Machines (SVM) có hiệu suất tốt nhất đối với khai thác ý kiến bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Nghiên cứu này có giá trị tham khảo cho các ứng dụng khai thác ý kiến trong lĩnh vực kinh doanh.
Nghiên cứu thực hiện kiểm định mối quan hệ của quản trị tri thức, sự hài lòng và kết quả hoàn thành công việc của nhân viên ngân hàng. Nghiên cứu áp dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) và dựa trên mẫu khảo sát với 666 nhân viên hiện đang làm việc ở các bộ phận nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy quản trị tri thức tác động dương đến sự hài lòng và kết quả hoàn thành công việc; sự hài lòng giữ vai trò trung gian bán phần giữa quản trị tri thức và kết quả hoàn thành công việc. Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt của các mối quan hệ này giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài. Kết quả nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp hiểu rõ mối quan hệ giữa ba khái niệm trên và các thành phần của quản trị tri thức trong ngân hàng. Điều này giúp ngân hàng có các chiến lược phù hợp nhằm nâng cao kết quả hoạt động.
Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của yếu tố chất lượng thể chế và các yếu tố kinh tế đến FDI của Hàn Quốc vào 9 nước thành viên khối ASEAN trong giai đoạn 2002-2017. Dựa trên mô hình trọng lực, phân tích thực nghiệm đã chỉ ra các chỉ số thành phần của chất lượng thể chế, bao gồm tuân thủ luật pháp, hiệu quả chính phủ, chất lượng lập pháp và kiểm soát tham nhũng có tác động tích cực đến FDI của Hàn Quốc vào khu vực này. Sử dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính, kết quả nghiên cứu khẳng định FDI của Hàn Quốc bị thu hút bởi yếu tố chất lượng thể chế của ASEAN. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy bằng chứng tác động tích cực của quy mô thị trường, tỷ lệ lạm phát của các nước ASEAN và lợi ích của Hiệp định về Đầu tư, bên cạnh tác động tiêu cực của chất lượng cơ sở hạ tầng của ASEAN đến FDI của Hàn Quốc. Các bằng chứng thực nghiệm này là cơ sở đề xuất các giải pháp thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng trên góc độ các quốc gia đang phát triển.
Bài viết đo lường rủi ro hệ thống của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2007–2018 theo phương pháp CCA (Contingent Claim Approach) và nghiên cứu tác động của các nhân tố đến rủi ro hệ thống. Bằng mô hình tự hồi quy vector dữ liệu bảng (Panel VAR) với phương pháp ước lượng GMM, kết hợp với kiểm định nhân quả Granger, hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai, nghiên cứu chỉ ra việc gia tăng vốn huy động đột ngột, bùng phát tỷ lệ nợ xấu hay cách quản trị rủi ro hệ thống thiếu hiệu quả đều làm tăng rủi ro hệ thống. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm ổn định các nhân tố để kiểm soát rủi ro hệ thống, tránh gây những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế.