CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Giải pháp phát triển bền vững doanh nghiệp sản xuất giấy và bao bì tỉnh Thanh Hóa / Lê Thị Mỹ Dung, Lê Thị Diệp // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.204 - 206 .- 658
Sản xuất giấy là một ngành quan trọng trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng. Những năm gần đây sản xuất giấy có tốc độ tăng trưởng cao, tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngành giấy, chất lượng môi trường cũng bị suy giảm nặng nề.Để phát triển hài hòa giữa sản xuất kinh doanh và bảo vệ mội trường, các nhà máy sản xuất giấy nói chung cũng như các doanh nghiệp giấy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng cần chú trọng giảm thiểu tác hại đến môi trường như: đầu tư đúng mức ở quy trình sản xuất, xử lý chất thải, sử dụng nguyên vật liệu hợp lý để gia tăng giá trị sản xuất hướng tới phát triển bền vững.
2 Bàn về hoạt động pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật ở Việt Nam / Nguyễn Hoài Anh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.213 - 215 .- 340
Nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, công khai, minh bạch, giúp người dân dễ tiếp cận, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương thực hiện hoạt động pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật và ban hành những quy định cụ thể nhằm đem lại hiệu quả cao cho hoạt động này. Bài viết đánh giá những thành tựu, vấn đề còn tồn tại, hạn chế của hoạt động pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động này trong tương lai.
3 Nâng cao hiệu quả thi hành quy phạm pháp luật về quyền sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam / Nguyễn Thị Thu Hiền // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.216 - 218 .- 340.02
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật hiện hành quy định rõ ràng và tương đối đầy đủ về các nội dung liên quan đến quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Các quy định pháp luật đã có sự bảo vệ nghiêm ngặt và khuyến khích phát triển đất lâm nghiệp, tạo thuận lợi cho các chủ thể khai thác tối đa công dụng của đất lâm nghiệp để thu lại lợi ích và bảo đảm lợi ích của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn tồn tại những hạn chế, bấp cập trong triển khai các quy định về quyền sử dụng đất nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế này, cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành quy định pháp luật về quyền sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
4 Áp dụng phương pháp học máy trong nghiên cứu tài chính ứng dụng ở Việt Nam / Lê Đức Hoàng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.219 - 221 .- 004
Phương pháp học máy là một tập hợp con của trí tuệ nhân tạo và đang làm thay đổi các hoạt động tài chính hiện đại. Thông qua phương pháp học máy, người sử dụng có thể dễ dàng rút ngắn thời gian thực hiện các thao tác. Hiện nay, việc áp dụng phương pháp học máy trong tài chính ứng dụng đang khá phổ biến ở các nước trên thế giới, tuy nhiên các nghiên cứu về ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Bài viết khái quát về tầm quan trọng của phương pháp học máy trong tài chính ứng dụng và một số công trình nghiên cứu liên quan nhằm gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai ở Việt Nam.
5 Thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nhằm mở rộng tiếp cận tín dụng trong sản xuất nông nghiệp / Nguyễn Cảnh Hiệp // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 16 .- Tr. 16-20 .- 658
Bài viết nhìn lại thực trạng chính sách hỗ trợ bảo hiểm đối với sản xuất nông nghiệp được ban hành và áp dụng trong những năm gần đây, chỉ ra một số hạn chế trong việc hỗ trợ phí bảo hiểm cho các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số nội dung cần hoàn thiện trong các quy định về hỗ trợ bảo hiểm nhằm góp phần mở rộng tiếp cận tín dụng trong sản xuất nông nghiệp.
6 Tội phạm sử dụng công nghệ cao và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam / Hạ Thị Thiếu Dao, Lại Văn Tài // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 16 .- Tr. 21-26 .- 340
Tội phạm sử dụng công nghệ cao đứng thứ hai trong các loại tội phạm nguy hiểm nhất, sau tội phạm khủng bố và Việt Nam đang đứng trong tốp 7 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng, số các vụ án mà đối tượng lợi dụng mạng internet để thực hiện hành vi tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng nhiều và tinh vi hon, đặc biệt có sự liên kết giữa tội phạm trong và ngoài nước thông qua các phưong pháp tấn công vào hệ thống như là Phishing (lừa đảo), Deface (xâm nhập), Malware (phần mềm độc h ại)... đế tấn công vào người sử dụng, số liệu tổng hợp trong giai đoạn 2010 - 2019 có 207.353 cuộc tấn công vào Việt Nam, trong đó Phishing là 29.059 cuộc (14,01%), Deface là 105.971 cuộc (chiếm 51,11%), Malware là 72.323 cuộc (chiếm 34,88%). Bài viết phân tích tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam và các biện pháp phòng chống để nâng cao tính bảo mật, an toàn của môi trường mạng. Bài viết cũng phân tích tình hình bảo mật và an ninh thông tin thông qua chỉ số an toàn thông tin mạng toàn cầu (Global Cypersecrurity Index), chi sổ an toàn thông tin Việt Nam (Vietnam Cybersecurity Index). Dựa trên nhũng số liệu này, bài viết đề xuất các chính sách để cải thiện và hạn chế tỉnh hình hoạt động của tội phạm công nghệ cao và sự cố an ninh mạng.
7 Kinh nghiệm cho vay ưu đãi bảo vệ môi trường của Hàn Quốc, Thái Lan và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam / Phạm Thị Hoàng Anh, Lê Hải Lâm // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 16 .- Tr. 27-32 .- 332.12
Với sự hỗ trợ của các công cụ tài chính xanh. Thái Lan và Hàn Quốc là 2 quốc gia có nền phát triển kinh tế nhanh đi đôi với việc kiểm soát môi trường tốt. Trong khi Thái Lan sử dụng nguồn thu từ thuế xăng dầu để lập quỹ và dùng toàn bộ nguồn này để thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, đầu tư cho năng lượng tái tạo bào vệ môi trường; Hàn Quốc sử dụng kết hợp chính sách môi trường kèm theo các công cụ tài chính một cách đồng bộ không những góp phần cho công tác bảo vệ môi trường tốt hon mà còn khuyến khích hướng tới sự phát triển bền vừng. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động cho vay ưu đãi bão vệ môi trường tại Thái Lan và Hàn Quốc, từ đó rút ra các bài học và đề xuất một số khuyến nghị đối với hệ thống các Quỹ Bào vệ môi trường tại Việt Nam
8 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và mức chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam / Vũ Thị Kim Oanh, Bùi Huy Trung, Phạm Thị Lâm Anh // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 16 .- Tr. 33-38 .- 332.4
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng của các quốc gia. Khủng hoàng đã thu hút sự chú ý của các nhà tạo lập chính sách và các nhà quản lý về mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ (CSTT) với rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng và sự ổn định của hệ thống tài chính nói chung. Trong bài viết này, các tác già đã khái quát những nghiên cứu trước đây về tác động của CSTT đến rủi ro của các NHTM, từ đó xây dựng mô hình định lượng để đánh giá tác động cùa CSTT đến rủi ro cùa các NHTM dựa ưên bộ dữ liệu dạng bàng cân đối (balanced panel data) của 12 ngân hàng trong khoảng thời gian từ quý 1/2010 đến quý IV/2019. Kết quà nghiên cứu cho thấy CSTT có tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng (tỷ lệ nợ xấu) và tác động ngược chiều với rủi ro nói chung (Z-score) cùa các NHTM, cụ thể, khi CSTT nới lỏng được thực hiện sẽ làm cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tàng, tuy nhiên rủi ro nói chung giảm.
9 Tác động của các chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế Việt Nam / Phạm Duy Tính // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 16 .- Tr. 39-42 .- 332.6
Nghiên cứu thực nghiệm đế kiềm tra tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 - 2020. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy theo mô hình véc tơ tự hiệu chinh sai số cho chuỗi dữ liệu thời gian được thu thập. Kết quả cho thấy chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa mở rộng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, trong các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ thì tín dụng trong nền kinh tế có tác động lớn nhất. Việc thâm hụt ngân sách trong dài hạn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Từ đó hàm ý Ngân hàng Nhà nước cần chú ý kiếm soát lượng tín dụng trong nền kinh tế và Bộ Tài chính cần xây dựng cơ cấu thu ngân sách bền vững.
10 Kinh tế thế giới tiếp tục phân kỳ / Vũ Xuân Thanh // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 16 .- Tr. 44-45 .- 330
Trong báo cáo cập nhật vể triển vọng kinh tế toàn cầu, Quỹ Tìển tệ quốc tế (IMF) nhận định, tiến trình phục hối kinh tế tiếp tục phân kỳ giữa các nhóm quốc gia, do mức độ tiếp cận vắc xin không đổng đều và m ột số thay đổi về chính sách hỗ trợ tài chính. Trong số này, tiếp cận vắc xin không đồng đều, dần đến tình trạng phân nhánh quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu thành hai khối với tốc độ tăng trường khác nhau: Khối thứ nhất bao gồm các nước phát triển - những quốc gia đang trông chờ vào khả năng cuộc sống sẽ trở lại bình thường vào cuối năm nay; Khối thứ hai bao gồm những quốc gia đang tiếp tục đối mặt với rủi ro lan truyền đại dịch với số ca nhiễm COV1D-I9 và tử vong ngày càng tăng cao.