CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Giảng viên DTU

  • Duyệt theo:
11 Sự biến động mực nước tại nhánh sông Gành Hào (tỉnh Cà Mau) dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu / Trần Văn Chung, Nguyễn Trương Thanh Hội, Cao Văn Nguyện, Lâm Văn Tân // .- 2022 .- Số 03(52) .- Tr. 143-149 .- 363

Theo dữ liệu phân tích mực nước tại Trạm Thủy văn Cà Mau trong 30 năm (1990 - 2019), kết quả phân tích cho thấy sau năm 2006, mực nước dâng nhanh và bất thường không theo các quy luật xảy ra trước đó, điều này cũng đã được ghi nhận tại các công trình nghiên cứu mực nước trong vùng Biển Đông. Đặc biệt sự xuất hiện mực nước trung bình năm dâng nhanh bất thường trong giai đoạn 2015 – 2017, có thể hình thành trạng thái cân bằng mực nước trung bình mới cho vùng nghiên cứu.

12 Biểu tượng trong một số tiểu thuyết về chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam / Phạm Khánh Duy // .- 2022 .- Số 03(52) .- Tr. 104-115 .- 810

Bài viết đi sâu nghiên cứu khái niệm biểu tượng trong mối quan hệ sâu sắc với lý thuyết phân tâm học và văn học, sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp so sánh để giải mã các biểu tượng thuộc các nhóm tự nhiên và văn hóa. Thông qua đây, có thể thấy biểu tượng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên ý nghĩa, giá trị của tác phẩm văn học và khát khao giữ gìn những giá trị truyền thống của dân tộc của người cầm bút.

13 Nhận diện chủ thể thẩm mĩ Tản Đà trong vị thế của một văn sĩ chuyên nghiệp / Lê Thanh Sơn // .- 2021 .- Số 04(47) .- Tr. 109-116 .- 810

Trong khoảng hai mươi năm đầu của thế kỉ XX, sinh quyển văn hóa An Nam chứng kiến những bước ngoặt mang tính lịch sử. Giữa buổi giao thời văn hóa Á - Âu, tầng lớp nhà Nho mất dần vị thế xã hội và kéo theo những chuyển biến quan trọng trong xu hướng tiếp nhận văn chương của độc giả. Thích nghi nhanh chóng cùng những đổi thay đó, Tản Đà, từ một nhà Nho tài tử đã chuyển sang nghiệp sáng tác văn chương như một kĩ nghệ. Với những thành công vượt bậc trong văn nghiệp của mình, Tản Đà đã từng bước xác lập vị thế xã hội cho tầng lớp văn sĩ chuyên nghiệp và có nhiều đóng góp quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học.

14 Đánh giá thực trạng vi phạm chất lượng thuốc tại Việt Nam năm 2019 / Võ Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Mai Diệu // .- 2021 .- Số 04(47) .- Tr. 117-124 .- 615

Nghiên cứu mô tả cắt ngang qua hồi cứu số liệu các trường hợp vi phạm chất lượng thuốc tại Việt Nam năm 2019 với mục tiêu “Đánh giá thực trạng vi phạm chất lượng thuốc tại Việt Nam năm 2019”. Năm 2019 có 135 thuốc vi phạm chất lượng gồm: 117 thuốc hóa dược, sinh phẩm và 18 vị thuốc cổ truyền, dược liệu đều là nguyên liệu làm thuốc. Thuốc dùng đường uống vi phạm chiếm tỷ lệ cao nhất. Có 16 quốc gia với 99 lượt doanh nghiệp có thuốc vi phạm chất lượng, Việt Nam là nước có số lượt doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là Ấn Độ, Hàn Quốc và Trung Quốc.

15 Các yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ ở sản phụ mổ lấy thai lần đầu / Phạm Thị Mai Anh, Bùi Thị Thu Thảo, Phan Hoàng Anh // Tuổi trẻ .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 243 - 247 .- 610

Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 237 sản phụ sau mổ lấy thai lần đầu tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ tháng 4/2023 đến tháng 2/2025 nhằm mục tiêu “Nhận xét một số yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ lấy thai” thu được kết quả là: 64 trường hợp (27%) có khuyết sẹo mổ, đều là các khuyết nhỏ (bề dày cơ tử cung còn lại >3mm), các yếu tố có liên quan đến tăng nguy cơ khuyết sẹo: mổ trong chuyển dạ, đặc biệt là pha 1B (OR 2,62, 1,28-5,37), khâu cơ tử cung 1 lớp (OR 1,95, 95%CI 1,06-3,56), khâu mũi vắt (OR 2,22, 95% CI 1,16-4,27), tử cung ngả sau (OR 2,76, 1.50- 5.10), tình trạng thiếu máu (OR 2,84, 95%CI 1,22- 6,61). Các yếu tố chưa tìm thấy mối liên quan: BMI, cân nặng và tuổi thai tại thời điểm mổ, bệnh lí tăng huyết áp/tiền sản giật, đái tháo đường. Kết luận: Kĩ thuật khâu cơ tử cung 2 lớp, lớp thứ 1 mũi rời có liên quan đến giảm nguy cơ khuyết sẹo

16 Đặc điểm các bất thường mạch máu trên da ở bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống / Nguyễn Thị Hằng, Vũ Huy Lượng, Nguyễn Thị Hà Vinh, Lê Ngọc Phương Nhi, Lê Hữu Doanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 194 - 198 .- 610

Mô tả đặc điểm các bất thường mạch máu trên da ở bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 124 bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống tại Bệnh viện Da liễu Trung ươngtừ 9/2024 đến 9/2025. Các đặc điểm lâm sàng và tổn thương vi mạch được ghi nhận và phân tích. Kết quả: Nữ giới chiếm 79,8%, tuổi trung bình 54,9. Thể lan tỏa gặp nhiều hơn (72,6%). Hiện tượng Raynaud có ở 98,4% bệnh nhân, sẹo rỗ đầu ngón 88,7%, giãn mao mạch 57,3%. Loét ngón hiện tại 41,1% và tiền sử loét 50,8%, tỷ lệ cao hơn ở thể lan tỏa. Trên dermoscopy, 99,1% có bất thường, trong đó mao mạch giãn rộng/khổng lồ (75,8%), xuất huyết mao mạch (62,1%) và giảm số lượng mao mạch (56,5%) thường gặp nhất. Giai đoạn hoạt động chiếm tỷ lệ cao nhất (50,4%), kế đến là muộn (39,8%), ít gặp giai đoạn sớm (9,7%). Kết luận: Các bất thường mạch máu trên da là biểu hiện phổ biến và dễ quan sát ở bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống. Dermoscopy là công cụ hữu ích trong phát hiện sớm và theo dõi tiến triển tổn thương vi mạch

17 Các yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ ở sản phụ mổ lấy thai lần đầu / Phạm Thị Mai Anh, Bùi Thị Thu Thảo, Phan Hoàng Anh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 243 - 247 .- 610

Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 237 sản phụ sau mổ lấy thai lần đầu tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ tháng 4/2023 đến tháng 2/2025 nhằm mục tiêu “Nhận xét một số yếu tố liên quan đến khuyết sẹo mổ lấy thai” thu được kết quả là: 64 trường hợp (27%) có khuyết sẹo mổ, đều là các khuyết nhỏ (bề dày cơ tử cung còn lại >3mm), các yếu tố có liên quan đến tăng nguy cơ khuyết sẹo: mổ trong chuyển dạ, đặc biệt là pha 1B (OR 2,62, 1,28-5,37), khâu cơ tử cung 1 lớp (OR 1,95, 95%CI 1,06-3,56), khâu mũi vắt (OR 2,22, 95% CI 1,16-4,27), tử cung ngả sau (OR 2,76, 1.50- 5.10), tình trạng thiếu máu (OR 2,84, 95%CI 1,22- 6,61). Các yếu tố chưa tìm thấy mối liên quan: BMI, cân nặng và tuổi thai tại thời điểm mổ, bệnh lí tăng huyết áp/tiền sản giật, đái tháo đường. Kết luận: Kĩ thuật khâu cơ tử cung 2 lớp, lớp thứ 1 mũi rời có liên quan đến giảm nguy cơ khuyết sẹo.

18 Đánh giá hiệu quả thu noãn của phác đồ kích thích buồng trứng bắt đầu ngẫu nhiên sử dụng progestin / Trịnh Thế Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 239 - 243 .- 610

Đánh giá số lượng và chất lượng noãn thu được bằng phác đồ kích thích buồng trứng bắt đầu ngẫu nhiên sử dụng progestin (Random-start PPOS) ở phụ nữ vô sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu tại Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội – Học viện Quân y và Bệnh viện nam học và hiếm muộn Việt Bỉ từ tháng 01/2024 - 4/2025. Thu tuyển 65 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản được điều trị thụ tinh trong ống nghiệm sử dụng phác đồ Random-start PPOS. Trong đó, gonadotropin ngoại sinh và progestin được sử dụng vào thời điểm bất kỳ của chu kỳ kinh nguyệt. Gây trưởng thành noãn bằng GnRHa và chọc hút noãn, đánh giá số lượng noãn và tỉ lệ thụ tinh sau tiêm ICSI. Kết quả: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 34,40 ± 6,04 tuổi. Thời gian kích thích buồng trứng trung bình 9,81 ± 1,29 ngày với liều FSH khởi đầu là 247,92 ± 51,37 IU/ngày. Hiệu quả thu noãn tốt với 9,47 ± 7,22 noãn, trong đó 6,77 ± 5,46 noãn trưởng thành và tỷ lệ thụ tinh đạt 79%. Kết luận: Phác đồ kích thích buồng trứng bắt đầu ngẫu nhiên sử dụng progestin (Random-start PPOS) có tiềm năng thu noãn với số lượng và tỉ lệ thu tinh tốt ở phụ nữ vô sinh điều trị thụ tinh trong ống nghiệm.

19 Đánh giá hiệu quả và an toàn của valproate truyền tĩnh mạch trong trạng thái động kinh co cứng - co giật tại Bệnh viện Nhân Dân 115 / Trần Thanh Hùng, Nguyễn Thanh Nhi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 235 - 239 .- 610

Xây dựng quy trình điều trị valproate truyền tĩnh mạch trong trạng thái động kinh co cứng – co giật và đánh giá tính khả thi, hiệu quả và an toàn của valproate truyền tĩnh mạch sau khi triển khai quy trình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu loạt ca trên 5 bệnh nhân được chuẩn đoán trạng thái động kinh co cứng – co giật theo tiêu chuẩn của Liên đoàn Chống Động kinh Quốc tế (International League Against Epilepsy – ILAE)5, không đáp ứng điều trị bước 1 với benzodiazepine tĩnh mạch chậm, và điều trị bước 2 với valproate truyền tĩnh mạch tại khoa Nội Thần kinh Tổng quát, Bệnh viện Nhân Dân 115 từ 03/3025 đến tháng 07/2025. Kết quả: Quy trình điều trị valproate tĩnh mạch trong trạng thái động kinh (TTĐK) co cứng–co giật được xây dựng với các bước: Đánh giá chỉ định và chống chỉ định, xác định liểu tải, pha thuốc, theo dõi trong khi truyền và theo dõi sau truyền. Quy trình được áp dụng cho 5 bệnh nhân (BN) TTĐK co cứng- co giật không đáp ứng điều trị bước 1 với midazolam tĩnh mạch chậm. Kết quả, 2/5 bệnh nhân cắt cơn hoàn toàn sau liều tải, 3/5 bệnh nhân chuyển sang bước 3 với midazolam truyền tĩnh mạch. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng. Kết luận và kiến nghị: Quy trình điều trị valproate tĩnh mạch trong TTĐK co cứng–co giật cho thấy tính khả thi, hiệu quả và an toàn góp phần rút ngắn thời gian kiểm soát cơn. Với ưu thế sẵn có tại Việt Nam, valproate truyền tĩnh mạch nên được ưu tiên cân nhắc như lựa chọn điều trị bước hai cho bệnh nhân TTĐK co cứng– co giật không đáp ứng điều trị bước 1 với benzodiazepine tĩnh mạch chậm.

20 Đánh giá kết quả phẫu thuật ALPPS - cắt gan 2 thì điều trị ung thư biểu mô tế bào gan / Trần Công Duy Long, Nguyễn Long Đức, Phan Phước Nghĩa, Lê Tiến Đạt // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 229 - 234 .- 610

Đánh giá tỷ lệ thành công của phẫu thuật ALPPS, cắt gan hai thì thông qua mức độ phì đại gan bảo tồn sau ALPPS, tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn cắt gan lớn mà trước đó không thể; Xác định tỷ lệ tai biến, biến chứng của phẫu thuật; Xác định gian sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ của bệnh nhân sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp đoàn hệ tiến cứu, bắt đầu từ tháng 5/2018 - 6/2025 tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM. Tiêu chuẩn chọn bệnh là các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tế bào gan có chỉ định phẫu thuật cắt gan phải hoặc cắt gan thùy phải mà không đủ thể tích gan bảo tồn và không thể thực hiện kỹ thuật thuyên tắc tĩnh mạch cửa qua da. Kết quả nghiên cứu: Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 05/2018 đến 06/2025, chúng tôi có 60 trường hợp (TH) ung thư biểu mô tế bào gan thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình: 53,4 ± 12,3 , tỉ lệ nam: nữ là 5,5:1. Tất cả bệnh nhân (BN) có chức năng gan Child Pugh A. Kích thước u: trung vị 8,5 cm (2-15cm). Tỷ lệ có huyết khối tĩnh mạch cửa nhánh phải trên đại thể: 30 (50%). Ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn BCLC A chiếm 5,1% (3 trường hợp), B chiếm 37,3% (22 trường hợp), nhiều nhất giai đoạn C chiếm 57,6% (34 trường hợp). Các lý do chọn phẫu thuật ALPPS: Huyết khối tĩnh mạch cửa phải: 30 TH (50%), không thể thực hiện PVE do khối u gần chỗ hợp lưu tĩnh mạch cửa phải và trái 19 TH (31,67 %), đã thực hiện tắc tĩnh mạch cửa qua da (PVE) nhưng gan phì đại không đủ 09 TH (15%), có bất thường giải phẫu mạch máu: 01 TH (1,67%), u gan đa ổ 2 thùy mà các u gan bên trái nằm gần bề mặt gan có thể phẫu thuật cắt bỏ khu trú: 1 TH (1,67%). Tỉ lệ thực hiện phẫu thuật nội soi ALPPS ở thì 1 là 81,7%. Khoảng thời gian giữa 2 thì phẫu thuật trung vị là 24 ngày (5 – 146 ngày). Thể tích gan bảo tồn (bao gồm thể tích gan trái và hạ phân thùy 1) trước ALPPS 325,9 ml ± 71, sau ALPPS 527,6 ml ± 99,5. Tỷ lệ thể tích gan trung bình phì đại thêm so với ban đầu: 70,4 % ± 47,4. Sau ALPPS, 51 TH (85%) có thể thực hiện cắt gan lớn. Tỉ lệ biến chứng sau mổ thì 2 là 19,6%, bao gồm báng bụng kéo dài, nhiễm trùng vết mổ, rò mật và viêm phổ) Một TH tử vong sau mổ do viêm phổi, suy chức năng gan. Tỷ lệ sống thêm không bệnh và toàn bộ sau phẫu thuật 3, 6, 12 tháng tương ứng là 92,2%, 65,3%, 45,2% và 86%%, 82,4%, 82,4%. Kết luận: Phẫu thuật ALPPS - cắt gan 2 thì nhằm làm phì đại thể tích gan bảo tồn để thực hiện phẫu thuật cắt gan lớn theo giải phẫu có tỷ lệ thành công cao, giúp tăng cơ hội cắt gan loại trừ khối u với tỷ lệ 85%. Mặc dù có tỷ lệ tai biến, biến chứng và tử vong nhưng mang đến hiệu quả sống thêm không bệnh và toàn bộ tại thời điểm 3,6,12 tháng khá tốt. Tuy nhiên do là kỹ thuật mới và mẫu nghiên cứu còn nhỏ nên cần tiếp tục phát triển và nghiên cứu để đánh giá thêm ưu nhược điểm của một phương pháp điều trị mới đầy hứa hẹn này