CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ẩn dụ

  • Duyệt theo:
1 Ẩn dụ thức thể hiện nghĩa phủ định trong hội thoại tiếng Việt / Đặng Đức Anh // .- 2025 .- Số 9 .- .- 400

Nghiên cứu đề xuất 05 mô hình cấu trúc ẩn dụ thức điển hình, trong đó các mệnh đề phủ định trực tiếp được chuyển sang các hình thức thức nghi vấn nhằm điều chỉnh nghĩa liên nhân phù hợp với quy ước lịch sự tiếng Việt. Kết quả góp phần ủng hộ khả năng ứng dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống nói chung và lí thuyết về ẩn dụ ngữ pháp nói riêng ra ngoài phạm vi tiếng Anh, đồng thời có thể cung cấp nguồn tư liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.

2 Lí thuyết “ẩn dụ chuỗi lớn” và ứng dụng trong phân tích ngôn ngữ / Lê Thị Thu Hoài // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 39-48 .- 400

Bài viết này trình bày khái quát về lý thuyết Ẩn dụ Chuỗi lớn (Great Chain Metaphor) do Lakoff và Turner đề xuất, đồng thời làm rõ cơ chế hoạt động của mô hình này trong việc lý giải các hiện tượng ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ. Khác với các lý thuyết ánh xạ truyền thống vốn chỉ tập trung vào mối liên hệ giữa hai miền ý niệm riêng lẻ, Ẩn dụ Chuỗi lớn hướng tới việc phân tích ẩn dụ trong một hệ thống liên tầng bậc, từ tự nhiên, sinh vật học đến các đặc trưng tâm lý – xã hội của con người. Trên cơ sở đó, bài viết bước đầu khảo sát một số khả năng ứng dụng của mô hình này trong phân tích các kiểu diễn ngôn khác nhau như tục ngữ, diễn ngôn chính trị, truyền thông, ứng dụng trong dịch thuật và xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP). Những phân tích cụ thể cho thấy, lý thuyết Ẩn dụ Chuỗi lớn không chỉ giúp nhận diện chính xác hơn các tầng ánh xạ hàm ẩn trong ngôn ngữ, mà còn hỗ trợ hiệu quả trong việc lựa chọn chiến lược diễn giải, dịch thuật và tạo lập các biểu thức ngôn ngữ giàu tính biểu cảm. Với tính hệ thống và khả năng tích hợp cao, mô hình này có tiềm năng trở thành một công cụ phân tích hữu ích cho các nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh giao tiếp liên văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo hiện nay.

3 Dịch ẩn dụ trong văn học: Phân tích hai bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde / Phạm Thái Bảo Ngọc, Nguyễn Hoàng Trung // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 13-22 .- 400

Dịch ẩn dụ là thách thức lớn, ngay cả với dịch giả chuyên nghiệp. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dịch ẩn dụ, nhưng ở Việt Nam, việc đánh giá các bản dịch ẩn dụ trong văn chương vẫn còn hạn chế. Bài viết này áp dụng hệ thống phân loại tiến trình dịch ẩn dụ theo ngôn ngữ học tri nhận và Mô hình ba chiều kích của ẩn dụ để tìm hiểu về ý nghĩa của ẩn dụ trong chu cảnh, phân loại tiến trình dịch, và nhận xét về các hao tổn, hay bất tương thích, trong hai bản dịch tiếng Việt của tiểu thuyết The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde. Kết quả cho thấy, tiến trình thay đổi ẩn dụ ý niệm khi dịch thường gây ra nhiều vấn đề nhất, đặc biệt làm hao tổn ý nghĩa và sắc thái của ẩn dụ, đồng thời chưa thể hiện đúng chức năng của ẩn dụ trong chu cảnh. Các vấn đề trong hai bản dịch đều rất đa dạng, trong đó việc dịch sai nghĩa và làm mất tính liên kết, làm giảm tính mạch lạc về chủ đề là phổ biến nhất. Từ đó, bài viết đề xuất cách tiếp cận toàn diện dựa trên ba chiều kích của ẩn dụ để nâng cao chất lượng bản dịch, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ chức năng của ẩn dụ trong chu cảnh.

4 Sự chuyển hóa ý nghĩa của từ vị giác 咸 (hàm) trong tiếng Hán và “mặn” trong tiếng Việt / Bùi Thu Phương // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 150-156 .- 400

Nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ chỉ vị giác 咸 (hàm) trong tiếng Hán và từ “mặn” trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Bài viết bước đầu tìm hiểu và so sánh đặc trưng ngữ nghĩa, cơ sở chuyển nghĩa và khả năng tạo tổ hợp của cặp từ vị giác 咸 (hàm)/ mặn.

5 Phân tích ý nghĩa ẩn dụ tri nhận của các từ liên quan đến “Kết cấu của ngôi nhà” trong tiếng Hán và tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân / Mai Thị Ngọc Anh, Tô Vũ Thành // .- 2024 .- Số 351 - Tháng 3 .- Tr. 54-60 .- 495.1

Vận dụng lí luận ẩn dụ tri nhận và giả thuyết nghiệm thân để tiến hành phân tích và so sánh đối chiếu ngữ nghĩa của các từ ngữ liên quan đến “Kết cấu của ngôi nhà” trong tiếng Hán và tiếng Việt. Từ kết quả nghiên cứu có thể khằng định khả năng chuyển nghĩa, quá trình ý niệm hóa ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích của các từ này tương đối mạnh mẽ và đều chịu sự ảnh hưởng từ sự trải nghiệm nghiệm thân của con người.

6 Ngữ nghĩa tri nhận của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán và tiếng Việt thông qua ý niệm “con người là vật chứa” / Vi Thị Hoa, Ngô Thị Thu Hằng // .- 2024 .- Số 351 - Tháng 3 .- Tr. 61-69 .- 495.1

Vận dụng lí luận ẩn dụ tri nhận mô hình ẩn dụ vật chứa tìm hiểu, phân tích ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ bộ phận của cơ thể con người, bao gồm các từ: đầu, óc, tim, lòng, tay, tai, mắt, vv trong tiếng Hán và tiếng Việt. Con người là một thực thể xã hội, cơ thể con người được bộ da bao bọc xung quanh, là vật chứa toàn bộ không gian nội tại nằm bên trong lớp da đó.

7 Ẩn dụ trong quan niệm ngôn ngữ học tri nhận xã hội của Dirk Geeraerts / Nguyễn Ngọc Bình // .- 2024 .- Số 2 (400) .- Tr. 20-29 .- 400

Trình bày một số nội dung về ẩn dụ trong quan niệm ngôn ngữ học tri nhận xã hội của Dirk Geeraerts. Ngôn ngữ học tri nhận xã hội cung cấp một khung toàn diện để hiểu ẩn dụ như một hiện tượng nhận thức gắn liền với xã hội và chịu ảnh hưởng về mặt văn hóa.

8 Ẩn dụ cấu trúc về tình yêu trong thơ đương đại Việt Nam / Nguyễn Phương Duyên, Tăng Thị Tuyết Mai // .- 2023 .- Số 12 (398) .- Tr. 27-41 .- 400

Vận dụng lí thuyết ẩn dụ ý niệm dể tìm hiểu và lý giải cơ chế hình thành các ẩn dụ cấu trúc về tình yêu trong các tác phẩm của một số nhà thơ đương đại Việt Nam. Qua việc phân tích, lí giải các mô hình ánh xạ giữa các miền nguồn và miền đích tình yêu trong ẩn dụ cấu trúc, bài viết cho thấy sự đa dạng và sáng tạo trong cách thức tri nhận ý niệm trừu tượng tình yêu, góp phần làm rõ tư tưởng, thông điệp nghệ thuật của tác giả thơ đương đại. Bài viết có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về những ẩn dụ tri nhận khác trong thơ đương đại Việt Nam, góp phần phát triển và nâng cao sự hiểu biết về ngôn ngữ học và văn học.

9 Ẩn dụ tri nhận về áng mây trong các bài thơ tiếng Anh và tiếng Việt / Phan Thị Hải Yến, Nguyễn Văn Long // .- 2024 .- Số 349 - Tháng 1 .- Tr. 106-113. .- 420

Phân tích và xem xét các ẩn dụ tri nhận về “áng mây” trong các bài thơ tiếng Anh và tiếng Việt theo lí thuyết về ẩn dụ tri nhận của Lakoff và Johnson. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích đối chiếu ẩn dụ để tìm hiểu những điểm giống và khác nhau trong ẩn dụ tri nhận về hình ảnh “áng mây” trong hai ngôn ngữ.

10 Phân tích ngữ nghĩa tri nhận về “chiều không gian” của những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thẻ người trong tiếng Hán và đối chiếu với cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt / Mai Thị Ngọc Anh // .- 2023 .- Số 344 - Tháng 9 .- .- 400

Vận dụng lí luận ẩn dụ tri nhận về “chiều không gian” của những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán và so sánh với cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt, đồng thời thông qua phân tích các đặc điểm của không gian một chiều, không gian hai chiều và không gian ba chiều tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.