CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ẩn dụ

  • Duyệt theo:
1 Khung hoá nỗi đau như một sinh thể: Phân tích ẩn dụ gốc đời sống trong thơ Hàn Mặc Tử bằng mô hình CMA bốn tầng / Nguyễn Thị Hải Hà // .- 2026 .- Số 4(380) .- Tr. 43-54 .- 400

Nghiên cứu triển khai theo mô hình phân tích ẩn dụ phê phán bốn tầng, kết hợp quy trình nhận diện ẩn dụ trong văn bản, thủ tục xác định miền nguồn, phân nhóm trường nghĩa theo lí thuyết trường nghĩa và mô hình hóa cấu trúc ý niệm theo hướng tiếp cận đa tầng. Bài báo góp phần làm rõ cơ chế hình thành ẩn dụ trong thơ Hàn Mặc Tử, đồng thời minh chứng hiệu quả của mô hình phân tích bốn tầng trong việc giải mã những cấu trúc ngôn ngữ - ý niệm phức hợp của thơ tượng trưng - siêu thực Việt Nam.

2 Ẩn dụ “mẹ thiên nhiên” trong các diễn ngôn về môi trường và biến đổi khí hậu Anh - Việt / Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Thị Bích Hạnh // .- 2026 .- Số 3(379) .- Tr. 83-94 .- 400

Bài viết tập trung làm rõ cơ chế ánh xạ trong lược đồ tri nhận ẩn dụ mẹ thiên nhiên cũng như cách ẩn dụ quy trách nhiệm và tạo lập quan hệ đạo đức giữa con người và môi trường. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho nghiên cứu ẩn dụ môi trường liên ngôn ngữ trong các diễn ngôn sinh thái, đồng thời cung cấp hàm ý cho truyền thông về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.; ánh xạ.

3 Hình tượng thực vật trong tục ngữ tiếng Trung Quốc và Tiếng Việt dưới góc nhìn ẩn dụ tri nhận / Nguyễn Thu Trà, Nguyễn Thị Lê // .- 2026 .- Số 3(379) .- Tr. 104-119 .- 400

Nghiên cứu hình tượng ẩn dụ “thực vật” trong tiếng Trung Quốc và tiếng Việt từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, nhằm làm rõ cách con người tư duy và biểu đạt thế giới thông qua hình ảnh tự nhiên. Trên cơ sở lí thuyết ẩn dụ ý niệm, nghiên cứu phân tích các miền nguồn thực vật như cây, hoa, lá, rễ, quả cùng quá trình ánh xạ sang những miền đích trừu tượng như con người, đạo lí, tình cảm, cuộc đời.

4 Ẩn dụ nghệ thuật và việc kiến tạo mạch lạc trong bút kí “như con sông từ nguồn ra biển” của Hoàng Phủ Ngọc Tường / Đậu Thành Vinh // .- 2026 .- Số 2(378) .- Tr. 121-127 .- 400

Mạch lạc là điều kiện cơ bản để một chuỗi phát ngôn được tiếp nhận như một văn bản có ý nghĩa thống nhất. Trên cơ sở đó, bài viết này khảo sát bút kí “Như con sông từ nguồn ra biển” của Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc nhìn mạch lạc diễn ngôn, tập trung vào vai trò tổ chức văn bản của hệ thống ẩn dụ nghệ thuật. Thông qua việc nhận diện và phân tích 15 ẩn dụ tiêu biểu trong tác phẩm, bài viết cho thấy các ẩn dụ này không chỉ đảm nhiệm chức năng biểu đạt thẩm mĩ mà còn vận hành như những “điểm neo tri nhận”, góp phần duy trì chủ đề, điều hướng tuyến nghĩa và kết nối các phần khác nhau của văn bản. Từ đó, mạch lạc của tác phẩm được hình thành như một quá trình kiến tạo nghĩa liên tục, trong đó ẩn dụ nghệ thuật giữ vai trò trung tâm.

5 Sử dụng ngữ nghĩa học quan hệ để mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa / Phạm Văn Lam // .- 2025 .- Số 11a(374) .- Tr. 16-23 .- 400

Ngữ nghĩa học lịch đại truyền thống đã mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa từ bằng các khái niệm công cụ chủ đạo quen thuộc là ẩn dụ, hoán dụ, khái quát hóa, chuyên biệt hóa, xấu nghĩa, tốt nghĩa, loại suy, mở rộng, thu hẹp,… Do đó, bài viết này đặt ra nhiệm vụ: hệ thống hoá và làm rõ các thuật ngữ mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa của ngữ nghĩa học truyền thống; giới thiệu, vận dụng một số thuật ngữ của ngữ nghĩa học quan hệ để giải thích một số hiện tượng biến đổi nghĩa trong từ vựng tiếng Việt.

6 So sánh ẩn dụ tri nhận của từ “水” trong tiếng Hán và “nước” trong tiếng Việt / Bùi Thị Tiệp // .- 2025 .- Số 2(364) .- Tr. 132-140 .- 495.1

Dựa trên thuyết tri nhận về ẩn dụ của Lakoff và Johnson(1980), bài viết phân tích so sánh ẩn dụ tri nhận của từ “水” trong tiếng Hán và “nước” tiếng Việt, chỉ ra miền đích được “水/ nước” ánh xạ và những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.

7 Ẩn dụ thức thể hiện nghĩa phủ định trong hội thoại tiếng Việt / Đặng Đức Anh // .- 2025 .- Số 9 .- .- 400

Nghiên cứu đề xuất 05 mô hình cấu trúc ẩn dụ thức điển hình, trong đó các mệnh đề phủ định trực tiếp được chuyển sang các hình thức thức nghi vấn nhằm điều chỉnh nghĩa liên nhân phù hợp với quy ước lịch sự tiếng Việt. Kết quả góp phần ủng hộ khả năng ứng dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống nói chung và lí thuyết về ẩn dụ ngữ pháp nói riêng ra ngoài phạm vi tiếng Anh, đồng thời có thể cung cấp nguồn tư liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.

8 Lí thuyết “ẩn dụ chuỗi lớn” và ứng dụng trong phân tích ngôn ngữ / Lê Thị Thu Hoài // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 39-48 .- 400

Bài viết này trình bày khái quát về lý thuyết Ẩn dụ Chuỗi lớn (Great Chain Metaphor) do Lakoff và Turner đề xuất, đồng thời làm rõ cơ chế hoạt động của mô hình này trong việc lý giải các hiện tượng ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ. Khác với các lý thuyết ánh xạ truyền thống vốn chỉ tập trung vào mối liên hệ giữa hai miền ý niệm riêng lẻ, Ẩn dụ Chuỗi lớn hướng tới việc phân tích ẩn dụ trong một hệ thống liên tầng bậc, từ tự nhiên, sinh vật học đến các đặc trưng tâm lý – xã hội của con người. Trên cơ sở đó, bài viết bước đầu khảo sát một số khả năng ứng dụng của mô hình này trong phân tích các kiểu diễn ngôn khác nhau như tục ngữ, diễn ngôn chính trị, truyền thông, ứng dụng trong dịch thuật và xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP). Những phân tích cụ thể cho thấy, lý thuyết Ẩn dụ Chuỗi lớn không chỉ giúp nhận diện chính xác hơn các tầng ánh xạ hàm ẩn trong ngôn ngữ, mà còn hỗ trợ hiệu quả trong việc lựa chọn chiến lược diễn giải, dịch thuật và tạo lập các biểu thức ngôn ngữ giàu tính biểu cảm. Với tính hệ thống và khả năng tích hợp cao, mô hình này có tiềm năng trở thành một công cụ phân tích hữu ích cho các nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh giao tiếp liên văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo hiện nay.

9 Dịch ẩn dụ trong văn học: Phân tích hai bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde / Phạm Thái Bảo Ngọc, Nguyễn Hoàng Trung // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 13-22 .- 400

Dịch ẩn dụ là thách thức lớn, ngay cả với dịch giả chuyên nghiệp. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dịch ẩn dụ, nhưng ở Việt Nam, việc đánh giá các bản dịch ẩn dụ trong văn chương vẫn còn hạn chế. Bài viết này áp dụng hệ thống phân loại tiến trình dịch ẩn dụ theo ngôn ngữ học tri nhận và Mô hình ba chiều kích của ẩn dụ để tìm hiểu về ý nghĩa của ẩn dụ trong chu cảnh, phân loại tiến trình dịch, và nhận xét về các hao tổn, hay bất tương thích, trong hai bản dịch tiếng Việt của tiểu thuyết The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde. Kết quả cho thấy, tiến trình thay đổi ẩn dụ ý niệm khi dịch thường gây ra nhiều vấn đề nhất, đặc biệt làm hao tổn ý nghĩa và sắc thái của ẩn dụ, đồng thời chưa thể hiện đúng chức năng của ẩn dụ trong chu cảnh. Các vấn đề trong hai bản dịch đều rất đa dạng, trong đó việc dịch sai nghĩa và làm mất tính liên kết, làm giảm tính mạch lạc về chủ đề là phổ biến nhất. Từ đó, bài viết đề xuất cách tiếp cận toàn diện dựa trên ba chiều kích của ẩn dụ để nâng cao chất lượng bản dịch, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ chức năng của ẩn dụ trong chu cảnh.

10 Sự chuyển hóa ý nghĩa của từ vị giác 咸 (hàm) trong tiếng Hán và “mặn” trong tiếng Việt / Bùi Thu Phương // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 150-156 .- 400

Nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ chỉ vị giác 咸 (hàm) trong tiếng Hán và từ “mặn” trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Bài viết bước đầu tìm hiểu và so sánh đặc trưng ngữ nghĩa, cơ sở chuyển nghĩa và khả năng tạo tổ hợp của cặp từ vị giác 咸 (hàm)/ mặn.