CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Quảng cáo

  • Duyệt theo:
1 Ý nghĩa và hành chức của động từ thức mệnh lệnh trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Nga và phương thức biểu đạt sang tiếng Việt / Bùi Thu Hà, Vũ Thị Chín // .- 2025 .- Số 5(367) .- Tr. 143-153 .- 400

Tập trung phân tích ý nghĩa và chức năng của động từ hoàn thành thể và chưa hoàn thành thể dạng mệnh lệnh thức trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Nga, đồng thời đề xuất phương thức biểu đạt những sắc thái ý nghĩa này sang tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cách sử dụng động từ mệnh lệnh thức trong quảng cáo tiếng Nga và đề xuất phương thức dịch thuật phù hợp, giúp tối ưu hóa hiệu quả truyền tải thông điệp trong bối cảnh quảng cáo đa ngữ.

2 Hiện tượng mơ hồ trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thùy Giang // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 24-32 .- 400

Bài viết này được thực hiện nhằm trình bày một số lí luận về mơ hồ, làm rõ tác dụng của mơ hồ trong việc thu hút sự chú ý, tạo ấn tượng mạnh mẽ và tăng cường hiệu quả truyền thông cho thương hiệu thông qua phân tích một số ví dụ cụ thể trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh. Những phát hiện này không chỉ đóng góp vào việc nghiên cứu sâu hơn về chiến lược ngôn ngữ trong quảng cáo mà còn cung cấp gợi ý thiết thực cho các nhà quảng cáo nhằm thiết kế thông điệp hiệu quả hơn.

3 Quảng cáo lan truyền : phản ứng cảm xúc, thái độ và dự định chia sẻ của người xem / Phạm Thị Trúc Ly, Đinh Tiên Minh, Lương Xuân Hỷ // Phát triển & Hội nhập .- 2024 .- Số 76 .- Tr. 49 - 58 .- 658

Đề tài nghiên cứu áp dụng mô hình về khả năng xử lý trung gian hạn chế của Lang (2000, 2006, 2009) nhằm kiểm nghiệm tác động của cảm xúc sau khi xem video quảng cáo lan truyền (viral ad) của người tiêu dùng Việt Nam đến thái độ và dự định chia sẻ của họ. Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm (Experiment Research Design) được sử dụng nhằm kiểm định các mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy phản ứng cảm xúc dễ chịu (pleasant) với video viral ad sẽ ảnh hưởng tích cực đến thái độ của người xem đối với thương hiệu và dự định chia sẻ nó đến với người khác và ngược lại, phản ứng cảm xúc khó chịu (unpleasant) sẽ làm cho thái độ của người xem trở nên tiêu cực hơn và dự định chia sẻ rất thấp. Còn lại, thái độ và dự định chia sẻ sẽ ở mức trung bình nếu video ad cảm giác trung dung (coactive). Các phát hiện của nghiên cứu này đã đóng góp thêm vào kiến thức marketing trong nghiên cứu về cảm xúc và phản ứng thái độ đối với quảng cáo bằng cách khái niệm hóa giai điệu cảm xúc theo góc nhìn đa chiều cho phép không chỉ tích cực hay tiêu cực mà còn cả giai điệu cảm xúc hợp tác hỗn hợp.

4 Nghiên cứu tác động của quảng cáo thông qua trò chơi điện tử đến quyết định mua hàng của người tiên dùng trong lĩnh vực FMCG / Nguyễn Hồng Vân // .- 2024 .- Số 658 - Tháng 5 .- Tr. 101 – 103 .- 658

Ngày càng có nhiều nhà tiếp thị và quảng cáo cân nhắc nghiêm túc đến quảng cáo thông qua trò chơi điện tử, trong bối cảnh các phương tiện quảng cáo khác đang trở nên phân mảnh và kém hiệu quả hơn trước. Nghiên cứu này xem xét tác động của quảng cáo thông qua trò chơi điện tử tác động như thế nào đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trong lĩnh vực FMCG, khảo sát với 271 người chơi trong vòng 1 tuần. Kết quả cho thấy tính phù hợp, tính tích hợp và tính nổi bật có tác động tích cực đến thái độ của người tiêu dùng đối với quảng cáo. Tuy nhiên, chúng lại tác động nghịch biến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Ngoài ra, thái độ đối với quảng cáo của người chơi cũng có tác động tích cực đến quyết định mua hàng.

5 Tác động từ quảng cáo “Tẩy xanh” đến ý định tiêu dùng xanh của thế hệ trẻ / Đỗ Thị Hải Ninh // .- 2024 .- Số 823 - Tháng 4 .- Tr. 230-233 .- 658.8

Quảng cáo xanh ngày càng thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng. Tuy nhiên, không ít trường hợp quảng cáo khẳng định sản phẩm xanh và đưa ra các cam kết bảo vệ môi trường, nhưng thực tế lại không đúng như vậy và hiện tượng này được gọi là tẩy xanh. Nghiên cứu này tìm hiểu về nhận thức “tẩy xanh” ảnh hưởng tới ý định tiêu dùng sản phẩm xanh của giới trẻ. Thông qua lý thuyết hành động hợp lý, nghiên cứu này kiểm chứng ảnh hưởng của tẩy xanh tới thái độ của người tiêu dùng đối với việc tiêu dùng các sản phẩm mang tính chất bền vững. Mẫu nghiên cứu gồm 352 người được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Kết quả cho thấy, quảng cáo tẩy xanh có ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp tới ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng trẻ. Hơn thế nữa, thái độ đối với bền vững và cảm giác bị phản bội của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới ý định tiếp tục mua của người tiêu dùng trẻ.

6 Điều chỉnh mối quan hệ giữa PR và báo chí: Cần thêm những quy định mới từ luật báo chí / Trần Thị Hòa // Thông tin và truyền thông .- 2022 .- Số 5 .- Tr. 92-97 .- 659.2

Sự phát triển của PR và báo chí hiện nay đặt ra yêu cầu về việc cần bổ sung những quy định mới của pháp luật về báo chí để điều chỉnh mối quan hệ này nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của công chúng, báo chí, tổ chức, cá nhân đồng thời hỗ trợ báo chí tăng cường hiệu quả hoạt động phục vụ xã hội.

7 Quảng cáo cá nhân hóa: Tác động của lo ngại quyền riêng tư / Hoàng Cửu Long // .- 2022 .- Số 63(73) .- Tr. 44-55 .- 658.8

Facebook trở thành mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam và có ảnh hưởng sâu rộng cho nhu cầu giải trí, cập nhật tin tức, kết nối xã hội. Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định mối liên hệ giữa cảm nhận cá nhân hóa và ý định hành vi của người tiêu dùng, thêm yếu tố lo ngại quyền riêng tư. Từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị giúp nâng cao ý định hành vi của khách hàng thông qua các chiến lược quảng cáo trên facebook.

8 Đánh giá tác động của quảng cáo cá nhân hóa đến ý định mua sắm của giới trẻ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 158 .- Tr. 63-75 .- 658

Nghiên cứu đã được thực hiện thông qua điều tra bảng hỏi trên 617 người tiêu dùng trẻ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng (kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bội) được sử dụng nhằm lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố liên quan đến quảng cáo cá nhân hóa đến ý định mua sắm. Kết quả phân tích cho thấy giá trị ảnh hưởng của quảng cáo cá nhân hóa đến ý định mua sắm của giới trẻ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, sự phiền nhiễu và tính riêng tư ảnh hưởng tiêu cực đến ý định mua sắm, ngược lại, độ tin cậy, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến ý định mua sắm. Từ kết quả thu được, một số hàm ý quản trị và hàm ý giải pháp được đề xuất nhằm giúp doanh nghiệp cải thiện trải nghiệm người dùng và tối ưu hóa lợi ích của quảng cáo cá nhân hóa.

9 Hoạt động quảng cáo trên Youtube ở Việt Nam: thực trạng và kiến nghị / Cao Ngọc Anh Thi // Nghiên cứu Lập pháp .- 2021 .- Số 9(433) .- Tr.38 - 41 .- 346.597048

Hoạt động quảng cáo trên YouTube hiện còn tình trạng lộn xộn, gây tác hại cho người tiêu dùng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích thực trạng và kiến nghị giải pháp chấn chỉnh hoạt động quảng cáo trên YouTube ở Việt Nam.

10 Tác động của hiệu quả quảng cáo cạnh tranh đến hành vi chuyển đổi trong sử dụng dịch vụ của khách hang cá nhân tại các ngân hang thương mại ở Việt Nam / Nguyễn Thị Thu Cúc // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 288 .- Tr. 64-73 .- 658

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tác động của hiệu quả quảng cáo cạnh tranh đến hành vi chuyển đổi trong sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Thông qua phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, với quy mô mẫu điều tra là 518 khách hàng cá nhân của các ngân hàng thương mại, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả quảng cáo cạnh tranh của ngân hàng tác động ngược chiều đến hành vi chuyển đổi khi sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân. Trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này, danh tiếng của ngân hàng và lòng trung thành của khách hàng đóng vai trò như là các yếu tố trung gian. Dựa trên các kết quả này, nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghị nhằm tránh việc khách hàng rời đi và giảm thiểu những thiệt hại kinh doanh do việc chuyển đổi ngân hàng của khách hàng.