CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Tiếng Việt--Ngữ pháp
1 Đặc trưng âm học của âm tiết tiếng Việt hướng đến xây dựng bảng đo thính lực lời / Vũ Thị Hải Hà // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 3-10 .- 400
Âm tiết tiếng Việt là sự kết hợp các yếu tố chiết đoạn: âm đầu, vần trong đó vần bao gồm âm đệm, nguyên âm, âm cuối và yếu tố siêu đoạn: thanh điệu. Âm sắc của âm tiết được quy định bởi âm sắc các yếu tố cấu tạo, trong đó âm sắc của nguyên âm chính, vốn có chức năng tạo đỉnh âm tiết có vai trò quyết định. Xem xét vùng tần số của âm tiết cần căn cứ vào vùng tần số của các yếu tố kết hợp trong âm tiết như thanh điệu, âm đầu, vần, vậy đâu là yếu tố quyết định nhất trong việc tạo âm sắc của âm tiết? Dưới đây chúng tôi lần lượt xem xét vai trò của thanh điệu, âm đầu và vần trong việc tạo âm sắc của âm tiết.
2 Nghiên cứu từ ghép tiếng Việt ở Trung Quốc và Việt Nam / Lưu Diễm Phân, La Văn Thanh // .- 2025 .- Số 10) .- .- 400
Từ ghép tiếng Việt chiếm phần lớn và có sức sản sinh mạnh trong cấu tạo từ tiếng Việt. Việc nghiên cứu từ ghép tiếng Việt là hết sức cần thiết. Kể từ cuối thế kỷ 20 đến nay, các học giả Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được thành quả nghiên cứu phong phú về từ ghép tiếng Việt. Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tiêu chí phân loại từ ghép, trật tự hình vị của từ ghép cũng như quan hệ nghĩa giữa hình vị và từ ghép. Bài viết này tổng kết thành quả nghiên cứu từ ghép tiếng Việt của học giả Trung Quốc và Việt Nam, nhằm xem xét từ ghép tiếng Việt một cách toàn diện hơn, và chỉ ra những hướng mới cho nghiên cứu từ ghép tiếng Việt trong tương lai
3 Phụ từ nghi vấn, đại từ nghi vấn và tiểu từ tình thái nghi vấn tiếng Việt / Trần Kim Phượng // .- 2025 .- Số 9 .- Tr. 3-12 .- 400
Trong số những phương tiện dùng để xây dựng câu nghi vấn tiếng Việt, các từ để hỏi đóng một vai trò hết sức quan trọng. Các từ này không thuần nhất về mặt từ loại và đương nhiên, cả về mục đích hỏi. Ba nhóm từ loại chuyên được dùng để thiết kế câu hỏi là đại từ, tiểu từ và phụ từ. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về ba nhóm này trong sự so sánh với nhau. Theo khung lí thuyết của Ngữ pháp chức năng, bài viết này làm rõ đặc trưng của phụ từ nghi vấn, đại từ nghi vấn và tiểu từ tình thái nghi vấn trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Kết quả cho thấy có nhiều điểm tương đồng và khác biệt giữa ba nhóm từ.
4 Câu hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam / Tạ Quang Tùng // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 170-177 .- 400
Tìm hiểu những đặc điểm các dạng câu hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam, cụ thể là miêu tả các phương tiện từ vựng – ngữ pháp được sử dụng để cấu tạo nên các loại cây hỏi trong tiếng Khơ Mú ở Việt Nam. Câu hỏi (còn gọi là “câu nghi vấn” ) là một loại câu khá phổ biến trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, thường gặp khi bắt đầu cuộc thoại và đặc biệt trong quá trình học ngôn ngữ.
5 Đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm vị từ nhận xét – đánh giá trong tiếng Việt từ góc nhìn của ngữ pháp chức năng / Nguyễn Thị Kim Cúc // .- 2024 .- Số 6 (404) .- Tr. 56-65 .- 400
Tập trung chỉ ra đặc trưng ngữ nghĩa của vị từ nhận xét – đánh giá theo tiêu chí đề xuất. Việc xá định được đặc trưng ngữ nghĩa từ 2 tiêu chí sẽ giúp phân biệt được vị từ nhận xét – đánh giá với các loại vị từ khác trong tiếng Việt cũng như xác định được kiểu sự tình của câu có vị từ này làm trung tâm.
6 Kiêng kị ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn / Trần Văn Tiếng, Nguyễn Thị Kim Ngọc // .- 2023 .- Volume 8 (N1) - Tháng 9 .- Tr. 19-25 .- 495.78
Kiêng kị ngôn ngữ (language taboo) là hiện tượng phổ biến trong mọi ngôn ngữ. Biểu hiện của hiện tượng này là trong khi giao tiếp, người ta cần kiêng kị, cần tránh nói ra những từ ngữ có thể làm người nghe bị xúc phạm, khó chịu. Những từ ngữ kiêng kị khi dùng có thể làm cho cuộc thoại chuyển sang hướng tiêu cực, bất lợi, do vậy người ta cần phải nói tránh đi bằng cách sử dụng một từ ngữ khác. Kiêng kị ngôn ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ khá phức tạp có liên quan đến các yếu tố văn hóa dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán. Việc tránh dùng những từ ngữ kiêng kị thể hiện cách ứng xử ngôn từ trong các tình huống giao tiếp. Tìm hiểu từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt và tiếng Hàn giúp ta thấy được những điểm tương đồng và dị biệt về văn hóa dân tộc, về cách sử dụng từ ngữ thay thế các từ kiêng kị trong tiếng Việt và tiếng Hàn, tránh được những "cú sốc văn hóa” khi giao tiếp.
7 Những từ ngữ địa phương Nam bộ trong các tác phẩm văn xuôi từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 / Trần Văn Tiếng // .- 2023 .- Volume 8 (N1) - Tháng 9 .- Tr. 34-39 .- 495.92
Văn xuôi Nam Bộ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 là một bộ phận quan trọng trong văn học Việt Nam thời cận đại. Các tác phẩm văn xuôi Nam Bộ ra đời trong giai đoạn này đánh dấu bước chuyển tiếp từ lối hành văn cũ sang cách thể hiện mới của chữ Quốc ngữ.
8 Áp dụng lí thuyết Logic của Hoare đối với câu mệnh lệnh / Bùi Việt Hà, Bùi Duy Dương // .- 2024 .- Số 2 (400) .- Tr. 30-36. .- 400
Trình bày một số vấn đề về áp dụng lí thuyết Logic của Hoare đối với câu mệnh lệnh. Từ đó, sẽ hỗ trợ ngôn ngữ học tính toán bằng cách tái tạo ra mô hình ngữ nghĩa với những công thức nhằm xử lí câu mệnh lệnh một cách rõ ràng và chính xác hơn.
9 Sự chuyển nghĩa của “Sầm uất” trong gần hai thế kỉ (từ 1838 đến nay) / Võ Thị Minh Hà // .- 2024 .- Số 2 (400) .- Tr. 37-45 .- 400
Tập trung tìm hiểu nghĩa từ Sầm uất theo thời gian, thông qua sự ghi nhận của các từ điển. Trong tiếng Việt hiện nay, từ sầm uất là một tính từ, dùng để miêu tả một nơi có nhiều nhà cửa, đông đúc và nhộn nhịp.
10 Thuật ngữ chỉ màu sắc “trắng” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ tri nhận ngôn ngữ / Lê Thị Thu Hoài // .- 2023 .- Số 345 - Tháng 10 .- Tr. 3-13 .- 400
Nghiên cứu về các ý nghĩa liên quan đến thuật ngữ chỉ màu “trắng” để chỉ ra cách thuật ngữ màu này mở rộng chức năng ngữ nghĩa của nó từ nghĩa gốc sang nghĩa hiện tại thông qua các cơ chế hoán dụ, ẩn dụ ý niệm và suy luận ngữ dụng. Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ quan điểm của Wierzbicka rằng ý nghĩa màu sắc đã phát triển dựa trên một số kinh nghiệm phổ quát của con người.





