CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngôn ngữ
1 Đặc điểm của nhóm động từ không độc lập trong báo cáo chính trị tại các kì đại hội đảng toàn quốc (từ đại hội II đến đại hội XIV) / Đào Mai Trang // .- 2026 .- Số 4(380) .- Tr. 32-42 .- 400
Bài viết này khảo sát và phân tích đặc điểm của nhóm động từ không độc lập ở 13 Báo cáo chính trị tại các kì Đại hội Đảng toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ Đại hội II đến Đại hội XIV) bao gồm: động từ quan hệ và động từ tình thái. Bài viết cũng chỉ ra việc các động từ quan hệ xuất hiện khá đồng đều trong các Báo cáo chính trị còn các động từ tình thái giảm dần của các qua các kì Đại hội phản ánh sự thay đổi trong tư duy lãnh đạo của Đảng, từ việc nhấn mạnh ý chí và mong muốn sang việc thực hiện chính sách dựa trên kế hoạch và dự đoán chính xác; Từ đó làm rõ vai trò của ngôn ngữ trong việc thể hiện các quan điểm và nhiệm vụ chính trị của Đảng.
2 Nghiên cứu hệ thống ngữ âm tiếng Hà Nhì ở xã Thu Lũm, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu / Chung Kiều (钟娇 Zhong Jiao) // .- 2026 .- Số 3(379) .- Tr. 131-136 .- 400
Xã Thu Lũm là một trong những nơi cư trú tập trung nhất của người Hà Nhì ở tỉnh Lai Châu của Việt Nam, ít xen kẽ với dân tộc khác, giữ gìn và bảo tồn ngôn ngữ và những nét bản sắc văn hóa Hà Nhì một cách hoàn hảo cho nên được cho là nơi tốt để nghiên cứu ngữ âm tiếng Hà Nhì Việt Nam. Thông qua điền dã thực tế thu thập tư liệu và sử dụng phương pháp miêu tả với các thủ pháp thống kê, chúng tôi tiến hành miêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Hà Nhì ở xã Thu Lũm để cungcấp thêm những tài liệu nghiên cứu về tiếng Hà Nhì ở Việt Nam.
3 Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của từ ngữ chỉ địa danh ở Hải Phòng / Đỗ Phương Lâm // .- 2026 .- Số 4(380) .- Tr. 5-14 .- 400
Bài viết khảo cứu đặc điểm ngôn ngữ và giá trị văn hóa của hệ thống địa danh thành phố Hải Phòng qua các thời kì lịch sử từ thế kỉ I CN đến nay. Trên cơ sở phân tích hơn hơn 200 địa danh tiêu biểu thuộc ba nhóm - địa danh hành chính, địa danh tự nhiên và địa danh nhân văn. Đặc biệt, bài viết lần đầu tiên phân tích hiện tượng địa danh biến mất và địa danh mới sản sinh trong bối cảnh sáp nhập hành chính 2025, nhìn nhận đây như một cuộc "biến đổi địa danh học" cần được tư liệu hóa khẩn cấp.
4 Ngôn ngữ đánh giá và lập trường diễn ngôn trong tranh luận tổng thống giữa Donald Trump và Kamala Harris năm 2024 / Nguyễn Thị Thu Hiền, Hà Thanh Hải, Mai Hồng Phương // .- 2026 .- Số 4(380) .- Tr. 15-22 .- 400
Bài báo phân tích lập trường, quan điểm thể hiện trong cuộc tranh luận tổng thống Hoa Kỳ năm 2024 giữa Donald Trump và Kamala Harris, dưới góc nhìn kết hợp giữa lí thuyết Đánh giá (Appraisal Theory - AT) và Phân tích Diễn ngôn Phê phán (CDA). Dữ liệu nghiên cứu là ngôn ngữ của cuộc tranh luận, được phân tích định lượng và định tính ở cấp độ mệnh đề, tập trung vào ba tiểu hệ thống của Thái độ: Cảm xúc, Phán xét và Đánh giá cảm quan. Kết quả cho thấy Donald Trump và Kamala Harris sử dụng ngôn từ đánh giá khác nhau, qua đó thể hiện hai lập trường chính trị đối lập.
5 Rà soát văn bản quản lí nhà nước về tiếng Việt trong một số loại hình quảng cáo ở Việt Nam / Bùi Thanh Thủy, Võ Thanh Hà, Đoàn Thị Thúy Hạnh, Xuân Thị Nguyệt Hà // .- 2026 .- Số 4(380) .- Tr. 23-31 .- 400
Bài viết tập trung rà soát và đánh giá hệ thống văn bản quản lí nhà nước về sử dụng tiếng Việt trong một số loại hình quảng cáo tại Việt Nam. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật kết hợp với dữ liệu khảo sát thực tế từ các mẫu quảng cáo thuộc các loại hình khác nhau nhằm đối chiếu giữa quy định và thực tiễn. Hệ thống văn bản được đánh giá theo các tiêu chí về mức độ cụ thể, tính nhất quán, tính khả thi và mức độ phân hóa theo loại hình quảng cáo.
6 Lịch sử ngôn ngữ người Việt: Tham chiếu với một vài vấn đề văn hóa trong lịch sử Việt Nam / Trần Trí Dõi // .- 2026 .- Số 1(377) .- Tr. 5-16 .- 400
Bài viết này, với cách tiếp cận liên ngành của khoa học nhân văn như hiện nay và từ góc nhìn của lịch sử ngôn ngữ người Việt, thử thảo luận về một vài nội dung văn hóa ở giai đoạn tiền sử hay sơ sử đang được thảo luận trên lãnh thổ Việt Nam. Vì thế, những đóng góp mới gần đây của kết quả nghiên cứu về lịch sử ngôn ngữ người Việt, một thành tố văn hóa mà cộng đồng người Việt sử dụng vào giai đoạn đó, có lẽ là cần thiết và hữu ích cho việc giải thích vấn đề.
7 Vai trò định danh và cấu trúc biểu đạt đa tầng trong hệ hình dịch học Việt Nam: Từ kí hiệu học sơ nguyên đến thực tại ngôn ngữ trí tuệ nhân tạo (AI) / Phạm Hùng Đức // .- 2026 .- Số 2(378) .- Tr. 14-20 .- 400
Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và nhận thức trong hệ hình Dịch học Việt Nam. Trên cơ sở đó, hệ thống kí hiệu Quẻ và Hào được tiếp cận như một hình thức ngôn ngữ sơ nguyên, qua đó thiết lập mối quan hệ giữa cái biểu đạt (Tượng, Danh, Ngôn) và cái được biểu đạt (Lý – quy luật vận hành của thực tại). Từ đó, bài báo đề xuất phương pháp luận “truy nguyên vượt chữ” như một thái độ ngôn ngữ học tỉnh thức, nhằm tái lập sự hài hòa giữa ngôn ngữ, nhận thức và thực tại trong kỉ nguyên trí tuệ nhân tạo.
8 Đối chiếu những quy tắc văn hóa doanh nghiệp Việt Nam - Mỹ chi phối việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh trong các quảng cáo tuyển dụng tiếng Việt và tiếng Anh / Trần Thị Thu Hiền // .- 2026 .- Số 2(378) .- Tr. 110-120 .- 400
Tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về cách thức những quy tắc văn hóa doanh nghiệp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong các quảng cáo tuyển dụng tiếng Việt và tiếng Anh, nghiên cứu này đã phân tích các yếu tố ngôn ngữ và hình ảnh trong 20 quảng cáo tuyển dụng bằng tiếng Việt và 20 quảng cáo tuyển dụng bằng tiếng Anh của các công ty thương mại uy tín tại Việt Nam và tại Mỹ giai đoạn 2024-2025.
9 Ngôn ngữ nghệ thuật trong bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường / Hồ Thị Thanh Thuỷ // .- 2026 .- Số 2(378) .- Tr. 128-135 .- 400
Bằng việc phân tích các mặt: Ngôn ngữ giàu nhạc điệu qua cách vận dụng điệu hò, điệu lí, bản nhạc của các nhạc sỹ tạo ngôn ngữ riêng độc đáo; những biện pháp tu từ nghệ thuật: So sánh, nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ, câu hỏi tu từ vừa để kết nối thực tại với ảo mộng vừa để ngợi ca; ngôn ngữ thơ ca tạo nên chất thơ trong sáng tác; kết hợp ngôi kể với phương ngữ tạo ra các trạng huống vừa gần gũi, giản dị của người bản xứ vừa lấp lánh cấu trúc kì ảo của ngôn ngữ những tứ thơ.
10 Kĩ năng tư duy phản biện và học ngoại ngữ: Góc nhìn từ triết lí giáo dục của John Dewey / Phạm Thị Chuẩn, Trần Thu Trang, Nguyễn Huyền Ngọc // .- 2025 .- Số 12(376) .- Tr. 156-163 .- 400
Phân tích quan điểm của Dewey về vai trò của giáo dục trong việc nuôi dưỡng năng lực tư duy bậc cao, đặc biệt là khả năng tư duy phản biện - yếu tố cốt lõi giúp người học chủ động, sáng tạo và biết đặt câu hỏi trong quá trình tiếp nhận tri thức. Từ cơ sở lí luận đó, tư duy phản biện được đặt trong bối cảnh học ngoại ngữ để làm rõ rằng việc rèn luyện kĩ năng này có thể nâng cao rõ rệt hiệu quả học tập ngôn ngữ.





