CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Lâm sàng
51 Điều trị dị dạng thông động tĩnh mạch tử cung bằng phương pháp can thiệp nội mạch kết hợp với nút mạch qua da / Lê Thanh Dũng, Vũ Tiến Thế, Thân Văn Sỹ, Nguyễn Văn Sơn, Lê Tuấn Vũ, Lương Thị Hải Phượng, Trần Quang Lộc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 42 - 45 .- 610
Dị dạng động tĩnh mạch tử cung - Uterine Artery Malformation (Uterine AVM) là một tổn thương mạch máu hiếm gặp, có thể gây chảy máu tử cung nặng đe dọa tính mạng. Có nhiều phương pháp điều trị như điều trị nội khoa, can thiệp nội mạch, phẫu thuật, trong đó điều trị chủ yếu là can thiệp nội mạch chọn lọc, tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này trong kiểm soát AVM lâu dài vẫn còn tranh cãi. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 32 tuổi bị AVM tử cung tái phát sau 3 lần nút mạch, kèm theo giãn tĩnh mạch buồng trứng và ổ giả phình, đặt ra thách thức trong chẩn đoán và điều trị.
52 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân có biến chứng chảy máu do tán sỏi mật qua da bằng laser tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Nguyễn Xuân Toàn, Nguyễn Thái Bình // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 197-201 .- 610
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân (BN) tán sỏi mật qua da (TSMQD) bằng LASER có biến chứng chảy máu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 26 BN có chảy máu sau TSMQD bằng LASER tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 3/2020 – 03/2025. Kết quả: 26 BN (tuổi trung bình là 63,7 ± 13,4 tuổi, trong đó nữ giới chiếm 61,5%) có chảy máu đường mật cần can thiệp. Viêm đường mật trước can thiệp được ghi nhận ở 76,9%, xơ gan ở 38,5%. Nguồn chảy máu xác định trên chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) từ động mạch (ĐM) gan chiếm 65,4% (17 BN), nhu mô gan 15,4% (4 BN), tĩnh mạch (TM) gan và/hoặc TM cửa 15,4% (4 BN), từ cả ĐM và TM gan 3,8% (1 BN). Trên cắt lớp vi tính (CLVT) có 19,2% (5 BN) quan sát thấy chảy máu từ ĐM. Sự sụt giảm Hemoglobin (Hb) trung bình là 18 g/L và INR tăng từ 1,05 lên 1,26 sau can thiệp. Kết luận: Chảy máu sau TSMQD bằng LASER là biến chứng hiếm gặp nhưng nguy hiểm, có thể gặp do tổn thương các mạch máu gan hay từ nhu mô gan. Biến chứng này thường gặp ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như viêm đường mật, xơ gan và sử dụng cổng tán sỏi cỡ lớn. Chụp DSA có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán nguồn chảy máu và điều trị.
53 Tổn thương van tim ở người bệnh viêm thận lupus tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024 – 2025 / Phạm Khánh Minh, Nguyễn Văn Hùng, Tạ Thị Hương Trang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- .- 610
Mô tả tổn thương van tim bằng siêu âm tim Doppler màu trên người bệnh viêm thận lupus và tìm hiểu mối liên quan giữa tổn thương van tim với lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm đối tượng này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 người bệnh điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của nghiên cứu là: 37.61±17.08, tỷ lệ nữ/nam 85%/15%. Có 83.5% người bệnh có tổn thương van tim. Tổn thương van hai lá gặp nhiều nhất chiếm 77.5%, tổn thương van động mạch chủ gặp 32.5%, tổn thương van ba lá là 17% và tổn thương van động mạch phổi là 1.5%. Giá trị EF trung bình là 61.92 ±7.71%, tăng áp lực động mạch phổi là 42.5%. Có 40.5% người bệnh bị tràn dịch màng tim. Tuổi, giới tính, mức độ hoạt động bệnh SLEDAI, hội chứng thận hư không có sự khác biệt ở nhóm có tổn thương van tim và không có tổn thương van tim. Người bệnh có mức lọc cầu thận < 60 ml/ph/1.73m2 có nguy cơ tổn thương van tim gấp 3.3 lần so với nhóm có mức lọc cầu thận ≥ 60 ml/ph/1.73 m2 (OR = 3.30; 95%Cl: 1.50– 7.26; p = 0.003). Người bệnh thiếu máu có nguy cơ tổn thương van tim cao gấp 4.45 lần so với không thiếu máu (OR = 4.451; 95%Cl = 1.893 – 10.467; p = 0.001). Kết luận: Trong viêm thận lupus, tuổi, giới tính, mức độ hoạt động bệnh SLEDAI, hội chứng thận hư không có sự khác biệt ở nhóm có tổn thương van tim và không có tổn thương van tim. Trong khi đó, giảm mức lọc cầu thận và tình trạng thiếu máu có liên quan có ý nghĩa thống kê với tổn thương van tim.
54 Mang thai tự nhiên sau đốt u xơ tử cung qua da bằng vi sóng tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp / Lương Thành Đạt, Lê Thanh Dũng, Lê Thị Hồng, Trần Quang Lộc, Lê Tuấn Vũ, Thân Văn Sỹ, Nguyễn Mạnh Tuấn, Tạ Xuân Trường, Đinh Xuân Bình, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thành Đạt, Bùi Viết Nghĩa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 116 - 119 .- 610
U xơ tử cung là khối u lành tính phổ biến nhất của đường sinh dục nữ, có thể gây rong kinh, đau vùng chậu, thiếu máu và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Nhu cầu bảo tồn khả năng sinh sản đã thúc đẩy sự phát triển của các kỹ thuật ít xâm lấn, trong đó đốt vi sóng (Microwave Ablation - MWA) là một lựa chọn đầy hứa hẹn. Chúng tôi báo cáo trường hợp nữ 35 tuổi, PARA 2002, được chẩn đoán u xơ tử cung thành trước kích thước 40×32×42 mm và điều trị thành công bằng MWA qua da dưới hướng dẫn siêu âm, không biến chứng. Sau 5 tháng, bệnh nhân mang thai tự nhiên, thai kỳ diễn tiến thuận lợi và sinh thường bé gái khỏe mạnh nặng 3100 g. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu quốc tế, cho thấy MWA có thể mang lại hiệu quả điều trị, bảo tồn khả năng sinh sản và an toàn sản khoa cao.
55 Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điều trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 / Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Hồng Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 123 - 128 .- 610
Mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điều trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 và phân tích các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 166 người bệnh được chẩn đoán rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe tâm thần từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025 và sử dụng bộ công cụ PSQI để phân loại và đánh giá mức độ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh. Kết quả: tỉ lệ có rối loạn giấc ngủ là 93,4%, trong đó mức độ nhẹ chiếm 33,7%, vừa chiếm 48,2%, và nặng chiếm 11,4%. Tỉ lệ người bệnh có rối loạn giấc ngủ trước khi khởi phát đợt loạn thần là 47,7%. Tuổi cao (p<0,01), sống một mình (p=0,025), có hoang tưởng (p=0,010) là các yếu tố làm tăng mức độ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời. Kết luận: Rối loạn giấc ngủ là một vấn đề thường gặp và có mối liên quan chặt chẽ với rối loạn loạn thần cấp và nhất thời.
56 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy xâm nhập / Ngô Đình Trung, Nguyễn Chí Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 163 - 167 .- 610
Suy dinh dưỡng là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân nặng phải thở máy xâm nhập, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy tại Hồi sức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 86 bệnh nhân thở máy tại khoa Hồi sức ngoại khoa và ghép tạng – Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng thang điểm SGA (Subjective Global Assessment), chỉ số khối BMI (Body Mass Index), và một số chỉ số sinh hóa khi nhập viện và ra viện. Các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị được ghi nhận. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SGA B, C) tăng từ 83,3% khi nhập viện lên 95% khi ra viện (p = 0,003). Cân nặng và BMI giảm rõ rệt (p < 0,001), trong khi các chỉ số sinh hóa không thay đổi có ý nghĩa. SGA khi nhập viện liên quan với tuổi, biến chứng nhiễm khuẩn đa kháng và kết quả điều trị (p < 0,05). Suy dinh dưỡng khi ra viện liên quan có ý nghĩa với tuổi cao (p = 0,001), thời gian trì hoãn nuôi ăn tiêu hóa (p < 0,001), và rối loạn chức năng thận. Kết luận: Suy dinh dưỡng rất phổ biến ở bệnh nhân thở máy và có xu hướng nặng lên trong quá trình nằm viện. Cần đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm, đặc biệt qua đường tiêu hóa, để cải thiện kết cục điều trị.
57 Khảo sát giá trị của thang điểm haps và bisap trong dự đoán mức độ nặng ở bệnh nhân viêm tụy cấp / Nguyễn Công Long, Trần Thị Quỳnh Anh, Đào Việt Hằng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 189 - 193 .- 610
Khảo sát giá trị của thang điểm HAPS và BISAP trong tiên lượng mức độ nặng ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 120 bệnh nhân được chẩn đoán viêm tụy cấp điều trị tại Trung tâm Tiêu hoá - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2024 đến tháng 06/2025. Thang điểm HAPS và BISAP được đánh giá trong vòng 24 giờ đầu. Kết quả: Thang điểm HAPS có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ khá, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,752 (KTC 95%= 0,672 – 0,878). Tại điểm cut-off HAPS=3 điểm, độ nhạy đạt 61,1%, độ đặc hiệu 84,3%, giá trị tiên đoán dương 49,7% và giá trị tiên đoán âm 92,5%. Thang điểm BISAP có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp ở mức độ tốt, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) là 0,928 (KTC 95%= 0,878 – 0,978). Tại điểm cut-off BISAP=3 điểm, độ nhạy đạt 81,3%, độ đặc hiệu 90,4%, giá trị tiên đoán dương (PPV) 66,5%, và giá trị tiên đoán âm 96,9%. Kết quả có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết luận: Thang điểm BISAP có giá trị tốt hơn thang điểm HAPS trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tụy cấp, đặc biệt là trong giai đoạn 24 giờ đầu nhập viện.
58 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm khuẩn sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương / Triệu Thị Diệu Linh, Lê Minh Trác, Nguyễn Thị Xuân Hương, Trần Đức Tú // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 78 - 82 .- 610.0012
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh non tháng tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm trẻ sơ sinh có tuổi thai từ 28 đến dưới 37 tuần được chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh tại Trung tâm sơ sinh bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ tháng 1/2025 đến tháng 8/2025. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Có 158 trẻ sơ sinh non tháng đủ tiêu chuẩn. Tỷ lệ trẻ được chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh sớm 30,4%, muộn 69,6%. Tỷ lệ đẻ mổ là 89,2%. Đặc điểm lâm sàng thường gặp nhất là hô hấp 67,1%, chủ yếu là cơn ngừng thở. Đặc điểm cận lâm sàng không đăc hiệu. Tỷ lệ cấy máu dương tính là 27,2%. Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm hay gặp là E. coli và nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là K. pneumonia. Kết luận: Nhiễm khuẩn sơ sinh ở trẻ đẻ non chủ yếu là nhiễm khuẩn sơ sinh muộn, triệu chứng lâm sàng về hô hấp chiếm tỷ lệ cao và cấy máu vi khuẩn hay gặp nhất nhiễm khuẩn sơ sinh sớm là E. Coli, nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là K. pneumonia.
59 Kết quả điều trị tim nhanh nhĩ đơn ổ ở trẻ em bằng năng lượng sóng tần số radio tại Bệnh viện Nhi Trung ương / Đoàn Quốc Hoàn, Ngô Anh Vinh, Đặng Hải Vân, Trương Mạnh Tú // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 182 - 185 .- 610
Nhận xét kết quả điều trị cơn nhịp nhanh nhĩ đơn ổ ở trẻ em tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Nhi Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 32 bệnh nhân được chẩn đoán nhịp nhanh nhĩ đơn ổ bằng phương pháp thăm dò điện sinh lý. Kết quả: Tuổi can thiệp trung bình 54,2 ± 57,3 tháng (nhỏ nhất là 25 ngày tuổi và lớn nhất là 17 tuổi).Tỉ lệ nữ/nam 1,13/1. Ổ tim nhanh nhĩ chủ yếu xuất phát từ vùng nhĩ phải (chiếm 71,9%), trong đó vùng mào nhĩ chiếm tỉ lệ cao nhất (40.6%), tỉ lệ triệt đốt thành công lần đầu là 81,3%, tỉ lệ tái phát sau can thiệp lần đầu là 26,9%, thời gian tái phát cơn có trung vị là 65 ngày. Sau can thiệp hai tháng, các bệnh nhân có giảm chức năng tâm thu thất trái có cải thiện rõ rệt. Không có biến chứng nào trong quá trình tiến hành thủ thuật. Kết luận: Cơn nhịp nhanh nhĩ đơn ổ có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Ổ phát nhịp tim nhanh không xảy ra ngẫu nhiên trong toàn bộ tâm nhĩ mà có sự phân bố tập trung tại các điểm giải phẫu nhất định. Can thiệp điện sinh lý có tầm quan trọng trong điều trị nhịp nhanh nhĩ đơn ổ, giúp cải thiện tốt chức năng tâm thu thất trái, với tỉ lệ thành công cao và nguy cơ biến chứng thấp
60 Đặc điểm lâm sàng và vi sinh ở trẻ em mắc viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng / Lương Thị Liên, Ngô Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Hà, Phạm Văn Dương, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Đình Thành, Trần Duy Mạnh, Nguyễn Thị Diệu Thúy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 185 - 188 .- 610
Viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng là một thách thức đối với bác sỹ lâm sàng. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và vi sinh ở trẻ mắc viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả trên 62 bệnh nhân viêm tai giữa cấp tái diễn hoạc dai dẳng từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025. Kết quả: Trẻ nam mắc viêm tai giữa tái diễn hoặc dai dẳng gặp nhiều hơn trẻ nữ, với tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1 với đa số là trẻ dưới 2 tuổi chiếm 70,9%. Triệu chứng đợt cấp chủ yếu là chảy mũi và ho chiếm lần lượt là 98,4% và 95,2%, triệu chứng sốt chỉ chiếm 54,8%, triệu chứng tại tai ít gặp. Tổn thương thường xuất hiện ở cả 2 bên tai với tỷ lệ 79%, căn nguyên phân lập được chủ yếu là H. influenzae chiếm 53,2%. Kết luận: Viêm tai giữa cấp tái diễn hoặc dai dẳng chủ yếu gặp trong độ tuổi nhũ nhi. Trẻ thường biểu hiện bằng triệu chứng của các tổn thương lân cận như viêm mũi họng cấp, viêm VA, trong khi các triệu chứng tại tai hay toàn thân như sốt lại ít gặp. Căn nguyên chủ yếu phân lập được là H. influenzae.