CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Lâm sàng

  • Duyệt theo:
71 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân ung thư bàng quang nông tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội / Nguyễn Sơn Tùng, Lê Thị Phượng, Võ Quốc Hoàn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 17 - 20 .- 610

Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân ung thư bàng quang nông tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội. Đánh giá kết quả điều trị ung thư bàng quang nông tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 60 bệnh nhân ung thư bàng quang nông được phẫu thuật bằng nội soi cắt u qua niệu đạo từ tháng 1/2018 đến tháng 12/2023 tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội. Kết quả: Tuổi trung bình chung của nhóm đối tượng nghiên cứu là 59,6 ± 11,35; phần lớn đối tượng là nam giới (47/60) chiếm 78,3%; nữ giới chiếm 21,7%. Triệu chứng tiểu máu gặp nhiều nhất 65,0%, 20,0% đau bụng hạ vị, 10% tiểu buốt; 13,2% không có triệu chứng. Bệnh nhân có một u chiếm chủ yếu 58,3%. Bệnh nhân có kích thước u trên 3cm chiếm 26,7%. Vị trí u hay gặp nhất là thành bên bàng quang chiếm 38,3%. Phần lớn đối tượng có độ mô học thấp 75,0%. Chủ yếu ở giai đoạn T1 (85,0%); 11,7% Ta, 3,3% Tis. Sau phẫu thuật: 95,0% bệnh nhân không gặp biến chứng. 80,0% bệnh nhân không tái phát; 20,0% bệnh nhân tái phát sau điều trị. Thời gian tái phát trung bình là 17,25±8,66 tháng. Thời gian sống không u trung bình 33,07 ± 1,13 tháng.

72 Di căn não đơn ổ từ ung thư phổi với biểu hiện giống viêm não : ca lâm sàng và tổng quan tài liệu / Phạm Hữu Khuyên, Vũ Tiến Thế, Trần Quang Lộc, Lê Mỹ Hạnh, Lê Tuấn Vũ, Lê Thanh Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 360 - 362 .- 610

Chẩn đoán phân biệt giữa tổn thương di căn não đơn độc và viêm não đôi khi gặp nhiều khó khăn do biểu hiện hình ảnh không điển hình và triệu chứng lâm sàng mơ hồ. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 42 tuổi, vào viện với triệu chứng đau đầu, chóng mặt, tổn thương não đơn ổ vùng trán trái, không phù não, không ngấm thuốc viền rõ, không tăng sinh mạch hay bất thường trên phổ MRI. Bệnh nhân được điều trị triệu chứng và theo dõi. Sau 3 tháng, tổn thương tiến triển, sinh thiết cho kết quả ung thư biểu mô tuyến di căn từ phổi. Trường hợp này cho thấy cần thận trọng khi đánh giá tổn thương não đơn độc không điển hình, và nhấn mạnh vai trò của tầm soát toàn thân trong các trường hợp nghi ngờ di căn.

73 Hiệu quả đóng ống động mạch bằng thuốc ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận năm 2024 / Lê Huy Thạch, Báo Anh Tiến, Trương Nguyễn Hương Huyền, Lê Thị Hồng Sương, Nguyễn Thanh Tâm // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 342 - 345 .- 610

Tồn tại ống động mạch (PDA) là một trong những dị tật tim bẩm sinh phổ biến nhất, chiếm 5–10% tổng số bệnh tim bẩm sinh ở trẻ đủ tháng. Tỷ lệ mắc PDA tỷ lệ nghịch với tuổi thai và cân nặng, với tỷ lệ mắc bệnh cao hơn rõ rệt ở trẻ sinh non. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đóng ống động mạch sau điều trị paracetamol tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh non tháng và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kết quả đóng ống động mạch. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên trẻ sơ sinh non tháng nhập khoa Hồi sức Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận từ 12/2023 - 9/2024, có chẩn đoán PDA và chỉ định điều trị đóng ống động mạch. Tất cả được điều trị bằng paracetamol truyền tĩnh mạch, siêu âm tim kiểm tra sau 3 ngày kể từ khi bắt đầu điều trị. Kết quả: 25 trẻ sơ sinh non tháng được đưa vào nghiên cứu, bé trai chiếm 64%, tỷ lệ trẻ sinh rất non (<32 tuần) và cực non (<28 tuần) lần lượt là 48% và 12%. Tỷ lệ đóng ống động mạch thành công sau điều trị paracetamol tĩnh mạch đạt 84%. Trong 11 trẻ thở máy trước điều trị, 9 trẻ (81,8%) cai được máy sau điều trị. Phân tích thống kê cho thấy đường kính ống động mạch liên quan có ý nghĩa với kết quả đóng ống động mạch (p < 0,05). Kết luận: Paracetamol tĩnh mạch cho thấy hiệu quả và an toàn trong điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng.

74 Kết quả điều trị nội nha nhóm răng sau hàm trên có sử dụng hệ thống trâm xoay Jizai / Trần Hữu Trung, Nguyễn Thế Hạnh, Trần Thị An Huy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 326 - 330 .- 610

Đánh giá kết quả điều trị nội nha nhóm răng sau hàm trên có sử dụng hệ thống trâm xoay jizai tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 41 răng hàm viêm tủy không hồi phục có chỉ định điều trị nội nha được đưa vào nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trong thời gian từ tháng 1/2025 - tháng 10/2025. Kết quả: Thời gian sửa soạn ống tủy trung bình bằng hệ thống trâm jazai là 45,61±11,19 phút, thời gian sửa soạn ngắn nhất là 25 phút, dài nhất là 65 phút. Thời gian tạo hình ống tủy trung bình đối với nhóm răng hàm lớn là 51,00 ±7,58 phút. Không có tai biến xảy ra trong quá trình sửa soạn ống tủy. Kết quả điều trị thành công có xu hướng dần theo thời gian theo dõi: Kết quả ngay sau hàn là 92,7%, sau 1 tháng là 92,7%, sau 3 tháng là 97,5% và sau 6 tháng là 100%. Kết luận: Tạo hình bằng trâm xoay Jizai an toàn, không xảy ra tai biến và cho kết quả bước đầu thành công với tỷ lệ cao.

75 Nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ trướng / Phạm Thị Linh Chi, Trần Ngọc Ánh, Dương Công Thành, Đậu Quang Liêu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 301 - 305 .- 610

Tỷ lệ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân xơ gan là 25% đến 35%1. Tỷ lệ tử vong khi nhập viện của bệnh nhân xơ gan có nhiễm khuẩn là khoảng 15%, cao gấp 2 lần so với bệnh nhân xơ gan không bị nhiễm khuẩn. Mục tiêu: Khảo sát nồng độ cortisol toàn phần trong huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ ổ bụng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 41 bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch ổ bụng theo phân loại Atlanta 2012 2 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Trung tâm Tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Kết quả: Trung vị nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh lúc 8 giờ sáng: 271,50 μg/dL, ở BN xơ gan cổ trướng có nhiễm khuẩn dịch màng bụng. Trung vị của điểm MELD Na trong nhóm nghiên cứu là 21 điểm. Trung vị giá trị bạch cầu máu ngoại vi và giá trị CRPhs của các bệnh nhân nghiên cứu lần lượt là 6,48 G/L và 9,05 mg/L. Phân tích ROC cho chỉ số cortisol 8h nhằm dự báo nhiễm khuẩn dịch màng bụng cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,27. Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số cortisol không có giá trị chẩn đoán cao trong dự đoán nhiễm trùng dịch ổ bụng ở quần thể nghiên cứu này. Kết luận: Nồng độ Cortisol toàn phần huyết thanh có thể là một chỉ số đánh giá tình trạng suy thượng thận ở bệnh nhân xơ gan nhưng không không có giá trị trong dự báo nhiễm trùng nhiễm dịch ổ bụng ở bệnh nhân xơ gan trong nghiên cứu này.

76 Mô lách lạc chỗ trong phổi : báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn / Phạm Duy Quang, Nguyễn Thị Mỹ Xuân An, Phạm Quang Thông, Lê Ngọc Diệu Thảo, Hoàng Văn Thịnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 140 - 146 .- 610

Bệnh lý lách lạc chỗ là sự cấy ghép mô lách trưởng thành tự thân vào vị trí giải phẫu bất thường, xảy ra sau một chấn thương vỡ lách hoặc phẫu thuật cắt lách. Vị trí thường gặp là trong phúc mạc ổ bụng, quanh giường lách. Tuy nhiên vị trí ngoài phúc mạc ổ bụng cũng được ghi nhận, theo đó vị trí thường gặp nhất là trong lồng ngực, do có tiền sử chấn thương lách và cơ hoành cùng lúc. Vì tỷ lệ xuất hiện thấp, việc chẩn đoán lách lạc chỗ trong lồng ngực là một thách thức, đặc biệt khi tổn thương xuất hiện giống như một bệnh lý ác tính trên hình ảnh học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam, 25 tuổi, nhập viện vì tổn thương ở phổi, theo dõi u phổi, với tiền sử bị tai nạn giao thông và phẫu thuật cắt lách. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy hình ảnh mô lách lành tính lạc chỗ ở vùng màng phổi-phổi.

77 Biểu hiện protein TRK và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng trong ung thư tuyến giáp / Nguyễn Thanh Toàn, Phạm Quốc Thắng, Nguyễn Như Ngọc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- .- 610

Ung thư tuyến giáp đứng hàng thứ 7 trong các bệnh ung thư có tỉ lệ mới mắc cao nhất trên thế giới, đặc biệt phổ biến ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam. Trong số các dấu ấn sinh học phân tử liên quan đến bất thường gen, sự tái hợp nhất NTRK là một yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư tuyến giáp. Tái hợp nhất NTRK là một đích nhắm có giá trị trong việc điều trị ung thư tuyến giáp. Mục tiêu: Đánh giá biểu hiện của protein TRK và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu block nến của 619 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tuyến giáp tại bệnh viện Quân y 175 được phẫu thuật từ tháng 12/2019 đến tháng 7/2024 đã được thu thập, làm TMA tiến hành đánh giá đột biến NTRK bằng phương pháp hóa mô miễn dịch PAN- TRK, các trường hợp dương tính được đánh giá mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân. Kết quả: Trong tổng số 619 bệnh nhân ung thư tuyến giáp có 49 bệnh nhân có biểu hiện TRK ở các vị trí khác nhau chiếm tỉ lệ 7,92%. Biểu hiện protein TRK có liên quan tình trạng di căn hạch, giai đoạn TNM và kích thước nhân của tuyến giáp có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết luận: Đột Biến NTRK có thể được xác định bằng phương pháp hóa mô miễn dịch Pan- TRK, đột biến có ý nghĩa trong lâm sàng đặc biệt các trường hợp di căn hạch.

78 Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh của sarcôm tạo xương với dấu ấn SATB2 / Ngô Quốc Đạt, Diệp Thế Hoà, Lý Thanh Thiện, Dương Thanh Tú, Vũ Tuấn Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 465 - 472 .- 610

Khảo sát mối liên quan giữa biểu hiện SATB2 với đặc điểm tuổi, giới, hình ảnh học Xquang và mô bệnh học của sarcôm tạo xương. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm 115 trường hợp được chẩn đoán sarcôm tạo xương theo bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2020 về u phần mềm và xương tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2022. Kết quả: Dấu ấn SATB2 biểu hiện độc lập với hầu hết các đặc điểm về lâm sàng như tuổi, giới, hình ảnh học cũng như đặc điểm về mô bệnh học như phân nhóm mô học, chất dạng xương, thành phần sụn, phân bào hay hoại tử. Nghiên cứu ghi nhận các trường hợp nguyên bào sợi có biểu hiện SATB2 yếu hơn và đặc điểm chất dạng xương sẽ liên quan với mức độ biểu hiện SATB2 mạnh hơn. Kết luận: Dấu ấn SATB2 thể hiện vai trò trong biệt hoá chất dạng xương và kém biểu hiện hơn ở phân nhóm mô học nguyên bào sợi. Cần thêm các nghiên cứu đánh giá về mức độ biểu hiện SATB2 với ngưỡng cắt phù hợp.

79 Đánh giá biểu hiện của thụ thể androgen trên bệnh ung thư vú bộ ba âm tính bằng phương pháp hóa mô miễn dịch / Vũ Huyền Trang, Trần Long Huy, Âu Nguyệt Diệu, Trương Kim Phượng, Nguyễn Hoài Thu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 404 - 410 .- 610

Ung thư vú bộ ba âm tính cho thấy kết cục xấu hơn so với các phân nhóm ung thư vú khác, chủ yếu là do lựa chọn điều trị còn hạn chế. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã đề xuất sử dụng liệu pháp nhắm đích thụ thể androgen (AR) trên nhóm bệnh nhân này. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá biểu hiện AR của bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính và mối tương quan của nó với các đặc điểm lâm sàng bệnh học sử dụng các điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10%. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 72 bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính đã được đánh giá biểu hiện AR (AR441) bằng phương pháp hóa mô miễn dịch và sắp xếp dãy mô với điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10% bắt màu nhân tế bào bướu. Mối tương quan giữa biểu hiện AR với các đặc điểm lâm sàng bệnh học bao gồm tuổi, kích thước bướu, loại mô học, độ mô học, di căn hạch, xâm nhiễm mạch máu - mạch bạch huyết và tế bào lymphô thâm nhiễm bướu được phân tích. Kết quả: Biểu hiện AR dương tính được quan sát thấy ở 23 (31,9%) và 19 (26,4%) trong số 72 trường hợp với điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10% tương ứng. Mối quan hệ giữa tình trạng AR và độ mô học tại điểm cắt ≥ 1% có ý nghĩa thống kê (p = 0,031), ung thư vú bộ ba âm tính dương tính với AR thường có độ mô học thấp hơn, độ 1-2; nhưng không có tương quan nào được quan sát thấy tại điểm cắt ≥ 10%. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa biểu hiện AR với các đặc điểm lâm sàng bệnh học khác ở cả hai điểm cắt này. Kết luận: Nghiên cứu thí điểm này chứng minh rằng một số lượng lớn bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính biểu hiện AR với cả điểm cắt ≥ 1% và ≥ 10%. Thụ thể AR có thể có vai trò tiềm năng như một chỉ dấu tiên lượng và điều trị trong ung thư vú bộ ba âm tính, với các nghiên cứu sâu hơn cần được tiến hành. Nghiên cứu này có thể có lợi cho các nghiên cứu trong tương lai về liệu pháp nhắm đích thụ thể AR trong ung thư vú bộ ba âm tính.

80 Polyp cholesterol túi mật ung thư hóa - báo cáo ca bệnh hiếm gặp / Đặng Đức Thịnh, Trần Ngọc Minh, Ân Thị Thùy Ngân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 304 - 310 .- 610

Polyp cholesterol được coi là tổn thương dạng polyp của tình trạng dư thừa cholesterol, đặc trưng bởi sự tích tụ các đại thực bào bọt ăn lipid trong mô đệm niêm mạc túi mật. Theo y văn, đây là polyp thường gặp nhất của túi mật, không có tính chất u và là tổn thương lành tính. Trong báo cáo này chúng tôi ghi nhận một trường hợp hiếm gặp ung thư hóa của polyp cholesterol túi mật. Người bệnh nữ, 71 tuổi, tiền sử đái tháo đường điều trị thường xuyên, đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, có biểu hiện đau bụng âm ỉ hạ sườn phải trong nhiều tháng. Siêu âm ổ bụng phát hiện phía đáy túi mật có đám tổ chức đồng âm với nhu mô gan kích thước 26x14 mm cần phân biệt giữa bùn mật hoặc u. Kết quả cộng hưởng từ cho đó là sỏi bùn túi mật. Người bệnh tiếp theo được mổ cắt túi mật nội soi. Trên đại thể, túi mật nhận được có tổn thương polyp dạng súp lơ, chiếm diện tích khoảng 30x20 mm, chỗ dày nhất khoảng 10 mm, màu vàng xám, mật độ mềm. Hình ảnh vi thể tương ứng là một polyp cholesterol giàu đại thực bào bọt kèm phản ứng viêm mạn tính hoạt động. Tuy nhiên, nhiều vùng biểu mô phủ và tuyến của polyp có hình ảnh biến đổi loạn sản độ thấp xen lẫn loạn sản độ cao tương đương ung thư biểu mô tại chỗ. Không thấy hình ảnh xâm nhập. Ngoài ra, niêm mạc túi mật lân cận cũng có phản ứng viêm mạn tính hoạt động kèm rải rác các ổ dị sản ruột, loạn sản độ cao. Chẩn đoán mô bệnh học được đưa ra là polyp cholesterol túi mật có loạn sản biểu mô đường mật độ cao tương đương ung thư biểu mô đường mật tại chỗ.