CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Lâm sàng

  • Duyệt theo:
1 Kết quả điều trị nám má bằng Laser Picosecond YAG 1064 nm tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nộ / Lê Tuyết Minh, Nguyễn Quốc Hưng, Nguyễn Thị Thùy My // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 106 - 110 .- 610

Đánh giá kết quả và tính an toàn của Laser Pico Nd:YAG 1064 nm trong điều trị nám má tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021-2022. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 18 người bệnh nữ ≥ 25 tuổi, chẩn đoán nám má được điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021–2022. Người bệnh được chiếu Laser Pico Nd: YAG 1064 nm trong 6 buổi, mỗi buổi cách nhau 2 tuần. Kết quả điều trị được đánh giá bằng chỉ số MASI, thang Von Luschan, mức độ hài lòng và các tác dụng phụ. Kết quả: Tuổi trung bình người bệnh 42,9 ± 6,3; tất cả là nữ. Thể nám hỗn hợp chiếm 55,6%. MASI trung bình giảm từ 7,20 ± 4,54 trước điều trị xuống 2,90 ± 1,84 sau 6 buổi, mức giảm 59,7%. Sau 6 buổi, 88,9% người bệnh đạt cải thiện “Tốt/rất tốt” theo thang Von Luschan. 100% người bệnh hài lòng, trong đó 55,6% rất hài lòng. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng. Kết luận: Laser Pico Nd:YAG 1064 nm là phương pháp hiệu quả, an toàn trong điều trị nám má, với mức độ hài lòng cao và ít tác dụng phụ.

2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức / Nguyễn Khắc Đông, Dương Trọng Hiền, Nguyễn Hoàng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 38 - 42 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán GIST dạ dày và được phẫu thuật cắt u tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2023. Dữ liệu thu thập hồ sơ từ bệnh án, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Độ tuổi trung bình 56,0 ± 15,2. Tỉ lệ nam/nữ là 1,09/1. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng vùng thượng vị (56,3%), khối u kích thước dao động từ 10 đến 285 mm, chủ yếu là u tế bào hình thoi với 47/48 trường hợp chiếm 97,9%, 22 bệnh nhân (45.8%) được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi, 26 bệnh nhân (54,2%) trường hợp được mổ mở, cắt hình chêm là phương án được áp dụng chủ yếu (81,3%), thời gian mổ trung bình là 116,1±54,7 phút, thời gian hậu phẫu trung bình 7,1±2,1 ngày. Kết luận: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu cho GIST dạ dày. Chẩn đoán cần kết hợp lâm sàng, hình ảnh học và mô bệnh học. Lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào cơ sở y tế và thói quen phẫu thuật viên.

3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ho ra máu được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Đinh Văn Lượng, Trịnh Thị Hằng, Hoàng Thuỷ // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 76 - 80 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ho ra máu được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung Ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, trên 205 người bệnh ≥16 tuổi, được phẫu thuật ho ra máu, tại Bệnh viện Phổi Trung ương, từ tháng 1/2018 đến tháng 12 năm 2023. Kết quả: Tuổi trung bình là 50 tuổi, nam giới chiếm 76%. Có 41% các bệnh nhân có tiền sử ho ra máu trước khi nhập viện, đa số các bệnh nhân có tiền sử bệnh phổi trước đó, trong đó hay gặp nhất là lao phổi, chiếm 55.6%. Thời gian từ lúc ho ra máu đến khi nhập viện trung bình là 15 ngày Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 99 bệnh nhân ho ra máu mức độ nhẹ, chiếm tỷ lệ 48.3%, có 58 bệnh nhân ho ra máu mức độ trung bình, chiếm tỉ lệ 28.3%, có 47 bệnh nhân ho ra máu mức độ nặng, chiếm tỉ lệ 22.9%. Tổn thương mô bệnh gặp nhiều nhất là nấm Aspergillus (chiếm 40.5%), đứng thứ 2 là viêm lao và giãn phế quản, chiếm lần lượt 22,9% và 16.1%. Hình ảnh tổn thương trên cắt lớp vi tính khá đa dạng, 3 tổn thương hay gặp nhất là nốt, đông đặc và u nấm, với tỉ lệ lần lượt là 33.7%, 41.5%, 48.3%. Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 109 bệnh nhân có bất thường mạch, chiếm tỷ lệ 53.2% tổng số bệnh nhân. Tổn thương mạch máu chủ yếu ở hệ động mạch phế quản. Các hình thái tổn thương mạch: giãn cuống, tăng sinh, thân xoắn vặn, giả phình. Tổn thương hay gặp nhất là giãn cuống (84/109 bệnh nhân có tổn thương mạch). Tổn thương dạng xoắn vặn thân mạch máu và giả phình ít gặp hơn. Kết luận: Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 50. Số bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 76.1%. Có 41% số bệnh nhân có tiền sử ho ra máu trước khi nhập viện. Có 55.6 % bệnh nhân có tiền sử bệnh lao phổi trước đó. Thời gian từ lúc ho ra máu đến khi nhập viện trung bình là 15 ngày. Mức độ ho ra máu: nhẹ (99 bệnh nhân, chiếm 48.3%), trung bình (58 bệnh nhân, 28.3 %), nặng (47 bệnh nhân, 22.9%). Tổn thương trên cắt lớp vi tính rất đa dạng, 3 tổn thương hay gặp nhất là nốt đông đặc, hang. Tổn thương mạch hay gặp nhất là giãn cuống.

4 Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân nhồi máu não diện rộng được phẫu thuật mở sọ giảm áp y / Nguyễn Trọng Hiệp, Trần Trung Kiên, Nguyễn Vũ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 80 - 85 .- 610

Nghiên cứu 30 bệnh nhân nhồi máu não diện rộng được phẫu thuật mở sọ giảm áp từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 1 năm 2025 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tuổi trung bình là 59,1 ± 11,2; tỉ lệ nam/nữ là 2,75/1; điểm NIHSS trung bình trước phẫu thuật là 18,4 ± 3,0; toàn bộ bệnh nhân có điểm ASPECTS ≤ 5. Cắt lớp vi tính: 76,7% bệnh nhân có di lệch đường giữa < 10 mm, 23,3% vượt quá 10 mm. Ra viện: 90% bệnh nhân sống, tử vong 10%. 27 bệnh nhân sau 6 tháng: 55,6% đạt kết quả chức năng tốt (mRS 0–3) và 44,4% có kết quả xấu (mRS 4–6). Phẫu thuật mở sọ giảm áp ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng là một phương pháp khả thi, an toàn với tỷ lệ tử vong thấp sau phẫu thuật.

5 Đặc điểm hình ảnh nội soi mũi xoang, CT-scan và MRI của viêm xoang do nấm xâm lấn cấp tính / Lý Xuân Quang, Lê Quang Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 85 - 89 .- 610

Mô tả đặc điểm hình ảnh nội soi mũi xoang, CT-scan và MRI ở bệnh nhân (BN) AIFRS được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 90 BN, chia làm 3 nhóm: 30 BN AIFRS, 30 BN viêm xoang cấp do vi khuẩn và 30 BN ung thư mũi xoang. Các dữ liệu về lâm sàng, nội soi, CT-scan và MRI được thu thập và phân tích. Kết quả: Nhóm AIFRS có tỷ lệ đái tháo đường cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không nấm (non-AIFRS) (63,3% so với 31,7%, p=0,004). Trên nội soi, “hoại tử niêm mạc quan sát trong phẫu thuật” là dấu hiệu đặc trưng (86,2% ở AIFRS so với <24% ở các nhóm khác). Trên CT-scan, các dấu hiệu thường gặp là “thâm nhiễm mỡ quanh xoang hàm” (63,3%) và “hủy xương xoang bướm” (46,7%), ngoài ra “phì đại cơ vận nhãn” là một dấu hiệu nổi bật (43,3% ở AIFRS so với 0% ở nhóm vi khuẩn). MRI cho thấy các dấu hiệu xâm lấn mạch máu là đặc trưng nhất, nổi bật là “thuyên tắc động mạch bướm khẩu cái” (79,3% so với <8%), “huyết khối xoang hang” (26,7% so với <4%) và “hẹp/tắc động mạch cảnh trong” (30,0% so với 0%) ở các nhóm còn lại. Kết luận: AIFRS có những đặc điểm hình ảnh học đặc trưng trên cả ba phương tiện. Nội soi phát hiện hoại tử niêm mạc; CT-scan nhạy với hủy xương và xâm lấn mô mềm ngoài xoang; MRI vượt trội trong việc xác định các biến chứng mạch máu. Việc nhận diện sớm các dấu hiệu này có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng chẩn đoán và điều trị.

6 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 / Phạm Thị Cẩm Hưng, Lê Văn Thêm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 353 - 356 .- 610

Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phương pháp: Mô tả cắt ngang Kết quả nghiên cứu: Đa số người bệnh có độ tuổi từ 40-59 (39,8%), Giới tính nam (65,7%), nguyên nhân gây bệnh là bệnh cầu thận; Tất cả bệnh nhân có nồng độ Ure, Creatinin tăng, nồng độ trung bình lần lượt là: 27.951.12, 860.529.8; Đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm tăng với nồng độ acid uric (82,41%) và nồng độ PTH (79,63%); Đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm bình thường với nồng độ Fe (62,03%), Ferintine (50%), Na+ (97,22%), K+ (9074%), Phospho (51,85); Đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm giảm với nồng độ Calci (69.45%); Đa số bệnh nhân có protein niệu (82.35%), albumin niệu chiếm (57.65%), hồng cầu niệu (55.29%) và không có bạch cầu niệu (75,29%). Kết luận: Bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối thường có tình trạng tăng nồng độ ure, creatinin, acid uric và hormone tuyến cận giáp (PTH), giảm nồng độ calci máu, đồng thời có tỷ lệ cao xuất hiện protein niệu, albumin niệu và hồng cầu niệu.

7 Kết quả điều trị đau sau zona tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội bằng tiêm Botulinum toxin A tại chỗ / Nguyễn Thị Lan, Đàm Thị Thúy Hồng, Nguyễn Văn An, Vũ Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 6 - 10 .- 610

Đánh giá kết quả điều trị đau sau zona tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 04/2025 đến tháng 09/2025 bằng tiêm Botulinum toxin A tại chỗ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, không đối chứng trên 30 người bệnh được chẩn đoán đau sau zona đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 04/2025 đến tháng 09/2025 bằng tiêm Botulinum toxin A. Kết quả điều trị được đánh giá bằng mức độ cải thiện thang điểm VAS (visual analog scale) và sự hài lòng của người bệnh tại các thời điểm 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng sau điều trị. Kết quả: So với trước điều trị, điểm VAS giảm ở tất cả các thời điểm 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng sau điều trị. Điểm VAS giảm nhanh nhất ở 2 tuần đầu sau đó giảm từ từ hơn ở các mốc thời gian tiếp theo. Sau 2 tuần, có tới 50% người bệnh đạt kết quả giảm VAS ≥ 50%, và có 3,3% người bệnh hết đau (VAS = 0). Sau 3 tháng, 100% người bệnh giảm VAS ≥ 50% và có 60% người bệnh hết đau. Tác dụng phụ chủ yếu là tại chỗ, không có tác dụng phụ toàn thân. Tại chỗ, tất cả người bệnh đều gặp đau tại chỗ với 66,37% đau ở mức độ nhẹ. Có 4/6 người bệnh có tổn thương vùng đầu mặt cổ (chiếm 13,3%) gặp tác dụng phụ mất đối xứng 2 bên. Tác dụng phụ này không ảnh hưởng chức năng, ảnh hưởng thẩm mỹ là chủ yếu. Kết luận: Tiêm Botulinum toxin A tại chỗ có kết quả cao và an toàn trong điều trị đau sau zona.

8 Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh vảy nến thông thường đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2024 / Vũ Xuân Hương, Nguyễn Thị Ngọc Yến, Lê Đức Minh, Trương Thị Minh Hậu, Nguyễn Thị Liên Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 28 - 31 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh vảy nến thông thường từ 18 tuổi trở lên đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 158 người bệnh được chẩn đoán xác định bệnh vảy nến thông thường theo tiêu chuẩn lâm sàng điển hình và/hoặc tiêu chuẩn mô bệnh học tại bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 5/2024 đến tháng 10/2024. Kết quả: Trong 158 người bệnh tham gia nghiên cứu, phần lớn tập trung ở độ tuổi 20-60 với tuổi khởi phát chủ yếu trước 40 tuổi chiếm 72,8%. Thời gian bị bệnh trung bình là 4,9 ± 3,8 năm. Tỷ lệ mắc bệnh từ 5- 10 năm chiếm 37,3%, dưới 5 năm là 28,5%. Có 3,8% người bệnh có tiền sử gia đình mắc bệnh vảy nến. Vảy nến thể mảng chủ yếu là mức độ trung bình (47,5%). Tổn thương da phân bố nhiều vị trí, tập trung chủ yếu ở thân mình chiếm tỷ lệ cao nhất 91,8% và đầu 85,4%. Điểm chất lượng cuộc sống (DLQI) của người bệnh chủ yếu từ 6-10 chiếm tỷ lệ cao nhất 36,1%. Người bệnh vảy nến có rối loạn chuyển hóa lipid chiếm tỷ lệ 32,3 %, tăng huyết áp 20,3%. Kết luận: Người bệnh vảy nến thông thường chủ yếu mức độ trung bình, khởi phát trước 40 tuổi, thời gian mắc bệnh trung bình khoảng 5 năm. Tổn thương thường khởi phát ở da đầu và phân bố rộng rãi tại thân mình. Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh chủ yếu từ 6-10 chiếm tỷ lệ cao nhất 36,1%. Tỷ lệ người bệnh vảy nến có kèm theo rối loạn chuyển hóa lipid và tăng huyết áp khá cao.

9 Đặc điểm lâm sàng của sẹo lõm do trứng cá tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội và yếu tố liên quan / Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam) // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 61 - 65 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng của sẹo lõm do trứng cá tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2021- 2022 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 79 người bệnh có sẹo lõm do trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 7/2021 đến tháng 7/2022. Kết quả: Tuổi trung bình là 24,2 ± 5,4, chủ yếu là nữ (59,8%). Thời gian bị sẹo lõm là 3,2 ± 2,3 năm. Loại sẹo hay gặp nhất là sẹo đáy phẳng (59,8%), má là vị trị hay gặp nhất (34,5%). Về mức độ sẹo lõm, sẹo độ 4 chiếm tỉ lệ cao nhất (65,5%). Trứng cá bọc và thời gian diễn biến trên 2 năm có liên quan đến mức độ nặng của sẹo lõm. Tất cả người bệnh cảm thấy bị ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và giao tiếp xã hội. Kết luận: Người bệnh sẹo lõm do trứng cá chủ yếu là nữ trẻ tuổi, sẹo tồn tại nhiều năm, sẹo đáy phẳng. Đa số người bệnh có sẹo có mức độ 4. Trứng cá bọc và thời gian diễn biến trứng cá dài có liên quan đến mức độ nặng của sẹo.

10 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan / Lê Thị Chi Phương, Vũ Xuân Hương, Phạm Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Liên Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 74 - 78 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo hoặc âm đạo được làm xét nghiệm tìm 12 tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 5/2025 – 10/2025. Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo, trong đó 54 trường hợp (43,2%) dương tính với ít nhất một tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhóm tuổi 20–29 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,4%), nam giới nhiều hơn nữ giới (47,3% so với 44,1%). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy dịch tiết nhiều (OR = 3,14; KTC 95%: 1,06–6,54), dịch đục (OR = 5,56; KTC 95%: 1,73–17,90), có triệu chứng cơ năng (OR = 2,27; KTC 95%: 1,58–8,25) và có dấu hiệu viêm trên lâm sàng (OR = 3,41; KTC 95%: 1,27– 7,35) đều liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả dương tính. Ngược lại, tiền sử sử dụng kháng sinh làm giảm tỷ lệ phát hiện tác nhân (OR = 0,30; KTC 95%: 0,06–0,87). Kết luận: Các đặc điểm lâm sàng, đặc biệt tính chất dịch tiết và dấu hiệu viêm, có giá trị trong dự báo khả năng dương tính với BLTQĐTD ở người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo. Việc sử dụng kháng sinh trước đó làm giảm khả năng phát hiện các tác nhân.