CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ngôn ngữ học
1 Về cách tiếp nhận quan hệ ngữ nghĩa ở bậc từ / Phạm Văn Lam // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 15-26 .- 400
Ngôn ngữ vốn là một hệ thống. Từ vựng - ngữ nghĩa cũng là một hệ thống. Hệ thống được đặc trưng bởi hay được cấu thành nên từ các phần tử và quan hệ. Nội dung của bài viết tập trung vào: (1) cách tiếp cận ngoài ngôn ngữ học, (2) cách tiếp cận liên ngành với ngôn ngữ học, và (3) cách tiếp cận ngôn ngữ học.
2 Tiếp cận liên ngành trong ngôn ngữ học / Nguyễn Văn Khang // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 5-16 .- 400
Ngôn ngữ là của riêng loài người, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người. Theo đó, ngôn ngữ tham gia vào mọi hoạt động của đời sống con người. Vì thế, ngôn ngữ không chỉ là mối quan tâm của ngôn ngữ học mà là mối quan tâm của mọi ngành khoa học, từ khoa học xã hội, khoa học nhân văn đến khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Ngôn ngữ gắn liền với đời sống của mỗi dân tộc, quốc gia, vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ ở các quốc gia không thể như nhau bởi chúng chịu tác động của các nhân tố như: tình hình chính trị-xã hội của mỗi quốc gia, tình hình ngôn ngữ của mỗi quốc gia, văn hóa và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia, khoa học và truyền thống khoa học của mỗi quốc gia, v.v. Đây là lí do của việc tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu ngôn ngữ.
3 Lược đồ văn hóa che chở trong lời trừ ma dân gian Thái : một tiếp cận ngôn ngữ học văn hóa / Phạm Thị Hương Quỳnh // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 128-119 .- 400
Nghiên cứu này vận dụng khung lí thuyết Ngôn ngữ học văn hóa để khảo sát lược đồ văn hóa che chở trong nhóm văn bản trừ ma của người Thái được ghi chép trong Lời thần chú, bùachài trong dân gian, sách cổ Thái (Hoàng Trần Nghịch & Cà Chung, 2016). Trên cơ sở phương pháp miêu tả kết hợp với thống kê định lượng, nghiên cứu tiến hành nhận diện và phân tích các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến hoạt động trừ ma trong lời rắc vừng, vãi gạo, chăng chỉ và giắt lá. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và nhận thức, đồng thời cung cấp thêm những cứ liệu về thế giới quan và tri thức văn hóa của người Thái được lưu giữ trong diễn ngôn nghi lễ dân gian.
4 Quá trình quan hệ trong diễn ngôn đánh giá nhà hàng tiếng Anh và tiếng Việt: Nghiên cứu đối chiếu theo đường hướng ngôn ngữ học chức năng hệ thống / Lê Hoài Thu // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 57-67 .- 420
Nghiên cứu tiến hành đối chiếu quá trình Quan hệ trong diễn ngôn đánh giá nhà hàng giữa tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Phân tích định lượng và định tính với 2.642 cú tiếng Anh và 2.108 cú tiếng Việt trên trang đánh giá nhà hàng TripAdvisor của Việt Nam và Mỹ cho thấy quá trình Quan hệ chiếm tỉ lệ lớn ở cả hai ngôn ngữ,
5 Một số vấn đề cơ bản của phân tích diễn ngôn với sự trợ giúp của khối liệu / Phan Thanh Bảo Trân, Nguyễn Thị Diệp Như, Bùi Thanh Tường Thụy // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 51-60 .- 400
Bài báo này khảo sát phân tích diễn ngôn từ một góc nhìn liên ngành, tập trung vào sự giao thoa giữa phân tích diễn ngôn và ngôn ngữ học ngữ liệu. Nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò tương ứng của ngôn ngữ học ngữ liệu và phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành. Nghiên cứu về ngôn ngữ trong sử dụng cần được đặt trên nền tảng lý thuyết của ngôn ngữ học và phân tích diễn ngôn. Bài báo này cung cấp một cái nhìn tổng quan mang tính nhập môn về chủ đề, hơn là một phân tích chuyên sâu, và hướng tới việc đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo mang tính toàn diện hơn.
6 Ẩn dụ thức thể hiện nghĩa phủ định trong hội thoại tiếng Việt / Đặng Đức Anh // .- 2025 .- Số 9 .- .- 400
Nghiên cứu đề xuất 05 mô hình cấu trúc ẩn dụ thức điển hình, trong đó các mệnh đề phủ định trực tiếp được chuyển sang các hình thức thức nghi vấn nhằm điều chỉnh nghĩa liên nhân phù hợp với quy ước lịch sự tiếng Việt. Kết quả góp phần ủng hộ khả năng ứng dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống nói chung và lí thuyết về ẩn dụ ngữ pháp nói riêng ra ngoài phạm vi tiếng Anh, đồng thời có thể cung cấp nguồn tư liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.
7 Đối chiếu một số từ Hán Việt và từ tương ứng trong tiếng Trung hiện đại về ngữ nghĩa và sử dụng / Nguyễn Thị Phương Thùy // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 128-134 .- 400
Bài viết này tập trung đối chiếu, phân tích sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa (trường nghĩa, sắc thái nghĩa, nghĩa biểu vật) và cách sử dụng (phong cách ngôn ngữ, tổ hợp từ cố định, chức năng ngữ dụng) giữa các cặp từ HV và từ TTHĐ tương ứng. Bằng phương pháp phân tích đối chiếu, nghiên cứu trường hợp điển hình, kết hợp khảo sát giảng viên và sinh viên, bài viết chỉ ra các dạng dịch chuyển ngữ nghĩa phổ biến (thu hẹp, mở rộng, chuyển nghĩa hoàn toàn), sự khác biệt về sắc thái biểu cảm, phạm vi kết hợp và ngữ cảnh sử dụng.
8 Phân tích cấu trúc bài phê bình sách chuyên ngành ngôn ngữ học viết bằng tiếng Anh / Nguyễn Bích Hồng // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 32-41 .- 400
Nghiên cứu hướng tới xây dựng mô hình cấu trúc bài phê bình sách Ngôn ngữ học để làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà Ngôn ngữ học ở Việt Nam và đóng góp vào kho tàng lí luận về phân tích thể loại trong và ngoài nước.
9 Về các địa danh có yếu tố “quèn” ở Việt Nam / Trần Thị Hồng Hạnh // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 9-17 .- 400
Bài viết này tập trung vào các địa danh có yếu tố Quèn ở Việt Nam và tiếp cận chúng từ góc độ liên ngành. Các tài liệu ngôn ngữ học cũng như các tài liệu sử học, khảo cổ học, địa lý học đã thu thập được cho thấy việc giải thích ý nghĩa và xác định nguồn gốc của địa danh Quèn khá phức tạp. Bài viết cũng gợi ý về hướng tiếp cận địa danh này theo hướng tiếp xúc ngôn ngữ và đây sẽ là hướng nghiên cứu cần được tiếp tục để có thể đưa ra được giả thiết về nguồn gốc của địa danh này.
10 Động từ liên kết trong tiếng Anh và các đơn vị tương đương trong tiếng Việt: Tiếp cận từ ngôn ngữ học đối chiếu / Lương Bá Phương // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 66-72 .- 400
Bài báo này trình bày nghiên cứu đối chiếu động từ liên kết trong tiếng Anh và các biểu thức tương đương trong tiếng Việt trên ba phương diện chính: cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Dựa trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu và ngữ pháp chức năng, nghiên cứu xác lập khung phân tích liên hệ giữa các động từ liên kết tiếng Anh như be, become, seem,vv và các biểu thức tương ứng trong tiếng Việt như là, trở thành, có vẻ, trông, dường như,vv. Kết quả phân tích cho thấy rằng mặc dù khác biệt về hình thức ngữ pháp-tiếng Anh thiên về cấu trúc cú pháp cố định, trong khi tiếng Việt linh hoạt và phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh-cả hai ngôn ngữ đều có các phương tiện diễn đạt tương đồng về chức năng: định danh, mô tả đặc điểm, biểu thị cảm xúc và thay đổi trạng thái. Ngoài ra, bài báo cũng xây dựng bảng phân loại đối chiếu giữa các nhóm động từ liên kết và biểu thức tiếng Việt theo chức năng và mức độ tương đương. Bài viết góp phần làm rõ bản chất của cấu trúc liên kết trong hai ngôn ngữ, từ đó cung cấp cơ sở thực tiễn cho giảng dạy ngữ pháp, biên - phiên dịch, và phát triển tài liệu giáo dục ngôn ngữ có tính liên hệ đối chiếu.





